0059.054 - @ nhani78 (Done WK)

4/12/15
0059.054 - @ nhani78 (Done WK)
  • PDF
    GoogleDocs


    :rose::rose::rose:
    Sai Tham tri Hộ bộ lĩnh Hộ tào Bắc Thành là Nguyễn Công Tiệp mộ lấy 50 người dân ngoại tịch từ Quảng Bình trở vào Nam đặt làm đội Kiên phú thuộc tào, cấp cho lương tháng như lệ binh Kiên thuộc hai tào Binh, Hình.
    Chức Quản phủ các phủ ở Bắc Thành và Thanh Nghệ từ trước đến nay phần nhiều lấy hàm Quản vệ, Quản cơ kiêm lĩnh. Vua cho rằng Quản vệ, Quản cơ đều có trách nhiệm cầm quân, sắc rằng phàm Chánh phó quản vệ, Chánh phó quản cơ được cử đi lĩnh chức Quản phủ thì chức Quản vệ, Quản cơ khuyết đó phải tâu xin mà bổ, không được kiêm quản, duy có ba phủ Tĩnh Gia, Diễn Châu, Hà Hoa nguyên lấy hàm Vệ uý lĩnh án thành kiêm quản việc phủ thì vẫn để như cũ không đổi.
    Cấp cho Khâm thiên giám hai thước phong vũ và hàn thử. (Thước phong vũ chuyên xem mưa gió thuận nghịch, lớn nhỏ, xét nghiệm ghi chép hằng ngày, thuỷ ngân nấu với thuốc đựng ở trong ống pha lê ở độ nào, phân nào, ví như ở 28 độ 4 phân, bỗng lên cao 1 phân, về mùa xuân, mùa hạ thì có gió Đông nam, về mùa thu, mùa đông thì có gió Đông, hay Đông bắc, đều là gió nhỏ hoặc mưa nhỏ, khí hậu ôn hoà, thế là thuận. Như lên 2 phân, thì gió mưa hơi to, hoặc nắng to nóng dữ. Bỗng thụt xuống 1 phân, về Xuân, Hạ thì có gió Tây bắc hay gió Bắc, về Thu, Đông thì có gió Tây nam hay gió Tây, hoặc mưa to gió lớn, khí hậu rét lạnh, hoặc oi bức khó chịu, thế là nghịch. Như sụt xuống 2, 3 phân thì có bão. Nếu bỗng sụt xuống lại lên ngay thì khí nhẹ dễ tan, phỏng có gió mưa cũng không to lắm. Bỗng lên rồi lại xuống ngay là khí bất chính xông tới, tất ngày hôm ấy hoặc 2, 3 ngày sau có gió mưa, nếu không gió mưa thì khí hậu không hoà, nhưng chỉ qua loa thôi. Nếu bỗng sụt xuống 1, 2 phân mà trời đã mưa gió to, thấy thuỷ ngân dần dần lên, thì gió mưa trong một ngày hay vài giờ thôi, như lên chóng thì mưa gió chóng tạnh. Thước hàn thử thì lấy mực nước ở trong ống (pha lê) lên xuống cao thấp mấy độ mà xét nghiệm. Trên thước có nét gạch ngang là chỗ bắt đầu xem nóng lạnh, như ở Kinh sư, theo thường mà nói, ngày Hạ chí thì nước ở trong ống từ chỗ gạch ngang tính ngược lên khoảng trên dưới 27, 28 độ ; đến ba tiết phục là lúc rất nóng cũng chỉ dưới 29 độ thôi ; ngày Đông chí thì trên dưới 15 độ, 16 độ ; trước sau tiết Đại hàn vài ngày, hoặc cuối Đông đầu Xuân, nếu gặp gió bấc, mưa dầm mấy ngày liền, cũng chỉ 14 độ thôi. Từ trước đến nay không bao giờ cực nóng đến trên 35 độ và cực rét đến dưới 10 độ. Phàm các nước ở dưới đường xích đạo cùng ở phía Nam, có chỗ mùa hạ nóng hơn 40 độ ; nếu đến 50 độ trở lên thì nóng dữ là thường. Các nước từ vài chục độ trở lên ở phía Bắc xích đạo thì mùa đông rét xuống đến gạch ngang thì nước đóng thành băng chắc xe sắt có thể đi qua được ; nếu xuống hơn 10 độ thì rách da rụng ngón tay). Vua từng bảo bộ Lễ rằng : “Thước hàn thử vốn có độ thường, như khí trời tạnh sáng thì khí dâng lên, âm u thì khí sụt xuống, biết trước khí hậu cái ấy rất nghiệm. Nếu ấm áp mà khí xuống, âm u mà khí lên thì là khí bất chính, nhân dân dễ sinh bệnh tật. Lấy thước ấy để đo lường khí hậu thực là phép diệu. Biết xem xét kỹ thì suy tính không sai”.
    Lại sai cấp cho Gia Định và Bắc Thành hai thước phong vũ và hàn thử và cho Tuyên Quang, Lạng Sơn ở cực bắc và Hà Tiên ở cực nam, ba trấn ấy mỗi trấn một cái thước hàn thử để xét nghiệm đến cuối năm thì biên gộp đưa về bộ để tâu lên. Dụ rằng : “Đấy là một điểm trong việc trẫm thiết tha nghĩ đến đời sống của dân mà xét nghiệm mưa nắng”.
    Đổi ty Hành nhân ở Bắc Thành cho lệ theo ngạch Kinh, sai Chưởng cơ Nguyễn Văn Lộc kiêm quản.
    Lính vệ Cẩm y có kẻ ăn trộm bị lính tuần bắt được. Vua nói rằng : Cẩm y là quân Túc vệ, trẫm đãi rất hậu, mà còn dám trộm cắp như thế, chẳng những là phụ ơn nuôi nấng mà còn không coi pháp luật vào đâu, nên theo quân luật mà xử”. Bèn sai chém ở chợ Đông. Quản quan là Chưởng cơ là Nguyễn Văn Quyền phải giáng 1 cấp.
    Bắt đầu đặt phủ An Biên ở Hà Tiên, phủ Trùng Khánh ở Cao Bằng. Phủ An Biên lấy ba huyện Hà Tiên, Long Xuyên, Kiên Giang lệ vào, phủ Trùng Khánh lấy bốn châu Thượng Lang, Hạ Lang, Thạch Lâm, Quảng Uyên lệ vào. Vua cho rằng hai phủ ấy công việc còn ít, dụ sai trấn thần kiêm lý, đợi nhân khẩu ngày nhiều, đất đai ngày mở để đặt Tri phủ.
    Ác man ở nguồn Chiên Đàn, dinh Quảng Nam họp nhau vài người lẻn xuống cướp đốt nhà dân rồi đi. Thủ ngự là Nguyễn Văn Phú hoảng hốt báo là quân Man hơn nghìn người. Dinh thần là Trần Đăng Nghi và Lý Văn Phức liền sai biền binh đi tuần xét, làm sớ tâu lên. Vua sai Thị vệ đến dò, biết được tình trạng. Phú phải tội cách chức phát đi làm lính ở cơ Định man, đạo Cam Lộ ; bọn Nghi đều phải giáng 1 cấp. Sai rút quân về.
    Trấn thần Nghệ An tâu rằng ngạch thuế gỗ lim năm nay xin y lệ định mà trưng thu, số còn thiếu từ trước truy thu thì phải dài 15 thước trở lên mới cho nộp. Vua dụ rằng : “Lời xin của bọn ngươi là biết trọng thuế khoá nhà nước, song đầu tre khúc gỗ cũng còn có thể dùng được, huống chi gỗ ấy cần dùng rất nhiều, sao cứ phải lấy theo hạn ấy ? Nay mộc hộ đem nộp không cứ số chính cung, hay số thiếu trước, phàm gỗ ngang 6 tấc, dài 10 thước trở lên đều cho chiết trừ, để tiện cho dân”. Nhân bảo bộ Công rằng : “Trẫm tự lên ngôi đến nay, dùng gỗ rất là dè dặt, nhà ngang, nhà bếp có khi làm bằng gỗ nối, tuy lợi không bao lắm, nhưng để lại mà dùng mãi mãi về sau cũng không nên bỏ qua. Từ nay phàm cây gỗ đã dùng làm mà rỡ đi thì phải chọn gỗ nào còn có thể dùng được thì trữ lại”.
    Cho Lệ Chung tập phong tước Ứng Hoà hầu, ban cho sách và ấn, kiêm giữ việc người làm chủ, nên đặc cách phong cho, mà cho miễn việc chầu hầu, cho lương hằng năm 600 quan tiền, 500 phương gạo và cấp cho một đội Dực tráng theo lệ để sai khiến. Lại sai bộ Lại chọn lấy một người có học hạnh cho hàm Thất phẩm để sung làm Giáo tập, kiêm Hộ lý ấn triện.
    Thuyền buôn Anh Cát Lợi bị nạn đậu ở Bình Thuận. Vua sai trấn thần tính đầu người cấp cho tiền gạo. Dụ rằng : “Nước ấy vốn có tiếng là quỷ quyệt, gian trá trăm khoanh, đến đâu cũng hay sinh chuyện, nên khéo xử trí, chớ để cho đi lại tự do”. Bọn chúng 7 người, sau tự tiện đi Gia Định. Vua nghe tin phạt bổng trấn thần, sai đưa hết cả về Gia Định để ở đấy, đợi khi thuận tiện thì thả về.
    Sai dẫn con voi ngự đến sân điện cho ăn. Vua bảo thị thần rằng : “Giống vật này rất lành. Người xưa chỉ nói sức chó, ngựa, chưa từng nói đến voi, ý giả người xưa, chưa nuôi voi nên không biết tính nó thuần”. Lại ngoảnh lại bảo Phan Huy Thực rằng : “Ngươi có biết việc cũ đời Khai Nguyên nhà Đường không ? Vua Minh Hoàng có con voi mắt biếc, từng sai ngậm chén rượu dâng thọ, có yến tiệc thì dùng nó. Đến khi Lộc Sơn vào Trường An, cũng sai con voi ấy ngậm chén. Nó giận giương mắt nhìn không chịu làm. Nó tuy là vật ngu xuẩn còn biết rằng chăn nuôi một ngày, cương thường nghìn thủa. Tính rất tốt như thế, hơn chó ngựa nhiều. Tiên triều ta có một con voi đực tên là Tế. Khi quân Trịnh vào lấn, sai tướng cưỡi nó đi cự chiến. Quan quân nhiều người chết, voi lội qua sông Gianh về đến bờ nam, lấy vòi thăm biết là không có tướng mục, lại qua sông xông vào trận, tìm thấy được tướng mục đem về. Voi rống lên một tiếng rồi ngã lăn xuống đất. Đến nay còn thờ. Đó đều là bằng chứng rõ ràng về tính tốt của giống voi”.
    Lấy bốn bảo Thạch Lĩnh, Kỳ Lộ, Vân Trúc, Phước Sơn ở Phú Yên, làm nơi phát phối chưa có chỗ nhất định, bèn sai trấn thần bàn cách xếp đặt. Trấn thần xin lấy bốn bảo ấy làm phối sở, nhà nước cấp cho cày bừa để khai khẩn, rồi phái lính trấn cùng dân thủ bảo coi giữ. (Lính trấn mỗi bảo 5 người, dân thủ bảo mỗi bảo 20 người). Lại xin chọn bảo trưởng, người nào làm nổi việc thì cho chức để có thống thuộc. Vua y lời tâu. Cho bảo trưởng làm Bát cửu phẩm Bá hộ, mỗi bảo 2 người, cho theo phẩm mà cấp bổng ; dân thì chia ban mà cấp lương. Lại hạ lệnh cho trấn Bình Hoà lấy bảo Bình Nguyên làm phối sở, liệu lấy lính trấn coi giữ những người bị phát phối ; đồ làm ruộng cũng do nhà nước cấp.
    Thượng thư Lễ bộ là Nguyễn Xuân Thục ốm xin nghỉ một tuần, mới hơi đỡ đã gượng vào chầu. Vua yên ủi dụ rằng : “Chính thể của nhà nước tất nhờ bầy tôi cùng lòng cung kính thì mới nên việc. Nay bầy tôi công lao cũ còn lại có ít, trẫm từng lấy làm lo. Nay thấy khanh bệnh khỏi rất lấy làm mmừng. Nhưng sau khi ốm nặng càng nên bồi bổ giữ gìn cho khéo, hãy cho làm việc ở bộ, không cần vào chầu làm gì cho mệt”.
    Vua ra coi chầu, triệu phủ thần Thừa Thiên hỏi về tình trạng nông dân. Thưa rằng : “Nhà nông đều nói nắng lâu rồi mưa, nay lại tạnh ráo, thế là có hy vọng được mùa”.
    Vua nói : “Trẫm từng xem nông thư, thấy nói một ngày mưa vài ngày tạnh thì khí đất ấm áp, lúa ruộng tốt xanh. Vậy nhà nông mong được mùa chắc cũng có lý”. Lại cùng bầy tôi bàn luận nghĩa sách. Bảo quản Văn thư phòng là Thân Văn Quyền rằng : “Sách Luận ngữ có câu rằng : “Ta không thể đi chân không để lấy xe làm quách”. Như thế thì nhà Khổng Tử không có vật gì khác nên phải xin xe ấy để làm quách à ?”. Quyền lấy nghĩa chú thích là mua xe để đáp. Vua nói : “Cổ chú vẫn như thế, trẫm tưởng thỉnh xa là xin gỗ ở xe để làm quách, nhưng lời cổ chú không có ý ấy cho nên ngờ”. Lại nói : “Xưa nay đều nói rằng trời tròn đất vuông. Phàm đất vuông thì hẳn không theo trời mà chuyển vận được, cho nên sách Hỗn thiên nghi nói rằng trời hình như quả trứng, trời bao ngoài đất, thì đủ biết đất tròn. Nhưng lời nói đời xưa đã thành, không nên bày ra thuyết lạ nữa”.
    Khởi phục Đào Quang Lý làm Hiệu uý vệ Cẩm y. Trước kia Lý làm Trấn thủ Phiên An xén bớt tiền công, Hữu ty xử tội chết. Vua nghĩ Lý có công Vọng Các không nỡ giết, bèn phát phối đi Gia Định để gắng sức làm việc khổ sai. Lý theo thành làm việc ba năm không ngại khó nhọc. Thành thần vì Lý tâu lên. Hạ lệnh đưa về bộ dẫn vào yết kiến. Khởi phục cho chức ấy. Sau vì già yếu cho hưu trí.
    Định lệ lương đi đường cho quân lính ở Kinh và ở ngoài (Phàm kinh binh phái đi các địa phương, như đi đổi thú, đi việc công về, không kể số quân nhiều ít, ngoại binh có chỉ triệu về Kinh, hay phái đi hạt khác, số quân từ 100 người trở lên, đi bộ từ Kinh và đi qua các thành dinh trấn đều lấy ngày lên đường và xét thực số người đi mà cấp cho lương ăn đi đường hằng ngày, khi đến nơi mới thôi).
    Lấy Chánh quản cơ cơ Thịnh tượng là Hồ Văn Đa làm Phó vệ uý quân Thị nội, theo Chưởng cơ Nguyễn Văn Toán để quản lý năm cơ An tượng, Định tượng, Kiên tượng, Bình tượng, Trung tượng.
    Sai Lang trung Nội vụ phủ là Nguyễn Văn Biểu hiệp cùng Thiêm sự Lê Bá Tú, Lang trung là Nguyễn Hữu Thu để Hộ lý ấn quan phòng phủ Nội vụ, Lang trung Vũ Khố là Nguyễn Đăng Uẩn hiệp cùng Cai cơ Hoàng Văn Tâm, Thiêm sự Trần Văn Hoằng, Đặng Chương, Lang trung Đoàn Nguyên Kiệt để Hộ lý ấn quan phòng Vũ Khố.
    Sai Quản đạo Cam Lộ là Tống Văn Uyển dồn những tù phạm tội sung quân và tội lưu bổ làm lính cơ Định man. Vua bảo bộ Binh rằng : “Những người phạm tội sung quân và tội lưu vẫn là đáng tội, mà giam giữ lâu ngày, lòng trẫm không nỡ, nay ở thú sở Ai Lao có đến 115 người bị tội sung quân và tội lưu, nên sai cởi mở xiềng khoá, dồn làm ba đội 6, 7, 8 của cơ Định man, cho được tự tán. Còn 8 đội cũ thì dồn làm 5 đội từ 1 đến 5".
    Cai đội Tuần bạc là Trần Văn Toản cùng Thương bạc ty Vũ Hữu Tần đến tấn Đà Nẵng chọn mua hàng hoá của người buôn Phú Lãng Sa, có nhiều sự tham lam, bị người buôn khinh rẻ. Việc đến tai vua. Vua giận vì làm mất quốc thể. Bọn Toản bị cách chức, phát làm lính vệ Tả hộ làm việc khổ sai. Sai Thị lang Lại bộ là Lê Đăng Doanh kiêm lĩnh chức Thương bạc sứ, Cai đội Thị nội là Ngô Văn Quyền quản đội Tuần bạc.
    Sai Quảng Oai công Quân mộ người lập hai đội Dực tiệp nhất, nhị ; còn ba đội Dực tiệp nhất, nhị, tam cũ thì đổi làm các đội ứng sai, vẫn chia cho lệ theo như cũ.
    Bắc Thành có nhiều trộm cướp. Các quản phủ và thủ bảo ở các trấn và các biền viên của thành phái đi, lúc mới nghe báo thì dùng dằng trông ngóng, giặc đi rồi mới đến nơi vặn hỏi để sách nhiễu, khiến dân càng khổ thêm, đến nỗi có câu nói thà chịu trộm cướp còn hơn báo quan. Vua biết rõ tệ ấy, bèn sai truyền dụ cho thành thần nghiêm bảo từ nay về sau lúc không có việc thì theo đất mà đóng đồn, thường ngày tuần xét, khi có việc thì đem quân đến mau để đánh bắt, làm sao quét sạch sào huyệt, bắt được tướng giặc, để cho trong hạt được yên. Người có công trạng, từ Suất đội trở lên thì cất nhắc trước hết, quân lính thì khen thưởng ; nếu còn dám quấy nhiễu dân thì chém ngay ở địa phương để mọi người biết.
    Cho Phan Văn Cửu là con Đô thống chế Phan Văn Thúy làm Hiệu uý vệ Cẩm y, cho chiếu phẩm chi bổng.
    Vua thấy từ trước đến nay biền binh lưu ngạch ở các vệ đội thuộc trấn Bắc Thành, người quê từ Quảng Bình trở vào Nam lẻ tẻ không thành vệ đội (mỗi vệ có 3, 4 đội, mỗi đội có 30, 40 người), bèn sai thành thần chiếu theo người nào quen biết chỗ nào thì lượng bổ làm lính cơ, ở năm nội trấn thì mỗi cơ 10 đội, ở sáu ngoại trấn thì mỗi cơ 5 đội, mỗi đội 50 người, đều lấy tên trấn mà đặt tên, còn thừa thì để lại ngạch, thiếu thì mộ thêm sung vào, vẫn theo trấn sai phái việc quân.
    Đổi tên các cơ thổ binh ở sáu ngoại trấn Bắc Thành. Cơ Thái Nguyên ở Thái Nguyên làm cơ Thái hùng, cơ Hùng dũng ở Cao Bằng làm cơ Cao hùng, cơ Lạng sơn ở Lạng Sơn làm cơ Lạng hùng, hiệu Hùng nhất ở Tuyên Quang làm cơ Tuyên hùng, hiệu Tiền dũng ở Quảng Yên làm cơ Quảng hùng, hiệu Phấn hưng ở Hưng Hoá làm cơ Hưng hùng.
    Lại sai hai vệ Tráng võ, Cường võ Hậu dinh quân Thần sách ở lại đóng thú ở thành phủ Diễn Châu. Trước đây hai phủ Tĩnh Gia và Diễn Châu ở Thanh Nghệ chỉ lấy các vệ của Hậu dinh quân Thần sách đóng thú dài hạn. Nay vua muốn cho chia lao dật đều nhau nên sai đổi phái dinh khác vệ khác lần lượt thay nhau. Đến nay có người nói lính thú Thanh Hoa đổi đi thì tiện, còn hai vệ Tráng võ, Cường võ thuộc Nghệ An thì đều quê ở Diễn Châu, cứ cho ở lại vì người quen nhau, nếu đổi người nơi khác đến thì đi lại khiêng vác thêm phiền phí. Vua bèn sai trấn thần bàn định, cũng cho để lại là tiện. Vua y cho.
    Hiệp trấn Hà Tiên là Nguyễn Kim Truy chết ; lấy Thiêm sự Binh bộ hiệp lý trấn Biên Hoà là Vũ Du làm thự Hiệp trấn Hà Tiên.
    Chức dịch ở kho Kinh có tệ tham nhũng, việc phát giác. Vua nhân bảo bộ Hộ rằng : “ở Kinh mà còn như thế, huống chi ở thành trấn xa thì thói tệ nói sao cho xiết. Gia Định và Bắc Thành hằng năm chi thu càng nhiều, từ trước đến nay người giữ kho chưa từng thay đổi, cho nên lâu ngày dễ dựa nhau mà làm gian, mỗi khi thanh tra thường xét ra thừa thiếu, trong ấy chẳng khỏi có tệ đổi chác bớt xén. Phàm kho tàng là nơi chứa thuế nhà nước, há lại dung cho bọn gian giảo nhờ để lợi mình. Nên nghĩ cách sửa đổi. Vậy hạ lệnh cho quan hai thành hết lòng trù tính. Kho tàng ở thành và các trấn từ sau cứ đến khoá thanh tra ba năm thì hoặc nên phái binh dân nơi khác đổi bổ làm lính kho mà giám thủ, hoặc nên cứ cho làm việc thường xuyên như cũ mà quản thúc nghiêm ngặt, cốt sao không sinh tệ, bàn cho ổn thoả để tâu lên”. Rồi chuẩn y lời nghị định rằng ở Bắc Thành và các trấn thì chủ thủ và lính kho cứ đến khoá thanh tra ba năm thì thay đổi một lần. Còn lĩnh kho ở thành trấn Gia Định nguyên là lính mộ thì cho lấy dân phụ cận sung bổ mỗi kho 2 đội (duy kho ở Đốc Tín, ở Châu Đốc thì 1 đội), mỗi đội 50 người, miễn cho thuế thân, đặt chức Đội trưởng và Ngoại uỷ đội trưởng để đốc suất, lính thì chia làm ba ban, gặp có thu phát đong lường thì họp đến hết. Còn Chủ thủ, Cai đội, Đội trưởng hoặc Đề lĩnh cũ thì đợi sau khi thanh tra xét không có tình trạng xén bớt thì vẫn để ở lại giám thủ.
    Triệu Ký lục Bình Hoà là Lê Văn Đức về Kinh. Đức vào yết kiến. Vua hỏi đến tên giặc Man Ma Trập. Đức đem sự trạng tâu lên. Vua bảo rằng : “Ngươi bảo nó hẳn không có ý khác à ?” Thưa rằng : “Trập là người xảo quyệt, không như tù trưởng khác, nhưng quân nhà vua đánh một trận nó đã sợ rồi. Nay nó già lại ốm, tưởng cũng không thể làm gì được”. Vua nói : “Trập chẳng qua là tên giặc nhỏ, nếu biết gắng sức quy thuận cũng nên vỗ về, không thế thì đem quân đánh, chứ lại cứ bỏ đấy không hỏi đến hay sao ?”. Rồi Đức được đổi bổ Hữu Thị lang Công bộ.
    Giáng thự Tả Tham tri Công bộ là Bùi Đức Mân làm Ký lục Bình Hoà. Mân trước ở Bình Thuận cùng nguyên Thiêm sự hiệp lý trấn vụ là Thái Bá Hạc vì có yếu chứng án mạng kêu oan mà không chịu xét, đến nay việc phát giác, phải tội giáng, Bá Hạc cũng bị giáng làm Lang trung Hình bộ.
    Lấy Hàn lâm viện Thị độc học sĩ là Nguyễn Đăng Sỹ làm Hiệp trấn Quảng Yên, Tham hiệp Nam Định là Phạm Gia Tứ làm thự Hiệp trấn Tuyên Quang, Thiêm sự Lại bộ Hiệp lý dinh vụ Quảng Trị là Đặng Văn Nguyên làm Tham hiệp Sơn Tây.
    Lấy Tu soạn Nguyễn Khoa Minh làm Thiêm sự Nội vụ phủ.
    Nhà người ở thôn Mậu Lương (thuộc huyện Thanh Oai) trấn Sơn Nam bị cháy, cháy lan hơn 80 hộ, chết mất hàng chục người, binh dân vì thế trốn tan đi. Quan Bắc Thành lấy cớ bị cháy không đầy 100 hộ không tâu lên. Dân ấy kêu đến Kinh. Vua nói rằng dân bị tai hại đau khổ như thế mà nhất khái câu nệ lệ thường, thì tình ẩn của dân sao có thể thấu đến trên được ? Lập tức sai thành thần xét cấp cho mỗi hộ 2 quan tiền 1 hộc thóc, người chết mỗi người 3 quan tiền ; những lính trốn nên bắt thì tạm hoãn. Lại truyền dụ cho các địa phương từ sau có việc như thế thực tâu lên, không kể lệ 100 hộ.
    Cho Tri huyện Nguyễn Thế Kiệt làm Cai đội, trật Tòng ngũ phẩm, theo Bắc Thành sai phái việc bắt giặc. Kiệt trước làm Tri huyện Việt Yên, có tang xin về, đến khi hết hạn nói với thành thần xin đem thuộc hạ bắt giặc. Thành thần vì Kiệt tâu lên. Vua sai cấp thêm cho 100 binh của thành đi theo, đến nay bắt được giặc đem nộp nên có mệnh ấy.
    Trấn thần Bình Định tâu rằng : “Các nơi xung yếu những đầu nguồn cửa biển trong hạt, trước đặt đồn thủ là 28 sở (nguồn Trà Vân 5 sở, từ nguồn Trà Bình đến bến Đốc Chính bến Trường Tân 16 sở, nguồn Ô Liêm 2 sở, nguồn Thạch Bàn, nguồn Phương Kiệu, nguồn Lộc Động, nguồn An Tượng, cửa biển Thi Nại đều 2 sở) nay xin đặt thêm ở Ly Kiệu thuộc sở Trường Tân, ở Hương Thuỷ thuộc nguồn Phương Kiệu, ở Thị Dã thuộc nguồn Hà Thanh và ở đỉnh núi Hổ Ky thuộc cửa Thi Nại, mỗi nơi một bảo nữa”. Vua theo lời xin. Hạ lệnh đợi xong nông vụ sẽ thuê dân làm. Còn nguồn Trà Vân thì lại chọn đất mở đồn bảo rộng thêm để tiện phòng giữ. Trấn thần lại xin ở nơi xung yếu tại hai nguồn Trà Vân và Trà Bình đặt thêm 4 bảo (Trà Vân thì 2 sở Bàn Chấn và Cát Khuê, Trà Bình thì 2 sở Cối Bản và Thạch Tượng) và dời 12 sở bảo cũ đến chân núi. Vua đều y cho.

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN XLI

    THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ

    Bính tuất, năm Minh Mệnh thứ 7 [1826], mùa thu, tháng 9. Triệu Tú tài ở Bắc Thành là Phạm Đình Hổ về Kinh. Vua từng bảo Phan Huy Thực rằng : “Trẫm thức khuya dậy sớm chỉ nghĩ về việc cầu người hiền mà những người hiền lương phương chính từ trước đến nay chưa thấy cử được người nào, hay là người hiền bị bỏ sót ở nơi thôn quê mà chưa biết chăng ? Ngươi là người Bắc Hà, có ai là người học rộng, nết tốt được người tôn phục như Phạm [Quý] Thích, ngươi đã biết thì đề cử, trẫm sẽ bổ dùng”. Thực thưa rằng : “Những bậc túc nho lão sử ở Bắc Hà thì rơi rụng hầu hết. Hoặc có người mới tiến thì thần đi làm quan lâu ngày cũng không biết được”. Vua nói : “Trước kia trẫm đi Bắc tuần nghe tiếng Phạm Đình Hổ cho triệu vào yết kiến, nhưng Hổ nói có bệnh xin về, chẳng biết y học hạnh ngày thường như thế nào ?” Thực thưa rằng : “Hổ là người cứng rắn, giặc Tây Sơn mấy lần gọi không chịu ra, thần lúc bé có cùng học chỉ biết qua như thế, ngoài ra không được biết rõ”. Vua nói : “Người ấy tiết tháo đáng khen, nên triệu vào để dùng, đấy cũng là ý lấy năm trăm cân vàng mà mua bộ xương ngựa”((1) Chiến quốc sách chép : “Quách Ngỗi nói rằng : đời xưa có người lấy nghìn vàng tìm mua ngựa thiên lý, sai người mua xương ngựa chết 500 vàng. Người ta đồn với nhau rằng ngựa chết còn mua 500 vàng huống là ngựa sống”.1). Liền sắc cho quan Bắc Thành tuyên chỉ triệu vào, cấp cho 20 lạng bạc làm tiền đi đường. Khi Hổ đến, cho yết kiến ở điện Cần Chính, thung dung hỏi rằng “Ngươi bao nhiêu tuổi”. Hổ thưa rằng : “Thần gần sáu chục mà sức vóc đã kém, mới nghe có lệnh triều đình sợ hãi khôn xiết, chỉ sợ không đủ sức làm việc”. Vua hỏi : “Thấy ngươi là danh sĩ cho nên triệu đến để phòng lúc hỏi han thôi !”. Bèn cho làm Hàn lâm viện Biên tu, rồi thăng Thừa chỉ và ban cho mũ áo đại triều.
    Vua bảo bộ Lễ rằng : “Hổ có tính cương trực, không xu nịnh kẻ quyền quý, nên đặc biệt hậu đãi để khuyên người khác sau này”.
    Lấy Lang trung Hộ bộ là Nguyễn Chương Đạt làm Tham hiệp Thái Nguyên.
    Thự Tham tri Binh bộ lĩnh Binh tào Gia Định là Lê Hy bị ốm về nghỉ. Lấy Thiêm sự Binh bộ là Bùi Phổ làm thự Hữu Thị lang Binh bộ, vẫn Biện lý Binh tào Gia Định.
    Dồn bổ hơn 200 người lính Giáo dưỡng làm đội nhất, nhị, tam, tứ ; lấy Hiệu uý vệ Cẩm y là bọn Nguyễn Văn Lược, Phạm Văn Cửu, Nguyễn Văn Hoà, Trần Văn Thọ trông coi.
    Thả cho biền binh đồn Uy viễn về Gia Định. Trước đồn Uy viễn chia ban về chầu. Vua nghĩ đường đi xa phải lặn lội, ốm thì chữa cho, lại cấp cho tiền lương tháng, đến nay cho về. Bộ Hộ cho rằng lính không đủ 100 người không cho lương ăn đi đường hằng ngày. Giữa đường thiếu ăn. Vua nghe tin, tức thì sai truyền chỉ rằng trên đường phải đi theo phí tổn lính đi mà cấp. Những lính đã đến thành rồi, thì dụ cho thành thần cấp cho 500 quan tiền. Bộ thần vì câu nệ lệ thường không đề tâu rõ bị xử phạt.
    Vua từng bảo Hộ bộ Lương Tiến Tường rằng : “Làm chính trị quý biết đại thể, đại thể đã rõ thì việc gì chẳng xong !”. Lại nói : “Gần đây đặt phép thuê người làm là ý muốn cho dân vui đến làm việc, thế mà Hữu ty vâng làm cũng còn không khỏi bắt ép người ta, thế là chỉ có danh là thuê mà không có sự thực. Trẫm nghe nói rất không bằng lòng. Ngươi nên thể ý trẫm, răn bảo Hữu ty chớ làm khổ dân”.
    Trong Kinh kỳ có bão, nước lụt lên mạnh. Sắc cho Phủ thừa là Phan Huy Chú lấy tiền kho phát chẩn cho dân ngoài quách và dân ba huyện thuộc Thừa Thiên. Chú phát chẩn ít. Vua triệu đến trách rằng : “Trẫm gia ơn hậu cho dân Kinh kỳ vốn không kể phí ; nay ngươi làm thế là không biết quốc thể quá lắm. Phàm nhà giàu chu cấp cho làng xóm còn chẳng tiếc gì, huống chi nhà nước phát chẩn cho dân mà còn tiếc ư ?”. Lại cấp thêm cho. Quảng Nam, Quảng Ngãi cũng báo tai nạn. Sai đều xuất tiền gạo chẩn cấp.
    Vua xem bản đồ cửa biển Tư Dung, bảo thị thần rằng : “Trước kia trẫm đi tuần Quảng Nam, khi thuyền ra cửa Thuận An, sóng gió khá dữ, không yên ổn bằng cửa Tư Dung. Trẫm đã nhiều lần sai đào vét mà lại bị phù sa lấp tắc, ý giả trời vì nhà nước mà đặt chỗ hiểm chăng ?”.
    Lấy Thiêm sự Hình bộ là Nguyễn Văn Đống làm Thiêm sự Binh bộ sung biện Binh tào Bắc Thành, Lang trung Hộ bộ là Trần Công Chiếu làm Thiêm sự Hộ bộ sung biện Hộ tào Bắc Thành.
    Trấn thần Bình Định tâu rằng hơn bảy chục phường ấp trong hạt trước vì xiêu dạt, ngạch binh thiếu đã lâu, nay dần dần trở về mà nhà cửa vẫn còn tiêu điều, xin hãy hoãn bắt. Vua nói : “Binh vốn không thể thiếu được, mà bệnh của dân cũng nên phải chữa. Nay dân mới về chưa có sản nghiệp, mà vội bắt điền lính thì chịu sao nổi ? Vậy cho hoãn một năm. Lại thấy đương mùa làm ruộng, dụ cho trấn thần xét hỏi dân gian có muốn vay tiền thóc để làm ăn thì lượng cấp cho.
    Chuẩn cho các vệ cơ đội ở Bắc Thành từ Chánh đội trưởng đến quân lính mỗi năm được cấp quần áo một lần, bắt đầu từ năm nay.
    Đô thống chế Tiền dinh quân Thần sách là Nguyễn Văn Trí ốm, cho ba chi nhân sâm.
    Triệu Cai bạ Vĩnh Thanh là Lê Đại Cương về Kinh. Lấy Lang trung Công bộ thự Thiêm sự hiệp lý trấn vụ Phú Yên là Vũ Huy Đạt làm Thiêm sự Công bộ thự Cai bạ Vĩnh Thanh. Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt tâu xin cho Cương ở lại làm Tuyên phủ sứ phủ Lạc Hoá. Vua không cho, dụ rằng : “Đặt quan chia chức là việc lớn của triều đình ; tuỳ tài bổ dụng là phép công của vương giả. Cương đã có mệnh lệnh rồi mà còn xin lưu lại là sao ? Nếu bảo rằng người ấy hợp với đất ấy thì sao không tâu xin từ trước khi chưa có lệnh triệu ?”. Duyệt sợ hãi, dâng biểu xin nhận tội. Vua tha cho. Bèn đổi bổ Tham hiệp Quảng Yên là Trần Chấn làm Thiêm sự Binh bộ, gia hàm Ký lục, lĩnh Tuyên phủ sứ phủ Lạc Hoá, kiêm quản biền binh đồn Uy viễn.
    Lấy Tham quân Thị nội là Nguyễn Văn Bảng làm Thiêm sự Binh bộ hiệp lý trấn vụ Biên Hoà.
    Đình thần dâng biểu cử 14 người Cai bạ, Tham hiệp, Tri phủ, Tri huyện. Vua chỉ cho 6 người. Ngoảnh lại bảo Thượng thư Lại bộ là Trần Lợi Trinh rằng : “Phủ huyện phẩm trật thấp dùng thử thì có thể được, đến như quan địa phương vâng lệnh tuyên bố đức hoá để giúp đỡ trẫm thì nên kén những người trẫm đã biết, không nên cử bừa bãi”. Lại bảo bọn Thị lang Binh bộ là Đặng Văn Thiêm rằng : “Đạo làm vua ở chỗ biết người, nhưng nhân tài có cao thấp lớn nhỏ khác nhau, nếu không xem xét dần dần cho kỹ thì ít khi khỏi dùng lầm. Về việc dùng người, trẫm vẫn luôn luôn để ý, mỗi khi có cất nhắc một người tất phải xét lời nói việc làm, xem những cử chỉ, thế mà cũng không thể biết hết mọi người. Chỉ mong bọn khanh làm tai mắt trẫm, có biết ai nên đem tâu lên, trẫm sẽ tuỳ tài khí mà dùng, nhất thiết đừng có chút ý riêng vào đấy” !.
    Đình thần dâng sách Thu thẩm. Vua mặc áo trắng ngự ở Tiện điện, triệu bầy tôi chầu hai, ba lần để xét hỏi lại những tù nặng, hoãn bắt hơn 150 người. Đến khi bộ Hình đem tập án tù xử quyết tâu lại, vua nói : “Đặt ra hình là mong không phải dùng hình, thực là thánh nhân bất đắc dĩ mà đặt. Nhưng xem đến thì người ta không thể không động lòng thương xót”. Rồi sai bộ Hình truyền dụ cho Bắc Thành rằng từ sau phàm những án quan trọng như án trộm cướp và án mạng, có người liên can bị
  • Chia sẻ trang này