0059.053 - @ nhani78 (Done WK)

4/12/15
0059.053 - @ nhani78 (Done WK)
  • PDF
    GoogleDocs


    :rose::rose::rose:
    nguyên Lang trung hiện bổ Tham hiệp ở Thái Nguyên là Trương Hảo Hợp, đều giáng làm Cửu phẩm thư lại, phát đi Quảng Nam và Quảng Trị để ra sức chuộc tội.
    Trước ở ty Vũ Khố có mất trộm con voi bằng vàng, giám lâm Hoàng Văn Tâm ngờ cho khố lại là Trương Văn Tùng, xin giao cho bộ Hình tra hỏi. Tùng đành nhận liều. Chợt có người tố cáo kẻ trộm là Bùi Hữu Tuấn và Nguyễn Văn Thực. Tuấn đã trốn trước, bắt được Thực đem đến xét. Vua đặc sai bọn Lương Tiến Tường, Hoàng Kim Xán, Lê Văn Hoan, Nguyễn Văn Lộc tra hỏi, quả nhiên như thế. Khi án dâng lên, lại cho là Tuấn còn trốn, xin sai người bảo lĩnh Tùng để đợi hỏi. Vua nói : “án này nếu không có người tố cáo thì hoá người không tội bị oan, kẻ chính phạm lọt lưới. Nay Thực đã thú thực thì Tùng là người bị vu oan, đáng nên rửa oan ngay, sao lại lấy cớ một tên phạm chưa đến mà có lời lẽ hình như còn ngờ, gọi là giải oan xét uổng có như thế sao ?”. Sai đình thần bàn lại. Bọn giám lâm Hoàng Văn Tâm đều bị giáng 2 cấp, bọn khâm phái Lương Tiến Tường, đều phạt bổng 1 năm. Hình bộ Nguyễn Khoa Minh và Ngô Bá Nhân đã phạm án khác bị giáng chức rồi, nên được miễn nghị. Nguyễn Văn Thực xử giảo giam hậu. Trương Văn Tùng chịu đau đớn oan, đòi ở Hình bộ và Vũ Khố 10 lạng bạc cấp cho.
    Phó sứ Thương bạc là Nguyễn Văn Thai có tội bị cách chức
    Trước đây có chỉ tha giảm thuế lệ cho thuyền buôn 4 phần 10, lại có chỉ giảm 4 phần nữa, hợp làm 8 phần, chỉ thu 2 phần. Thai làm trái lại, đem số thuế 6 phần đáng thu lần trước tính chia làm 10 phần mà giảm 4 thu 6. Việc phát giác, giao xuống bộ Hình bàn. Bộ thần bàn xử tội cố ý vi chế thu, xin phạt trượng và cách chức ; bọn Thiêm sự là Đoàn Khiêm Quang, Trương Vân Loan, Nguyễn Công Hoán, Hà Thúc Đông lại bàn khác, cho là Thai hiểu lầm lời chỉ, không phải cố ý làm trái, xin xử trượng 70.
    Vua xem lời tâu, cả giận nói rằng : “Thai là kẻ bề tôi chăm vơ vét, trẫm muốn xử cực hình để khuyên răn những kẻ sâu mọt, nay bàn xử trượng và cách, còn hiềm là nhẹ ; bọn Khiêm Quang như muốn thân oan cho người, sao không hết sức công bằng xét rõ những án bọn Nguyễn Tử Bộc và Trương Văn Tùng mà để đến nỗi người bình dân phải nuốt nước mắt ?”. Lại giao xuống đình thần xét bàn. Đến đây lời bàn dâng lên. Nguyễn Văn Thai rốt cuộc bị cách, phát đi hiệu lực ở cục Bảo hoá, tiền thuế lạm thu thì trả lại cho thuyền hộ ; Đoàn Khiêm Quang và Trương Vân Loan đã bị thực giáng được miễn xử ; Nguyễn Công Hoán và Hà Thúc Đông đều giáng 2 cấp.
    Sai Đô thống chế Tôn Thất Dịch kiêm quản các đội Dực hùng.
    Thanh Nghệ tâu báo rằng về cuối hạ địa phương được yên ổn. Vua nói : “Hai trấn ấy trước đây giặc cướp quấy nhiễu, nay được yên lặng, năng lực vỗ về đánh dẹp của trấn thần thấy kết quả tốt. Hạ lệnh cho hai bộ Lại, Binh bàn thưởng để khuyến khích”.
    Sai Hiệp tổng trấn Bắc Thành là Nguyễn Hữu Thận kiêm lĩnh cục Bảo tuyền.
    Phó đô thống chế lĩnh Trấn thủ Nghệ An là Trương Văn Minh thấy việc bắt giặc đã hơi thư thả, dâng biểu xin vào chầu. Vua y cho. Đến nơi vua gọi vào ra mắt, thăm hỏi, nhân bảo rằng : “Nguyễn Khoa Hào là người cẩn thận, trẫm vốn biết nên giao cho trọng trách địa phương. Nay muốn triệu về thì thế nào ?”. Minh thưa :
    “Ở Nghệ An không có người ấy không được, xin gia hạn cho ở lại một năm nữa”. Vua y cho.
    Chưởng Hậu quân quận công Lê Chất chết. Chất từ khi về Bình Định, bệnh cũ lại phát, đến nay chết. Trấn thần tâu lên. Vua thương xót, bãi triều 3 ngày, tặng Thiếu phó, thuỵ Dũng Nghị, cấp cho gấm sa và đoạn lông mỗi thứ 6 tấm, tiền 3.000 quan ; sai quan đến tế ; cấp cho 3 người mộ phu.
    Hoàng thái hậu nghe tin cũng cho 300 lạng bạc.
    Nước Xiêm La sai sứ thần là Sá A Nỗ Lạc Phu Thôn đến tạ ơn và báo nước ấy có tang tổ mẫu [vua Xiêm]. Sứ đến Gia Định, Tổng trấn Lê Văn Duyệt tâu lên, lại dâng mật sớ xin vâng từ chỉ của Hoàng thái hậu gửi đồ sang phúng. Vua bảo bộ Lễ : “Việc trong cung vi, theo lễ không báo ra nước ngoài, người Xiêm báo thế là không phải. Hoàng thái hậu thể thống tôn nghiêm, bề tôi ở ngoài há có lý nào muợn lời chỉ của Thái hậu để viếng nước ngoài. Lời xin của Duyệt cũng không phải. Việc giao lân có đạo của nó, hãy đợi sứ đến sẽ xử trí riêng”. Lại bảo thị thần rằng : “Trước ta cho sang mừng và viếng, nay họ đến tạ ơn mà ta lại sai sứ đáp lại thì việc đi lại không bao giờ xong, nên làm thế nào là phải ?”. Trần Lợi Trinh và Nguyễn Đăng Tuân thưa : “Đôi bên đi lại đều một lần, đối với lễ đã hợp rồi. Lễ không nên nhàm quá, xin chớ sai sứ nữa”. Vua bảo phải.
    Khi sứ Xiêm tới Kinh, vào yết kiến. Vua thung dung hỏi : “Nghe tin nước Hồng Mao gây sự với nước Diến Điện, nước ngươi muốn ai thắng ?”. Sứ thưa : “Nước Hồng Mao nhiều cơ mưu dối trá, nước tôi muốn cho Diến Điện thắng”. Vua nói : “Cứ như trẫm xem, chi bằng hai nước cầm cự nhau, nước ngươi có thể do đó tự mưu cho mình được ; nếu một nước thắng thì nước ngươi có thể giữ được vô sự không ?”. Vua lại hỏi : “Nghe tin nước ngươi từng làm việc cầu phúc có không ?”. Sứ thưa : “Có”. Vua nói : “Nước ta làm phúc khác hẳn, sửa sang thành trì, nuôi luyện binh sĩ, năm nào mất mùa thì giảm thuế cho nhẹ để hậu đời sống cho dân, việc làm phúc đều như thế”. Sứ giả thần phục. Vua lại bảo rằng : "Nhà ngươi sang sứ chuyến này, có một việc hợp lễ, một việc không hợp lễ, việc tạ ơn là lễ, việc báo tang không phải lễ, trẫm lấy tình lân hiếu không muốn cự rõ, ngươi nên về nói cho quốc vương biết”.
    Khi sứ về, thưởng cho rất hậu, nhân đó phát phẩm vật tặng cấp và phúng viếng gửi về. Lại sai bộ Lễ viết thư nói việc báo phó không phải lễ để trả lời. (Tặng Phật vương các thứ sa lương hoa nam, sa là trơn nam, sa là hoa nam, the là nam, mỗi thứ 100 tấm. Cho nhị vương các thứ sa lương hoa nam, sa trơn nam, sa là hoa nam, the là nam, mỗi thứ 60 tấm. Phúng quốc tổ mẫu vải lụa mầu mỗi thứ 100 tấm, đường cát 2.000 cân, đường phổi và đường phèn đều 300 cân).
    Sắc cho từ nay hễ sứ Xiêm tới Kinh thì ty Hộ thành binh mã trước tiên bắt một người Cai đội và 100 biền binh tới đầu địa giới Vân Quan đón tiếp, ngày sứ trở về, hộ tống cũng như thế. Ghi làm lệnh.
    Vua mở địa đồ, trỏ bảo bầy tôi rằng : “Trẫm nghe nước Xiêm La cùng nước Hồng Mao có hiềm khích, chợt có dùng binh thì Hà Tiên là chỗ hai nước xung đột nhau, ta nên tính toán ra sao để phòng việc không ngờ. Huống hồ nước Xiêm với nước ta là láng giềng giao hiếu, nếu có cấp nạn thì có nên cứu hay không ? Thực là khó xử”.
    Tên nghịch Man là Ma Trập ở sách Lục Vân, trấn Bình Hoà sai người đem cống 2 thớt voi xin chuộc tội.
    Vua bảo đình thần rằng : “Ma Trập trái mệnh, chưa chịu thân đến, chỉ sai con em đem lễ đến dâng, nếu nhận thì chưa tỏ được phép nước, mà cự thì lại gây mối binh đao. Vả người mọi rợ cũng ví như giống cầm thú, có lấy được đất cũng không ở được, có thu được dân cũng không thể sai khiến. Nay xua quân lính tới chỗ nước độc để ra oai với kẻ tiểu nhân xấu xa thì thực là vì kẻ không yêu mà làm khổ đến người mình yêu, người có nhân không làm như thế. Các khanh cho là thế nào ?”.
    Nguyễn Đăng Tuân nói : “Đấng vương giả đối với mọi rợ, không cự khi họ tới, không theo khi họ đi. Tên nghịch Man kia, lúc thần phục làm phản, cũng là thói thường của man di. Vừa rồi binh địa phương mới phát thì nó đã chạy trốn, như thế cũng đủ tỏ uy lệnh ngoài nghìn trăm dặm rồi. Nay nó sai người đến cống để tỏ lòng thành, thế là đã biết quy thuận ; còn hắn đến hay không đến cũng không nên so tính. Ngu thần cho nhận là phải”. Trương Văn Minh nói : “Ma Trập không đến là nó sợ bị giết, nay cứ nhận đồ cống mà sai trấn thần phái người đến dụ đức ý của triều đình thì hắn sẽ tự thân đến, mà đã đến thì phải theo mệnh trên”. Vua nói : “Phải đấy”. Bèn xuống dụ rằng : “Ma Trập là một tên Man già ngu xuẩn không biết gì, năm ngoái ương ngạnh tự gây mối hoạ, đại binh tiến đánh thì hắn trốn tránh, trải mấy tuần chưa chịu ra hàng. Tự khi rút binh mới được 2 tháng thì sai thuộc hạ đến trấn kêu van, lòng sợ hãi biết tội cũng đã thấy được. Nhưng nay vội tha lỗi trước tù trưởng Man không biết đau đớn về sự trừng phạt, mà các sách man khác lại trông ngóng ở đó, sao cho tỏ được uy đức của triều đình ? Vậy hạ lệnh cho trấn thần tạm lưu những voi cống, chọn uỷ người thạo việc và am hiểu tiếng Man đến Lục Vân dỗ bảo tận mặt Ma Trập, khiến cùng với các tù trưởng man La Vạn, A Nhân và Ỷ Đống đem mình thú tội. Phải cứ tình hình chạy tâu ngay”.
    Sau đó Ma Trập vẫn một mực nói là già ốm không dám ra.
    Lấy Thiêm sự Hộ bộ là Thân Văn Duy làm Thiêm sự Hình bộ.
    Vua bảo Duy rằng : “Người ta nói “Kẻ sĩ không may mới làm Hình quan”, tin theo lời ấy thì bộ Hình có thể không phải đặt, mà bề tôi cứ chọn việc mà làm cũng là trung ư ? Đó là lời nói vô căn cứ thôi. Tự trẫm xem thì nhà giam tù là nhà làm phước đó. Làm hình quan nếu biết giữ lòng công bằng khoan thứ, người có oan uổng mà tỏ được lẽ oan, thì phước cứu sống người còn hơn xa sự xây dựng bảy cấp phù đồ((1) Quan âm thị Kính có câu : dẫu xây chín cấp phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người.1). Gần đây hình quan phần nhiều mắc lỗi, tội nghiệp ấy là tự mình làm, còn đổ cho ai ? Ngươi ở bộ Hộ đã được tiếng là mẫn cán, trẫm biết đã lâu, nay ở pháp ty nên vì trẫm chia lo, chớ thấy người trước bị tội mà mang lòng thắc mắc nhé”.
    Dinh Quảng Bình tâu xin tha giảm thuế cho dân xiêu giạt.
    Vua xem sớ cho lời lẽ hợp lý, khen ngợi mãi, nhân hỏi Nguyễn Đăng Tuân : “Ngươi có biết bản sớ này ai làm không ?” Tuân thưa : “Không biết”. Vua nói : “Hẳn là Nguyễn Hựu Nghi và Hoàng Quýnh làm, không phải là liêu thuộc xứ ấy làm được đâu. Trẫm vốn biết bọn ấy đều có tài, nhưng khi cùng quẫn bó buộc mới chịu cố gắng hăng hái, hễ hơi đắc chí thì lại làm bừa nên mắc lỗi, rất là tiếc cho họ”.
    Bộ Hộ tâu nói : “Đặt hiểm để giữ vững, đó là việc trước tiên để trị nước ; cất chứa đầy đủ, đó là việc cốt yếu để đề phòng. Vì là có sẵn thì tự nhiên không lo, mà lo xa thì mới có thể thường yên được. Trộm nghĩ đài Trấn Hải và cửa Hải Vân ở Thừa Thiên, đài Điện Hải và pháo đài Định Hải ở Quảng Nam, đều là nơi hiểm yếu, nên dự trữ tiền, gạo và muối để phòng khi xảy ra sự không ngờ. (Đài Trấn Hải, tiền 300 quan, gạo 200 phương, muối 3 phương ; cửa Hải Vân, tiền 50 quan, gạo 500 phương, muối 10 phương ; pháo đài Định Hải, tiền 200 quan, gạo 200 phương, muối 5 phương).
    Vua cho lời tâu là phải.
    Trong Kinh kỳ lâu không mưa. Dựng đàn Tam Thần ở phía Tây nam đài, sai Nguyễn Đăng Tuân và Hoàng Văn Quyền cầu đảo.
    Vua bảo thị thần rằng : “Từ nay hạn hán phần nhiều về xuân hạ, mà gần đây thường thấy về thu, đông, chẳng biết có phải vì khí trời không thuận mà đến như thế không ! Vả nay mấy tuần không mưa, khí nóng như đốt ruột, huống là cỏ cây lúa ruộng thì tươi tốt sao được. Trẫm ở trong cung chưa từng một đêm nào ngủ yên. Đêm qua trẫm ngồi ở sân điện, ngửa xem tượng trời, thấy một đám mây đen nghịt, chợt gặp gió đông nam, lại tan ngay, sao mà khó mưa đến thế !”. Vua quay bảo Phan Huy Thực rằng : “Trẫm muốn thí nghiệm các thần kỳ trong nước có thần nào làm mưa được thì khen tặng, không làm được thì đình việc thờ cúng, đó cũng là ý xét công thần kỳ của người xưa. Nhưng lại nghĩ sao Cơ thì gió, sao Tất thì mưa là do tự nhiên((1) Cơ phong, Tất vũ : sao Cơ thì gió, sao Tất thì mưa (Kinh Thư, thiên Hồng phạm). Chu Tử diễn giải : Mặt trăng đi về đông bắc vào địa phận sao Cơ thì có gió nhiều, đi vào địa phận sao Tất thì có mưa nhiều.1), không phải sức thần làm được. Huống nữa vua tôi ta cố gắng hoặc có chỗ chưa hết đạo, việc thổ mộc công dịch hoặc có chỗ vất vả dân, trăm quan trong ngoài hoặc có chỗ chưa xứng chức, không nghĩ đến những cái ấy mà lại lấy việc vô lý trách bị ở thần, thần mà có biết cũng phải bật cười. Xưa đời Thành Thang nhà Thương có hạn hán đến bảy năm, sau lấy sáu việc((2) Sáu việc : 1/ Chính lệnh không nhất định, 2/ Dân bị sai dịch mất cả làm ăn, 3/ Cung điện trang hoàng quá, 4/ Cung nữ nhiều, 5/ Quan lại ăn hối lộ, 6/ Nghe người gièm pha.2) tự trách mình thì liền mưa xuống, không biết trước đấy có cầu đảo không mà cảm động đến trời chóng như thế ?”. Thực thưa : “Đó là việc ngẫu nhiên thôi”. Vua nói : “Xưa Lưu Côn làm Thái thú Hoàng Nông thì hổ qua sông sang phía bắc, đó là bởi đức chính mà được như thế, lấy ngẫu nhiên mà đáp Hán Quang Vũ là lời tự khiêm của người bề tôi đó thôi. Nay lại bảo việc đời Thành Thang cũng là ngẫu nhiên, chẳng hoá ra chính sự của người không cần phải sửa chữa mà cứ ngồi đợi ngẫu nhiên sao ? Trẫm cho rằng Thành Thang là vua thánh, ngày thường biết tự xét mình gắng làm, việc gì cũng rất kỹ càng, lòng tinh thành vốn thông với trời, cho nên nhất đán phát lời nói ấy thì trời ứng ngay, như bóng ứng với hình, vang ứng với tiếng vậy. Vả lại kẻ làm vua nên lấy thiên hạ làm việc lo cho mình. Sách Thượng thư nói : “Trăm họ có lỗi, tại một mình ta”. Cổ thi có câu : “ở trong triều người tôn sùng thứ nhất lại là người khó nhọc thứ nhất”. Đều là nói làm vua là khó. Trẫm từ khi lên ngôi đến giờ, tai hoạ thường xảy, dân chúng ít thoả, phàm trăm điều lo ấy, trẫm vẫn để bụng không quên, há chẳng phải số mệnh khiến như thế sao ? Song đã là vua thì không nên nói số mệnh ; cũng bởi việc người có lẫm lỗi thế nào đó thôi”.
    Ở Bắc Thành và Nghệ An cũng ít mưa. Vua dụ bảo các sở tại đều hết lòng thành cầu đảo.
    Sai thự Tiền quân Trần Văn Năng lựa chọn trong sổ Hoa danh lấy 30 người mẫn cán đợi chỉ bổ dùng.
    Định lệ mộ lập thuộc binh cho quan Văn ban tam phẩm ở Kinh (Chánh tam phẩm mộ 10 người, Tòng tam phẩm 7 người).
    Chuẩn định từ Thừa Thiên vào Nam đến Bình Thuận, ra Bắc đến Bắc Thành, từ nay phàm những tháng quan hệ nghề nông thì trong tập tâu báo giá gạo phải lấy cả tình hình mưa nắng những ngày ấy để tâu lên.
    Chủ thuyền người Phú Lãng Sa là Cốt Tu Mi đến buôn ở Đà Nẵng, đem những hoá hạng của Chưởng cơ Nguyễn Văn Chấn gửi dâng lên, có nhiều cái gãy vỡ mà giá cao quá, Hữu ty xin trả lại.
    Vua nói : “Chấn là tôi tớ nay nghỉ việc về nước mà còn nghĩ ơn nuôi nấng mấy chục năm của triều đình, nay cách xa muôn dặm dâng lòng thành, hiền lao vẫn như thuở trước. Còn cái vật vài nghìn vàng nhỏ nhặt kia thì sao đủ khinh trọng ?”. Bèn sai cất hết vào kho mà trả tiền cho theo giá (7.680 lạng bạc). Lại giảm cho thuyền ấy 5 phần 10 số thuế cảng. Khi chủ thuyền trở về, lại lấy phẩm vật ở Nội thảng gửi cho Chấn và Thắng và sắc dụ hỏi thăm.
    Lấy Thiêm sự Binh bộ là Vũ Hành làm Hiệp lý trấn Phiên An.
    Nguyễn Văn Uẩn ở cơ Vĩnh bảo hậu thuộc Gia Định coi chở 3 chiếc thuyền lớn mới đóng và vật hạng nhà nước đến Kinh. Vua thấy đã đến cuối thu mà đi đường biển được yên ổn, rất khen, thưởng cho Uẩn 2 tấm sa và một thứ kỷ lục.
    Đổi định lệ thuế cho xã Minh Hương biệt nạp ở các địa phương, bộ Hộ bàn tâu rằng : “Từ trước đến nay lệ thuế người Minh Hương ở các địa phương nộp không nhất trí, nhẹ nặng khác nhau. (Ở Thừa Thiên, Quảng Nam, Phú Yên, mỗi người mỗi năm nộp 2 lạng bạc ; ở Bình Định, Quảng Ngãi, mỗi người mỗi năm nộp 2 tấm vải thuế thân và 1 quan 5 tiền đầu quan, ở Hoài Đức thuộc Bắc Thành số người hơn 100 người, mỗi năm nộp 200 lạng bạc ; ở Nghệ An số người hơn 200 người, mỗi năm nộp 100 lạng bạc và 10 lạng bạc phụ ; ở Sơn Nam số người đông hơn 70 người, mỗi năm nộp 60 lạng bạc ; ở Thanh Hoa không rõ số người, mỗi năm nộp 30 lạng bạc, thuộc thành Gia Định mỗi người mỗi năm nộp thuế thân và tiền đầu quan là 1 quan 5 tiền ; ở Vĩnh Thanh, Hà Tiên, Long Xuyên, Kiên Giang, tráng hạng mỗi năm nộp thuế thân và tiền đầu quan là 1 quan 5 tiền, dân đinh và lão hạng nộp một nửa). Vả họ là người nước Thanh đến nương tựa lâu năm, đã liệt vào sổ hộ thì thuế lệ cũng nên có phép nhất định. Xin từ nay ở Nam thì đến Gia Định, ở Bắc Thành, phàm người sổ Minh Hương đến định mỗi năm mỗi người nộp 2 lạng bạc, dân đinh và lão tật thì nộp một nửa, thuế thân và dao dịch đều miễn. Còn như người Minh Hương ở Thanh Hoa chưa có số người thì xin trấn thần tra rõ ghi vào sổ, chiếu lệ đánh thuế”. Vua y lời. Duy có 6 người Minh Hương ở Thừa Thiên phụng thờ hai đền Quan công và Thiên phi, hơn 30 người Minh Hương thuộc thành Gia Định vì năm xưa có nộp đồng, lòng tốt đáng ghi (năm Mậu thân tiến nộp hơn 10.000 cân tạp đồng để dùng vào việc binh) thì cho đều nộp thuế thân như lệ.
    Định lệ thuế người Đường [người Trung Hoa] ở Gia Định. Thành thần tâu rằng : “Người Đường biệt nạp ở các trấn thuộc thành hoặc nộp thuế thân, hoặc nộp thóc sưu, hoặc nộp thoi sắt, lệ không giống nhau. Lại có hơn 3.000 người mới phụ đều không đánh thuế. Vả ở hạt thành ruộng đất mầu mỡ, đầm núi lợi nhiều, cho nên người Mân Quảng đến ở ngày càng nhiều, khắp chợ đầy đồng, kẻ đi buôn người làm ruộng, có nhà giàu đến cự vạn mà suốt năm không nộp một sợi tơ một hạt thóc nào, so với dân ta ngoài thuế thân và tiền đầu quan còn việc binh dao, nhẹ nặng khác xa. Xin phàm người Đường biệt nạp và mới phụ mỗi năm phải nộp tiền dung dịch là 6 quan 5 tiền, còn người mới phụ mà chưa có sản nghiệp thì đem vào hạng cùng cố mà miễn đánh thuế ". Vua dụ rằng : “Những người Đường đã ghi sổ có lệ thuế nhất định là phải. Còn người mới phụ chưa có chỗ căn cứ mà nhất khái đánh thuế thì bắt Lý trưởng sở tại hay thành trấn phủ huyện tự thu thuế sao ? Huống chi người mới phụ cũng có người tay không, cố nhiên nên đem vào hạng cùng cố, nhưng đã đến ở đất nước ta há có nhẽ nghèo túng mãi mà miễn thuế suốt đời hay sao ? Vậy nên hết lòng bàn cho ổn thoả tâu lên”. Thành thần tâu rằng : “Trước đây người Đường đến ở dân gian chợ phố trong hạt thành thì đã khiến trấn thần sở tại cứ người ở các xứ Phước Kiến, Quảng Đông, Triều Châu, Hải Nam mà tra xét ghi vào sổ riêng, đặt bang trưởng trông coi. Người có sản nghiệp thì xin đánh thuế theo lệ, đến như người cùng cố thì thường năm xét xem ai đã có tư cơ thì đánh thuế”. Vua y lời tâu.
    Bộ Hình tâu dâng sách việc hình ở các địa phương về cuối năm Minh Mệnh thứ 6, đương xét hơn 490 án, hiện còn giam 930 người. Vua xem, dụ bầy tôi rằng : “Thanh lý việc hình ngục là việc chính trị lớn của nhà nước. Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, việc thương kẻ bị hình chưa từng quên nhãng, nhiều lần xuống dụ răn sức Hữu ty, muốn cho ở tào không có việc đọng lâu, trong ngục không có tù giam mãi, cho thoả lòng hiếu sinh của trẫm. Thế mà nay hình án bề bộn đến như thế, trong đó giam cầm hoặc luỵ đến người không tội, trẫm rất thương xót. Vậy hạ lệnh cho Thượng ty các địa phương chuyển sức cho các nha môn xét hình, phàm có án đình trệ thì phải kết thúc ngay đi. Làm trái thì có tội”.
    Trong hạt Hải Dương 9 huyện Vĩnh Lại, Giáp Sơn, Đường Hào, An Lão, Cẩm Giàng, Đông Triều, Kim Thành, Tiên Minh, Tứ Kỳ, liền năm mất mùa đói kém, trộm cướp quấy rối, nhân dân ngày xiêu tán dần, quan địa phương cho là ruộng chưa bỏ hết dân chưa đi hết nên không tâu. Vua nghe biết, dụ thành thần Nguyễn Hữu Thận rằng : “Dân địa phương ấy ví như người ốm lâu trơ xương, chẳng cho uống thuốc mà cứ yên lặng đứng xem, thì có khác gì trông thấy đứa bé đương bò vào giếng mà không động lòng thương xót, như thế thì còn dùng nhiều mục lệnh thay trẫm nuôi dân làm gì ? Khanh là lão thành thông thạo nên tính kỹ xem, hoặc vỗ về thăm hỏi, hoặc tha giảm hoãn thuế, cho đến đặt đồn bảo ngăn trộm cướp, phàm làm thế nào có thể yên dân thì làm sớ tâu ngay mới là không phụ trách nhiệm được giao”. Hữu Thận bèn hỏi kỹ các địa phương, trích ra 37 xã thôn bị khổ tâu lên. Vua dụ rằng những thuế phải thu năm nay và tiền thóc còn thiếu về các năm trước đều tha hết ; lính trốn thì hoãn bắt một năm. Thận lại tâu rằng : “Ngoài các xã thôn ấy ra cũng có làng ấp có vẻ tiêu điều, nhưng đồng ruộng thì đã khẩn hết, những dân ấy cũng đều kêu là cùng quẫn để mong giảm thuế, nếu một mực tâu xin, thì chúng bắt chước nhau bịa đặt để cầu ơn, như thế thuế khoá sẽ ngày hụt, đinh số sẽ ngày ít, người làm việc không khỏi nhân đấy mà đeo lụy. Còn như việc đặt đồn ngăn cướp thì xin đợi xét kỹ địa thế và bàn sau tâu lên”.
    Vua dụ rằng : “Dân bịa đặt mà báo để cầu may, cố nhiên là có, song có phải đều là không thực cả ư ? Chính sợ bóng mặt trời không soi đến dưới chậu úp thôi. Nay nhân một người nói dối mà ngờ rằng mọi người đều thế, há chẳng phải như người nhân nghẹn mà bỏ ăn ư ? Trẫm là cha mẹ dân quyết không vì một vài kẻ kiêu bạc mà nhất khái bỏ ra ngoài cả. Khanh là người trẫm tự kén để làm tai mắt nên thể tất ý trẫm, hết lòng tìm hỏi, phàm dân sở tại có một người khốn đốn đau khổ thì liệu chữa và tâu lên, cốt sao ở dưới làng xóm cũng như ngay ở điện đình, ở xa muôn dặm cũng như ở gần nửa bước, ngõ hầu những kẻ giảo hoạt không thể lừa dối, mà kẻ ốm lâu nhờ đấy tỉnh lại, thế là được”.
    Nhân bảo Tham tri Lễ bộ là Phan Huy Thực rằng : “Các trấn ở Bắc Thành dân đói trộm nhiều mà Hải Dương lại quá lắm, trẫm nghĩ mà thương. Phàm ở dải bờ biển thường khổ về trộm cướp, có của cải thì bị lấn, có súc sản thì bị cướp, ngày tháng hao mòn dần, thành ra cùng túng, vì thế mà có nhiều người xiêu tán. Nay án khám chưa xong mà thuế tô dung trẫm tha giảm hết là ý muốn cho người còn ở lại khỏi phải chịu lây, kẻ xiêu tán lại quay trở về. Hiện nay việc cần kíp là bắt trộm cướp, đợi sau khi yên việc thì cách nuôi dân dạy dân mới có thể theo thứ tự mà làm. Trẫm nghĩ đạo trị dân chẳng ngoài điều ấy”. Thực thưa rằng : “Thánh thượng nghĩ đến thế thực là phước cho sinh linh Hải Dương”.
    Cho lính hai vệ Thần uy, Chấn uy về đóng thú. Lại lấy Quản viên vệ Thần uy ở Kinh ứng trực, sai trích lấy lính vệ 15 người quê ở Quảng Nam và 5 người quê ở Bình Định cho lệ theo và theo ban mà thay đổi.
    Cấm thuyền buôn nước ngoài mua tơ. Ai phạm cấm thì bị tội 100 trượng, tang vật sung công. Người bán cũng bị tội như thế. Thương bạc, tấn thủ và quan địa phương đều xử tội thất sát.
    Trong kinh kỳ mưa. Tam trực cũng báo tin có mưa. Vua mừng lắm, bảo phủ thần Thừa Thiên rằng : “Nắng lâu được mưa là việc vui mừng, dân có bệnh dịch lại là việc sợ hãi ; mừng sợ cùng đến thì trẫm biết làm thế nào ?” Ngoảnh lại bảo Phan Huy Thực rằng : “Dịch lệ phát, người thường thì bảo rằng do khí hoá gây nên, người làm vua có thể nghĩ như thế mà tự uỷ được không ? Kể ra giữa trời và người có cảm ứng, thực là không sai. Xưa kia có người đàn bà nước Tề ngậm oan mà ba năm không mưa((1) Thời Tuyên đế nhà Hán, ở quận Đông Hải có người đàn bà họ Đậu, rất hiếu, nuôi mẹ chồng cẩn thận, chồng chết không lấy chồng khác, mẹ chồng bảo rằng : “Ta sống mãi chỉ luỵ đến tuổi trẻ của con”, rồi tự thắt cổ chết. Bị con gái bà ấy vu cáo là giết mẹ, Đậu Thị bị quận thú xử tội chết oan. Trời ra tai ba năm không mưa. Vu công là ngục lại bảo cho quận thú biết. Quận thú sai tế Đậu Thị và nêu mộ lên, trời mưa ngay. (Xem Cố sự tầm nguyên, mục “Thiên văn”).), chỉ một người đàn bà nhỏ mọn, mà còn cảm động đến trời đất. Nay lệ khí lưu hành há chẳng phải vì việc hình có thiếu sót mà đến thế chăng ? Dân kia có tội gì, trẫm không thể chối trách nhiệm được. Những lời trẫm nói thực không phải là hư sức. Phàm nói câu gì, làm việc gì sử tất chép, nếu sử thần kiêng mà không chép, còn dã sử thì sao ? Xưa kia đời Đế Nghiêu và Thành Thang cũng có nạn lụt hạn mà người ta chẳng đổ lỗi cho vua, là bởi Nghiêu Thang đều là thánh nhân, chẳng may có tai biến ấy, cho nên người ta cho là khí số phi thường, nếu không phải là Nghiêu Thang thì khó mà khỏi được người ta chê là chính sự thiếu sót”.
    Chia đặt 19 cỗ đại bác bằng đồng ở bốn đài Đông, Tây, Nam, Bắc của Hoàng thành (súng đồng hoả xa 16 cỗ, súng đồng thủy xa 3 cỗ, mỗi cỗ súng đều có 6 bao đạn kết và 100 cân hòn chì).
    Tháng 8, bắt đầu đặt chức Tả hữu Thị lang ở sáu bộ, trật Chánh tam phẩm. Đổi bổ Biện lý Lại bộ là Lê Đăng Doanh làm Thị lang Lại bộ, thự Hữu Tham tri Lại bộ là Hoàng Văn Diễn làm Tả Thị lang Hộ bộ, Biện lý Hộ bộ là Nguyễn Đức Hội làm Hữu Thị lang Hộ bộ, Biện lý Binh bộ, Biện lý Hình bộ là Nguyễn Kim Bảng làm Tả Thị lang Hình bộ. Sai chế sáu cái ấn quan phòng Tả hữu Thị lang sáu bộ bằng ngà cấp cho.
    Vua từng bảo Lại bộ Trần Lợi Trinh rằng : “Quan chế đời xưa và đời sau không giống nhau, như chức Tham tri ở đời Tống là Á tướng mà nay chỉ coi việc bộ thôi. Các khanh nên xem châm chước phép cũ, định rõ chức chưởng để làm chế độ hay của đời thịnh”. Lại nói : “Nước Việt ta quan chế các đời duy có chế độ đời Lê Thánh tông, so với Bắc triều còn kỹ càng hơn, thế mà con cháu nhà Lê không biết giữ theo để đến nỗi mất hết, đến nay không được thấy nhiều, rất là đáng tiếc”.
    Triệu Tham tri Hình bộ lĩnh Hình tào Bắc Thành là Vũ Đức Thông về Kinh. Lấy Tuyên phủ sứ Hoài Đức là Vũ Xuân Cẩn làm thự Tả Thị lang Hình bộ lĩnh Hình tào Bắc Thành, thự Thiêm sự Lại bộ là Hoàng Quốc Điều làm Tuyên phủ sứ Hoài Đức.
    Cai bạ Bình Định là Nguyễn Bá Uông trước vì có tang về nghỉ, đến nay hết hạn nghỉ, sai lại đến lỵ sở cung chức.
    Triệu Phó tướng Tiền quân lĩnh án trấn Thanh Hoa là Nguyễn Văn Hiếu về Kinh. Đến nơi, vào yết kiến. Vua hỏi : “Trấn hạt có yên không ?” Thưa rằng : "yên". Lại hỏi : “Ngươi trước ở Nam Định, xem nhân vật, phong tục so với Thanh Hoa thế nào ?” Thưa rằng : “Thần tưởng dân Nam Định nhiều người dối trá, không được thuần hậu chất phác như dân Thanh Hoa”.
    Lấy Đô thống chế Hữu dinh quân Thần sách là Tôn Thất Dịch lĩnh lllÁn trấn Thanh Hoa. Dịch vào bệ từ, vua dụ rằng : “Thanh Hoa là nơi ấp thang mộc, dân dễ dạy, nay ngươi đến đấy chỉ cần nêu rõ đức hoá để dân được ở yên, chớ để cho lại dịch nhiễu dân mà thôi”. Bèn cho 300 lạng bạc, phái 150 kinh binh đưa đi.
    Lấy Đề đốc Kinh thành là Đoàn Văn Trường làm thự Phó đô thống chế Trung dinh quân Thần sách, Vệ uý vệ Tiền nhị quân Thị trung là Nguyễn Văn Phượng làm Đề đốc Kinh thành, kiêm việc phủ Thừa Thiên.
    Triệu Trấn thủ Sơn Tây là Đỗ Văn Trà về Kinh ; lấy Trấn thủ Hải Dương là Lê Văn Tiến thay.
    Lấy Chưởng cơ Nguyễn Đăng Huyên lĩnh Trấn thủ Hải Dương. Vua triệu vào ra mắt ở Đông Các, lấy đạo chăn dân mà dụ bảo và cho 200 lạng bạc, sai 100 biền binh vệ Hổ oai tiền lệ theo làm việc quân.
    Lấy Vệ uý vệ Thần cơ tiền là Mai Văn Châu làm Trấn thủ Biên Hoà.
    Chánh quản cơ quyền thự Trấn thủ Cao Bằng là Hoàng Tiến Trọng chết. Truy tặng Trấn thủ Cao Bằng, thưởng cho 200 quan tiền. Lấy Vệ uý vệ Minh võ quân Thần sách là Vũ Văn Tình quyền thự Trấn thủ Cao Bằng.
    Lấy Chưởng cơ Thống quản thập cơ Uy thắng là Ngô Văn Vĩnh làm thự Phó tướng Hậu quân, Vệ uý vệ Hậu bảo nhất là Phạm Tiến Thuỵ làm thự Thống quản thập cơ Uy thắng của Hậu quân kiêm lý Đê chính Bắc Thành.
    Lấy Phó vệ uý vệ Long võ trung quân Thị nội là Hồ Văn Khuê làm Phó vệ uý vệ Hậu nhất quân Thị trung, vẫn kiêm quản các đội Dực võ, Cai đội Cẩm y là Hoàng Văn Đàm làm Phó vệ uý vệ Long võ trung, Phó vệ uý vệ Chấn uy là Nguyễn Hữu Thuyên làm Phó vệ uý vệ Hậu nhị, Phó vệ uý vệ Quảng võ quân Thần sách là Tống Văn Trị làm Vệ uý vệ Hậu bảo tam, Phó vệ uý vệ Hộ lăng tiền là Nguyễn Văn Quế làm Phó vệ uý vệ Quảng võ, Cai đội Tôn Thất Tường làm Phó vệ uý vệ Hộ lăng tiền, Vệ uý vệ Hữu bảo nhị là Hồ Văn Vân làm Vệ uý vệ Tráng võ quân Thần sách.
    Sửa lại nhà Hương Cẩm.
  • Chia sẻ trang này