0059.051 - @ nhani78 (Done WK)

1/12/15
0059.051 - @ nhani78 (Done WK)
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:
    bốn trăm tù tội chết mà còn tha cả, huống chi một mình Chí Xung. Vả lại a phụ đại thần, thói ấy không thể để lớn dần được. Khi xưa lại dân nhà Hán dâng thư ca tụng công đức của Vương Mãng đến hơn 40 vạn mà nhà Hán vì đó mà suy, đấy đủ làm điều răn rõ ràng. Tội Công Quang không thể tha được”. Bèn y theo lời bàn của các quan.
    Quan Bắc Thành tâu rằng : Kho tàng ở Hưng Hoá chi tiêu không đủ, xin trích tô thuế ở huyện Thanh Ba trấn Sơn Tây đem nộp ở Hưng Hoá. Vua y cho.
    Phó đô thống chế Trung dinh quân Thần sách là Nguyễn Văn Soạn chết. Soạn có công ở buổi đầu trung hưng, vua nghĩ thương, cho thêm 2 cây gấm Tống và 500 quan tiền.
    Thổ phỉ ở Lâm Thao trấn Sơn Tây tụ họp bè đảng hơn 600 người, cướp xã Tiên Cương (thuộc huyện Sơn Vi) ; Quản phủ là Chu Văn Tĩnh đem quân của phủ đi đánh dẹp, bắt và chém được vài mươi người, giặc tan vỡ. Việc tâu lên. Vua khen, thưởng cho Tĩnh một thứ quân công kỷ lục ; biền binh thì hậu cấp cho bạc lạng. Còn nhà cửa của dân bị giặc đốt phá thì mỗi hộ cấp cho tiền 2 quan thóc 1 hộc.
    Sửa miếu Hội đồng.
    Sửa đền Thai Dương.
    Dẹp xong ác man ở Bình Hoà.
    Trước đây bọn Nguyễn Văn Quế và Trương Văn Chính đã rút binh về, giặc Lão ở Ỷ Tuân là Ma Kiền và Ma Bi lại tụ họp dân chúng, chặt cây chặn đường để ngăn trở các Man quy thuận. Vừa dụ tới, Quế sợ hãi, bèn đem binh tiến lên, đến chỗ cầu thứ hai, bọn giặc nấp bắn ra, Quế tung quân giáp đánh, giặc tan vỡ. Chính ở Thạch Thành bắt được mưu chủ của giặc Lão là Phó Đâu (Đâu trước đến man Đồng Hương đặt lời yêu quái để lừa dân chúng và xui làm phản ; tên giặc ra thú là Ma Học tố cáo với Chính, nên bắt được), rồi đem quân cùng hội với Quế. Bèn chia đóng quân sáu nơi, bày cách dụ dỗ. Rồi bắt được Ma Kiền, Ma Bi cùng bọn đã hàng lại phản là Ma Quan, Ma Hấp cùng dân Man hơn 170 người, voi, ngựa hơn 50 con. Bọn Quế đem Ma Quan và Ma Hấp chém trước cho mọi người biết. Sớ tâu vào. Vua rất hài lòng dụ rằng : “Giặc Lão các sách duy có Ma Trập còn lọt lưới, cũng chẳng qua là một tên tù trưởng ngoan ngạnh, ngoài mặt thuận trong bụng phản, đứng bên xui giục mà thôi, không đủ để làm khó nhọc quân ta. Vậy đều rút binh về trấn. Mưu chủ là Phó Đâu và bọn yếu phạm là Ma Kiền, Ma Bi thì đem tới địa phương mà xử lăng trì, rồi treo đầu lên sào cao mà bêu để cho người Man Lão trông thấy mà sợ ; bọn thứ phạm thì chém ; còn những người bị bắt hiếp phải theo đều tha cả. Các biền binh đi trận đều thưởng tiền lương, người chết thì cấp cho tiền tuất gấp đôi”.
    Nguyễn Văn Quế tâu xin đem sáp ong bắt được của người Man, nộp vào nhà nước.
    Vua dụ rằng : “Triều đình dấy quân vốn để đánh kẻ phản, giết kẻ nghịch, không phải nhắm lợi ở đất đai, lấy của nhân dân, huống là vật nhỏ nhặt ấy !”. Sai trả lại cả.
    Vua lại bảo bộ Binh : “Bọn Quế vâng mệnh đi đánh dẹp, dẫu xếp đặt trái phương, công không đủ trừ với lỗi, nhưng dùng binh ở nơi rừng rậm, không ví như nơi đồng bằng dễ làm được việc. Nay kẻ có tội đã bắt được, cũng nên lượng ban ơn cho”. Bèn cho Quế làm Chưởng cơ, vẫn lĩnh Trấn thủ, và thưởng cho thêm một cấp quân công.
    Rút biền binh vệ Long thao đóng giữ Bình Định về Kinh.
    Tiết Vạn thọ. Dụ cho hai bộ Lại, Binh hội làm danh sách quan chức văn võ trong ngoài vì việc công bị giáng từ năm Minh Mệnh thứ 6 trở về trước, cho khai phục một cấp, phạt bổng thì đều được miễn.
    Thưởng cho Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt một cái chén ngọc liệu ngũ sắc tráng vàng và bịt vàng của Nội tạo, một cái quả hộp mạ vàng bắt chỉ bạc, một cái đĩa hình vuông dài mài khuyết góc bằng thuỷ tinh, một cái chén pha lê có nắp, 8 cái bát đĩa bằng sứ vẽ hoa của Tây dương.
    Chuẩn cho Suất thập thực thụ ở các vệ Thị nội được chiếu phẩm chi lương (Dinh Thần cơ 3 vệ, Trung Tiền Hậu, dinh Tiền phong, dinh Long võ, dinh Hổ oai mỗi dinh 5 vệ, 3 vệ Nội hầu, Kỳ võ, Thành võ cộng 21 vệ).
    Miễn 5 phần 10 tiền thuế cho ruộng bị hạn của trại Quảng Lăng (thuộc huyện Diên Phước) dinh Quảng Nam. Ruộng ấy có lệ nộp thay bằng tiền, không được báo sai, dinh thần tâu lẫn với ruộng khác, bị bộ Hộ trích ra. Vua cho là gặp tiết mừng Vạn thọ, đặc biệt gia ơn tha giảm cho mà phạt bổng dinh thần.
    Sai thự Trung quân Tống Phước Long kiêm quản ty Thương bạc, Vệ uý lĩnh Viện sứ viện Thượng trà là Nguyễn Văn Lộc kiêm quản đội Việt tường.
    Thuộc man ba động ở Lạc Hoàn sai sứ đến cống.
    Thi Điện. Sai thự Tiền quân Trần Văn Năng sung chức Giám thí đại thần, Thượng thư Lại bộ là Trần Lợi Trinh, Tham tri Lại bộ là Hoàng Kim Hoán, Tham tri Lễ bộ là Phan Huy Thực, Thông chánh sứ biện lý Lại bộ là Lê Đăng Doanh sung đọc quyển quan, Thiêm sự Lễ bộ là Hà Quyền, Tư nghiệp Quốc tử giám là Phan Bá Đạt sung thụ quyển kiêm duyệt quyển quan.
    Cho Hoàng Tế Mỹ và Nguyễn Huy Hựu đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, Phan Thanh Giản, Chu Văn Nghị, Vũ Phan, Tô Trân, Nguỵ Khắc Tuần, Đặng Văn Khải, Vũ Đức Mẫn, Nguyễn Văn Thắng đều đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân.
    Chuẩn định từ nay ngày truyền lô((1) Truyền lô : gọi loa xướng danh.1) thi Điện về việc tâu xin treo bảng thì quan truyền chế lĩnh chỉ tuyên đọc xong, bộ thần lại tâu, lễ xong, đợi xa giá về cung mới cho viên hộ bảng theo con đường giữa sân đệ ra treo lên. Ghi làm lệnh.
    Sai quan trường thi Hội là bọn Nguyễn Xuân Thục lựa chọn 10 người Hương cống các khoa đưa lên bộ để dẫn yết kiến, cho sung chức Hành tẩu Văn thư phòng.
    Thưởng các quan hưu trí thọ 80 tuổi (Thừa Thiên 2 người, Quảng Bình 1 người, Quảng Ngãi 3 người, Phú Yên 1 người). Lưu thủ Quảng Bình là Nguyễn Văn Toản được thưởng 30 lạng bạc, đoạn may ngoài và lót mỗi thứ 2 tấm, còn Cai cơ, Cai đội trở xuống thì thưởng bạc và quần áo theo thứ bậc.
    Nêu thưởng dân thọ 100 tuổi ở các địa phương. (Thừa Thiên 1 người đàn ông, 2 người đàn bà ; Quảng Nam 1 đàn ông, 7 đàn bà ; Thanh Hoa 1 đàn ông, 3 đàn bà ; Ninh Bình 4 đàn ông, 2 đàn bà ; Nghệ An 2 đàn ông, 1 đàn bà ; ở Bắc Thành thì Sơn Tây đàn ông, đàn bà đều 1 người, Hải Dương 2 đàn bà ; ở Gia Định thì Vĩnh Thanh 1 đàn ông, 3 đàn bà). Chuẩn lời bàn định của bộ Lễ từ nay hễ có dân thọ 100 tuổi sau khi có chỉ nêu thưởng đưa tới mà bị chết, thì sở tại theo lệ chiếu cấp bạc lụa, còn biển ngạch thì thôi ; nếu chết trước khi có chỉ, thì đem việc tâu rõ, không được nhất khái cấp cho.

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHI KỶ - QUYỂN XXXIX

    THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ

    Bính tuất, năm Minh Mệnh thứ 7 [1826], mùa hạ, tháng 5. Vua sai các quan xây đắp ba sở cầu đá Thuỷ Quan, Vĩnh Lợi (ở phố dài chính nam), Hoằng Tế (ở đầu quách), và hai bờ nam bắc sông Ngự Hà (từ cầu Khánh Ninh đến bờ sông Hộ Thành, dài hơn 580 trượng).
    Vua bàn muốn đi tuần Quảng Nam, gặp mùa hạ nắng quá lại thôi.
    Lấy Thượng thư Hình bộ là Nguyễn Khoa Minh làm Thượng thư Binh bộ, Tham tri Hộ bộ là Lương Tiến Tường làm thự Thượng thư Hộ bộ, Tham tri Hình bộ là Hoàng Kim Xán làm thự Thượng thư Hình bộ, Cai bạ biện lý Công bộ là Trần Đình Trừng làm Cai bạ Phú Yên, Thiêm sự hiệp lý dinh vụ Quảng Trị là Lê Vạn Công làm Hiệp lý dinh vụ Quảng Ngãi, Phủ thừa Thừa Thiên là Đặng Văn Nguyên làm Thiêm sự Lại bộ, Hồng lô Tự khanh là Phan Huy Chú làm Phủ thừa Thừa Thiên, Hàn lâm viện Thị độc học sĩ là Nguyễn Trọng Vũ làm Thiêm sự Công bộ.
    Đổi bổ Lưu thủ Quảng Bình là Lê Văn Hiếu làm Vệ uý vệ Tiền nhất quân Thị trung ; lấy Vệ uý Hồ Văn Trương làm Chưởng cơ lĩnh Lưu thủ Quảng Bình. Hiếu chất phác thô lỗ, không có học, từ khi ra trấn tới nay, công việc phần nhiều cố gắng vất vả. Vua nghĩ Hiếu sung túc vệ lâu ngày, còn có thể theo xe đi hầu, bèn rút về, đổi bổ chức ấy mà cho Trương thay.
    Lấy Vệ uý vệ Thị tượng nhất là Đào Công Cúc làm Vệ uý Thị nội, chuyên quản các tượng cơ Dũng tượng tiền, tả, hữu.
    Dựng Lương tạ [nhà nghỉ mát]. Vua thấy nhà nghỉ mát mỗi năm một lần dựng, đến thu lại dỡ đi, chuẩn định hằng năm cấp cho tiền tu bổ 100 quan, phên rào bốn mặt cũng tính trượng cấp tiền (mỗi trượng cấp 1 quan 5 tiền). Ghi làm lệnh.
    Sai thêm người giám tu làm tôn phả. Lấy Tham tri Lại bộ Hoàng Kim Hoán sung Hiệp tổng tài, Hàn lâm viện Thị độc Thân Văn Quyền sung Toản tu. Trước đây sai quan soạn ngọc điệp và tôn phả, ngọc điệp đã làm xong trước, duy phả hệ nhiều lắm, biên chép chưa xong, lại thiếu viên Tổng tài và Toản tu. Phó tổng tài Tôn Thất Bỉnh xin phái thêm nên có mệnh lệnh này. Bọn Bỉnh nghĩ đề thỉnh các điều hợp thành tâu lên.
    Vua sai đình thần duyệt lại. Chuẩn định phàm thế thứ các họ, con dòng đích thì gọi đích trưởng tử và đích thứ tử, con dòng thứ thì gọi thứ trưởng tử và thứ tử ; anh em gọi nhau thì lấy tuổi lớn bé làm thứ bậc. (Nếu con thứ mà lớn tuổi, thì gọi là thứ huynh, ngoài ra cứ lệ mà suy). Đến như nối giữ việc thờ tự thì lấy ngành đích làm chủ để trọng tôn thống. Chữ tên trong bằng, trong sổ nếu có sai lầm thì chữa lại. Tôn phả định 3 năm một lần biên, bắt đầu từ năm nay. Lại sai đúc ấn triện cấp cho Tôn Nhân phủ. Khi Tôn Nhân phủ làm xong thì một bản chính cất ở tầng dưới rương vàng ngọc điệp điện Trung Hoà, còn hai bản phó thì một bản để ở Quốc sử quán, một bản để ở Tôn Nhân phủ. Thưởng cho Phó tổng tài và Hiệp tổng tài cho mỗi người 3 tấm sa 20 lạng bạc, cho Toản tu 2 tấm sa 10 lạng bạc, các viên đằng lục đều 10 lạng bạc.
    Dòng dõi Khai quốc công thần Thiếu uý Tôn Thất Hiệp là ấm thụ Đội trưởng Tôn Thất Lộc trước đây vì giả mạo sổ, bị cách chức, vua bảo bộ Lễ rằng : “Tôn Thất Hiệp giúp triều trước, công lao rõ rệt, Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta nhớ người cũ có công, cho liệt vào hàng công thần bậc trên, tòng tự ở miếu đình, lại cấp cho ruộng thờ, cho dòng dõi tập ấm. Nay Lộc có tội, há lại không có người chủ trị ! Vậy cho Lộc tuy bị cách vẫn được giám thủ như trước, đợi sau khi Lộc chết sẽ lựa chọn người khác cho tập ấm”.
    Bọn Thiêm sự Nội vụ phủ Lê Bá Tú và Lang trung Nguyễn Hữu Thu, Nguyễn Văn Biển trễ nải chức vụ, nhiều việc sai sót. Vua gọi mắng rằng : “Trẫm nghe triều chính xong, phàm chương sớ trong ngoài thường ở dưới đèn, miệng đọc tay viết, hoặc đến trống canh 2, canh 3 mới đi nằm. Người xưa có câu rằng “Vua nhàn rỗi mà tôi khó nhọc” là thế nào ? Nay trẫm khó nhọc như thế, mà bọn ngươi nhàn rỗi như thế kia à ? Bọn ngươi là bầy tôi cũ ở Tiềm để, ngày nay áo ấm cơm no, vợ con sung sướng, đều là ơn vua lộc nước, sao không nghĩ báo đáp lại một chút mà cứ lười biếng như thế, thực là phụ ơn trẫm nhiều lắm. Phàm phụ ơn trẫm thì mắc tội nặng là lẽ tất nhiên, không phải là trẫm đối đãi nghiêm khắc với tôi tớ cũ đâu. Bọn ngươi lương tâm chưa mất hết, nên sớm xét lỗi, sao lại để phải nhắc nhở lắm thế ?”. Bèn sai vệ Cẩm y đóng gông nặng trong 10 ngày ở cửa Nội vụ phủ, và cắt bổng một năm.
    Nước Chân Lạp sai sứ đến chầu. Sứ đến Gia Định, vua dụ cho miễn tới Kinh, sai phát bạc lụa thưởng cấp cho vua Phiên và sứ giả rồi bảo về. Gặp khi Gia Định đóng thuyền, vua Phiên cho quân dân trong nước lấy giúp gỗ. Vua khen là kính thuận, ban sắc thư khen ngợi và thưởng cho rất hậu.
    Quan Bắc Thành tâu rằng bạc đĩnh có sáu hạng là để dùng cho tiện, mang cho nhẹ ; nhưng từ 1 đồng cân đến 5 đồng cân, dân gian ít người muốn đúc. Xin cho từ nay nhân dân mang bạc đến cục Bảo tuyền để đúc, thì đại ước cứ mỗi suất 500 lạng thì 350 lạng cho đúc đĩnh 10 lạng, 100 lạng cho đúc đĩnh 1 lạng và 50 lạng cho đúc đĩnh từ 1 đồng cân đến 5 đồng cân.
    Vua y lời tâu, rồi lại nghĩ số bạc hàng trăm thì người tài sản bậc trung không thể đủ được, lại hạ lệnh rằng dân có muốn đúc thì cho được tuỳ tiện, không phải viện lệ bắt theo.
    Đóng 11 chiếc thuyền lớn bọc đồng năm cột buồm. Thưởng cho giám tu là thự Thống chế Nguyễn Tài Năng và từ Suất đội chuyên biện trở lên được gia cấp kỷ lục và sa đoạn ; lính và thợ thì thưởng tiền 1.000 quan.
    Tham tri Hình bộ sung Hoàng tử giáo đạo là Ngô Đình Giới tuổi già xin về hưu. Vua y cho.
    Chế cấp ấn quan phòng bằng ngà cho chức Biện lý năm bộ Lại, Hộ, Lễ, Hình, Công.
    Đổi định lệ xử phân lính trốn ở các quân dinh. Bộ Binh tâu dâng danh sách lính trốn từ năm Minh Mệnh thứ 6 [1825], các quân dinh vệ cơ đội có hơn 1.390 người trốn, các quản suất đáng bị xử phân theo lệ là hơn 860 người. Vua nói : “Lệ lính trốn có xử phân là muốn quân lệnh cho nghiêm, hàng ngũ khuôn phép. Nay lính trốn nhiều đến thế, ý hẳn vì lính mới điền cấp không chịu được khó nhọc, hoặc vì nhà nghèo thiếu không đủ chu cấp, chưa chắc đều là lỗi của người cai quản vỗ về thất nghi. Nếu cứ số mà nghĩ xử thì mắc lỗi rất nhiều, không phải là chính sách rộng rãi thể tất thương xót”. Bàn đổi định lệ mới mà ban hành. (Theo lệ trước, trong 1 năm mà mỗi một thập có 1 lính trốn thì Suất thập bị 30 roi, cứ thêm 1 người lại thêm một bậc ; mỗi đội Thị trung trốn đến 8 người thì Chánh phó Suất đội đều phải 30 roi, cứ 4 người lại thêm một bậc ; vệ cơ các quân Cẩm y, Thị nội và Thần sách, mỗi đội trốn đến 4 người thì Suất đội bị 30 roi, cứ 2 người lại thêm một bậc ; mỗi vệ cơ trốn đến 40 người thì Chánh phó quản quan đều bị 30 roi, cứ 20 người lại thêm một bậc, tội chỉ đến 100 trượng thôi. Đến đây đổi định lại, mỗi thập mà trốn 2 người thì Suất thập bị 30 roi, cứ thêm 1 người lại thêm một bậc ; mỗi đội Thị trung trốn đến 12 người thì Chánh phó Suất đội đều bị 30 roi, cứ 6 người lại thêm một bậc ; vệ cơ các quân Cẩm y, Thị nội và Thần sách, mỗi đội trốn đến 6 người thì Suất đội bị 30 roi, cứ 3 người lại thêm một bậc ; mỗi vệ cơ trốn đến 60 người, thì Chánh phó quản quan đều bị 30 roi, cứ mỗi 30 người lại thêm một bậc, tội chỉ đến 100 trượng thôi. Từ Suất đội trở lên thì chiểu lệ phạm tội công mà giáng phạt. Suất thập nguyên đã được thăng đổi thì cứ theo nguyên chức hàm mà đổi làm giáng phạt). Lại chuẩn lời tâu bàn của bộ Binh, từ nay binh lính các địa phương mới cấp thì kể bắt đầu từ ngày có giấy ghi vào hàng ngũ : đã chi lương tháng mà trốn thì chiếu lệ bắt tội, nếu chưa chi lương thì cho để đến cuối năm nghĩ định tính toán mà giảm tội.
    Ấm thụ cho dòng dõi khai quốc công thần Luân quận công Tống Phước Trị là Tống Phước Minh làm Thứ đội trưởng để coi giữ việc thờ cúng.
    Đề đốc Kinh thành là Đoàn Văn Trường thấy mùa hạ nắng quá tâu xin dỡ nhà dân để phòng nạn cháy. Vua nói : “Phòng hoả không gì bằng chứa nước. Cứ sai dân để ý gìn giữ thì lửa không thể hại được, hà tất phải dỡ nhà làm gì”.
    Cấp tiền gạo (mỗi tháng tiền 2 quan gạo 1 phương) cho con thuộc nội Chưởng cơ lĩnh Trấn thủ Quảng Nam Nguyễn Văn Thanh là Nguyễn Văn Mân. Vua nghĩ đến Thanh là người cũ có công nên đặc biệt cấp cho con.
    Vua thấy sang năm gặp tiết Lục tuần đại khánh của Hoàng thái hậu, gọi đường quan lục bộ bảo rằng : “Lễ mừng không gì hơn việc giảm thuế tha tù. Như các việc ban ơn cho thần dân, gia ơn cho học trò, thưởng cấp cho quân sĩ, đều là việc hay cách ngoại, dẫu có tốn đến hàng nghìn vạn trẫm cũng không tiếc ; duy có việc tha tù trẫm không thích làm, vì tha kẻ có tội thì hại cho dân lành, có khác gì nuôi cỏ để làm hại lúa, các khanh nên thể tất ý của trẫm, hết lòng bàn bạc, việc gì nên làm thì liệt thành điều khoản tâu lên”.
    Sửa đắp đê công ở Thuận Trực (thuộc xã Hà Trung, huyện Phú Lộc) và đê riêng ở xã An Truyền (thuộc huyện Hương Trà) ở Thừa Thiên. Hai đê ấy trước vì mưa lụt bị sạt lở, phủ thần xin nhân lúc rỗi việc làm ruộng, thuê dân sửa đắp để lợi cho nghề nông. Vua y cho.
    Vua đi tuần cửa biển Thuận An, ngày hôm sau trở về.
    Định lệ cho con các quan võ đăng sách Hoa danh : Con quan Chánh tòng nhất phẩm đều 3 người ; con quan Chánh nhị phẩm thì 2 người ; con quan Tòng nhị phẩm đến Tòng tam phẩm và Chánh phó quản cơ cơ Ngũ thuỷ thuộc Thuỷ quân thì đều 1 người. Nếu thiếu ngạch thì theo lệ mà sung bổ. Lại định lệ lương : con quan Nhất phẩm mỗi tháng cấp tiền 3 quan gạo 2 phương ; con quan Nhị phẩm, Tam phẩm tiền 2 quan gạo 2 phương ; con quan Tứ phẩm tiền 2 quan gạo 1 phương 15 bát. Bắt đầu từ mồng 1 tháng 7 năm nay.
    Ở các trấn Bắc Thành trộm cướp nổi nhiều. Thành thần chia phái Tả quân Phó thống thập cơ là Vũ Văn Thân, Hậu quân Phó thống thập cơ là Phan Bá Hùng, đem quân và voi đi tuần bắt. Quân của Vũ Văn Thân đến huyện Thiên Thi (thuộc tỉnh Hưng Yên) gặp Tri huyện Phù Dung là Đặng Văn Đồng báo có bọn giặc hơn 100 người tụ họp ở xã Tam Muội, mưu phá huyện lỵ. Thân sai ngay Phó quản cơ Lê Văn Bằng đem 200 binh tới, giặc xông ra chống cự, quan quân vỡ chạy ; Bằng cùng với con và 4 người thuộc hạ đều chết trận. Việc tâu lên. Vua nói : “Đi trận này, quân ta nhiều, quân giặc ít, đã không đánh giết được lại bị thua, đủ thấy không có hăng hái xung phong, đều là do Vũ Văn Thân quân luật không nghiêm, điều độ không đúng, mới đến nỗi thế. Vậy Thân phải giáng một cấp trước, các biền binh hỏng việc thì giao cho thành thần nghiêm nghĩ tâu lên. Cha con Lê Văn Bằng chết cả ở mặt trận, khí khái đáng khen, cho truy tặng ngay Bằng làm Chánh quản cơ, thưởng thêm 100 quan ; con Bằng và các thuộc hạ đều tặng tuất theo thứ bậc".
    Định ban thứ cho các đại thần văn võ : Chưởng dinh Trần Văn Năng đứng đầu võ ban, Tống Phước Lương là thứ ; Thượng thư Nguyễn Xuân Thục đứng ở đầu văn ban, Trần Lợi Trinh là thứ, Nguyễn Khoa Minh, Trần Văn Tính, Lương Tiến Tường, Hoàng Kim Xán lại là thứ nữa.
    Lấy Tham hiệp Hải Dương là Đào Đức Lung làm thự Hiệp trấn Lạng Sơn, Tham hiệp Quảng Yên là Lưu Đình Luyện làm thự Hiệp trấn Cao Bằng, Thiêm sự Binh bộ là Vũ Du làm Hiệp lý trấn vụ Biên Hoà, Lang trung Hộ bộ là Nguyễn Thản làm Thiêm sự sung Hộ tào thành Gia Định.
    Vua xem lý lịch Tri bạ các quân, có người ăn lương đến hơn 10 năm, bảo bộ Lại rằng : “Nếu bọn ấy là người hèn kém, làm không nổi việc, thì sao lại để cho tham lộc mà ăn không thế ? Mà nếu chúng có sở trường gì đáng dùng thì cũng không nên hãm ở hàng tạp chức, để đắm đuối mãi ở bậc dưới. Nay phải chiếu sổ đòi đến mà xét kỹ, nếu ai hiểu biết sự lý thì cho dẫn vào yết kiến, còn ai già yếu hèn kém thì bắt về hưu”.
    Định lệ thưởng cho biền binh các địa phương đi vận chở đường biển. Phàm vận chở đường biển từ địa phương đến Kinh mà lại lĩnh của ở kho Kinh chở về địa phương hay giao cho hạt khác, nếu đều được ổn thoả, quan thì cấp cho một tháng tiền lương, lính thì cấp cho 1 quan tiền, trở về không thì cấp một nửa.
    Đổi cấp mũ áo cho Giám sinh Quốc tử giám (một cái mũ Tú tài bằng the nam, đằng trước đính một cái hoa bạc, một cái áo tràng vạt the nam màu xanh lót lụa trắng, một cái xiêm lụa màu lam, khăn màng lưới và hia tất đủ cả). Sắc rằng từ nay hễ Cống sinh vào Tả giám thì theo thức mà cấp cho, 5 năm một lần đổi.
    Lấy Biện lý Binh bộ là Hoàng Văn Quyền làm thự Hữu Tham tri Binh bộ, Biện lý Hình bộ là Ngô Bá Nhân làm thự Hữu Tham tri Hình bộ, Ký lục Bình Thuận là Bùi Đức Mân làm thự Tả Tham tri Công bộ, Biện lý Hộ bộ là Hoàng Văn Diễn làm thự Hữu Tham tri Hộ bộ, Hiệp trấn Hải Dương là Nguyễn Kim Bảng, Biện lý Hình bộ là Đặng Văn Thiêm đều được thực thụ Cai bạ, vẫn làm Biện lý Binh bộ.
    Lấy Vệ uý Nguyễn Văn Lộc làm Chưởng cơ vẫn lĩnh Viện sứ viện Thượng trà, kiêm quản vệ Tả hộ, đội Tiểu sai, ty Hành nhân, đội Việt tường và yến hộ Quảng Nam, Vệ uý vệ Long võ trung là Nguyễn Tăng Minh làm Vệ uý vệ Cẩm y, kiêm quản hai đội Nội hầu và Ngân súng.
    Lấy Cai cơ Tôn Thất Bằng làm Phó vệ uý vệ Nội hầu, Cai đội Tôn Thất Chiếu làm Cai cơ lĩnh Từ tế sứ Từ tế ty để giữ việc thờ tự ở Nguyên miếu, lại lĩnh quản phủ Hà Trung, kiêm quản các chi công tính.
    Bắt đầu đặt viện Thượng tứ. Lấy các đội Nội mã (hai đội nhất nhị gồm làm một đội), Tả mã và Hữu mã cho lệ vào, sai Chưởng cơ Nguyễn Văn Lộc kiêm quản việc viện.
    Lấy thự Hiệp trấn Tuyên Quang là Trần Văn Toản làm Hiệp trấn Hải Dương.
    Hạ lệnh các nhà trạm ở các trấn Phú Yên, Bình Hoà và Bình Thuận cứ theo cách thức của bộ Công gửi đến (nhà ngói, tường gạch), mà dựng mỗi năm 1 sở hay 2 sở, tuỳ theo công trình khó dễ trả giá phải chăng mà thuê làm.
    Lấy Phó vệ uý vệ Hữu nhị quân Thị trung là Lê Phúc Bảo làm Vệ uý vệ Hổ oai hậu quân Thị nội, Phó vệ uý vệ Hổ oai hậu là Nguyễn Văn Tòng làm Phó vệ uý vệ Hữu nhị, Vệ uý vệ Nội hầu là Nguyễn Hữu Khâm làm Vệ uý vệ Hậu nhị, Phó vệ uý vệ Hậu nhị là Hoàng Phúc Tài làm Vệ uý vệ Chấn uy, Phó vệ uý vệ Long võ hậu là Ngô Văn Thành làm Phó vệ uý vệ Hậu nhị, Phó vệ uý vệ Tả nhị là Nguyễn Văn Thận làm Vệ uý vệ Long võ hậu, Phó vệ uý vệ Tiền phong trung là Trần Văn Vân làm Phó vệ uý vệ Tả nhị, Cai đội Cẩm y là Hoàng Văn Lý làm Phó vệ uý vệ Tiền phong trung.
    Đặt chi Kiên hùng ở Hà Tiên. Hà Tiên có hơn 500 người dân Chân Lạp biệt nạp, thành thần Gia Định tâu xin cho dồn làm 10 đội, gọi là chi Kiên hùng, đặt Chánh phó trưởng chi đều một người ; đội thì đặt một người Đội trưởng suất đội và 4 người Thập trưởng, y theo lệ đồn Uy viễn ; tên họ và tên đất ở là tiếng man đổi theo chữ Hán. Vua y lời tâu.
    Sai văn võ đình thần đi xem ngôi đất “Vạn niên đại cát địa”((1), (2) Vạn niên đại cát địa là đất mộ của mẹ vua ; Vạn niên cát địa là đất mộ của vua.1), và ngôi đất “Vạn niên cát địa”(2). Vua dụ rằng : “Các thánh đế minh vương đời xưa muốn cầu nhiều phước đều có dự định đất tốt vạn niên để mong trời cho cơ đồ dài lâu. Kể từ đức Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta khôi phục miếu xã, xây dựng các lăng, lại dự kế cất để nghìn muôn năm, năm Gia Long đã từng hạ sắc cho bầy tôi tìm kiếm ngôi Vạn niên cát địa. Nay trẫm kính lo đường kế thuật, may gặp buổi thái bình, việc phần mộ không thể không dự tính trước. Vậy hạ lệnh cho đình thần cùng với Khâm thiên giám đi đến miền núi thuộc các xã Kim Ngọc, Định Môn, lựa trước ngôi “Vạn niên đại cát địa” và ngôi “Vạn niên cát địa”, cho được gần chốn khí thiêng mà để lại phúc ấm về sau. Các khanh đều nên hết lòng nhận kỹ, cốt cho thoả hợp, rồi vẽ địa đồ dâng trình, đợi trẫm thân đến lựa chọn”.
    Đến khi đình thần về tâu, đều có ý kiến khác nhau.
    Bọn Nguyễn Văn Bảng, Nguyễn Huy Tá, Nguyễn Đăng Sở, Nguyễn Đạt và Phan Cử đều khen ngôi đất xứ Cổ Dụng, xã Kim Ngọc, phỏng mượn kho thiên lộc toạ Mùi, hướng Sửu, kiêm hướng quý ba phân, đáng làm ngôi “Vạn niên đại cát địa” và ngôi đất xứ Gia Phúc, xã Định Môn, phỏng tọa Bính, hướng Nhâm, kiêm hướng Hợi, đáng làm ngôi “Vạn niên cát địa”. Bọn Khâm thiên giám Nguyễn Danh Giáp và Trần Văn Hân thì cho là ngôi đất ở xứ Gia Phúc, không có chỗ nước tụ, minh đường chật hẹp, nước sông chảy lệch nên còn ngờ. Bọn Nguyễn Xuân Thục và Trần Văn Tính cũng theo lời của các quan Khâm thiên giám. Lại Lê Công Tường chỉ dẫn một ngôi đất ở xứ Nhự Mai, phường An Bình thì quan Khâm Thiên giám Nguyễn Danh Giáp và Hoàng Công Dương đều khen là toạ Tuất, hướng Thìn, kiêm hướng Tân ất, là ngôi đất tốt. Trần Văn Năng, Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Xuân Thục và Trần Văn Tính, đều khen như lời các quan Khâm thiên giám. Bọn Nguyễn Văn Bảng, Nguyễn Huy Tá và Phan Cử thì còn ngờ ngôi đất ở xứ Nhự Mai, vì không thấy chỗ mạch khí dồn thắt. Bọn Tống Phước Lương, Trần Đăng Long, Trần Lợi Trinh, Phạm Văn Quyền, Đoàn Văn Trường, Ngô Văn Vĩnh, Hoàng Kim Xán, Bùi Đức Minh, Hoàng Kim Hoán, Nguyễn Đăng Tuân, Phan Huy Thực, Trần Quang Tĩnh, Hoàng Văn Quyền và Hoàng Văn Diễn đều cùng ý kiến với Nguyễn Văn Bảng, Nguyễn Huy Tá và Phan Cử).
    Vua lại sai Kiến An công Đài, Định Viễn công Bính cùng với bọn đại thần là Trần Văn Năng, Phan Văn Thuý và Lương Tiến Tường, đi phúc duyệt lần nữa. Khi về họ đều nói : “Trải xem các kiểu đất chỉ có xứ Lẫm Sơn đáng là ngôi “Vạn niên đại cát địa” và xứ Kiều Long đáng là ngôi “Vạn niên cát địa”, ý kiến đều giống nhau.
    Vua nói : “Trẫm vì kế ức muôn năm của nhà nước từng đã sắc dụ các quan tìm chọn đất tốt, nay đã bàn kỹ trình xem. Lại nghĩ Dao cung((1) Dao cung : cảnh tiên ; đây chỉ chỗ Thái hậu ở.1) yên vui, tuổi thọ còn dài, cái lòng tôn thân đều mong được lên tiếng chúc thọ mãi mãi ; vậy ngôi “Vạn niên đại cát địa”, lòng trẫm chưa yên, không nên bàn vội. Duy ngôi “Vạn niên cát địa” thì cũng nên bắt chước đời xưa, dần dần xây dựng, đợi sau này lần lượt xuống chỉ thi hành cũng là phải”.
  • Chia sẻ trang này