0059.055 -@Suongdem(Done-GD)

25/11/15
0059.055 -@Suongdem(Done-GD)
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:
    giam để đợi xét thì kỳ thu thẩm cũng gồm vào sách tâu. Lại nghiêm sức các quan địa phương định hạn tìm bắt cho được những phạm nhân trốn đem đến tra xét, không được để đà luỵ kéo dài.
    ở Thanh Hoa có giặc biển đón cướp thuyền buôn ở đảo ngoài cửa Y Bích. Chủ thuyền là bọn Nguyễn Ba đốc suất những thợ lái thuỷ thủ hết sức đánh nhau với giặc. Giặc nhiều đứa nhảy xuống biển chết. Bắt được 2 chiếc thuyền và súng ống khí giới đưa nộp tại trấn. Việc đến tai vua. Thưởng cho 100 quan tiền.
    Lấy Tư nghiệp Quốc tử giám là Phan Bá Đạt làm Thiêm sự Lại bộ, Đốc học Nam Định là Nguyễn Đăng Sở làm Tư nghiệp Quốc tử giám.
    Đặt thêm chức Huyện thừa ở hai huyện Vĩnh Định và Hoằng An và chức Hiệp thủ ở ba đạo Tân Châu, Chiến Sai và Hùng Ngự ở Vĩnh Thanh, vì hai huyện ấy đất rộng việc nhiều, ba đạo ấy ở địa đầu biên giới là đường các thuộc quốc đi lại phải qua, đều là nơi xung yếu, lệ trước huyện có một Tri huyện, đạo có một Quản đạo, quan thành Gia Định tâu xin đặt thêm.
    Lấy Trung lang Lễ bộ là Nguyễn Đạt làm Đốc học Bình Định.
    Quản đạo Ninh Bình là Nguyễn Tiến Nghĩa, Tham hiệp là Phạm Đình Tích phải tội cách chức. Trước đây, dân man ở Thiên Quan và Lạc Thổ là Quách Phước Thành và Bùi Văn Giám gây hiềm khích với nhau, cướp đốt lẫn nhau, bọn Tiến Nghĩa quá tin lời một bên, phái binh lính nã bắt, dân kinh động đến kêu ở trấn Thanh Hoa. Trấn thần đem việc tham tâu. Vua ra lệnh giải chức đợi xét, sau lại vì án dung túng kẻ côn đồ ẩn lậu đều bị cách chức.
    Sai Kinh binh diễn bắn súng tay chia làm ưu, bình, thứ ba bậc để thưởng. (Phàm bắn trúng đích một phát thì coi như trúng khuyên 2 phát, mỗi người bắn 12 phát, nếu trúng khuyên được 8, 9, 10 phát thì là hạng ưu, thưởng tiền 3 quan ; 6, 7 phát là bình, thưởng tiền 2 quan ; 4, 5 phát là thứ, thưởng tiền 1 quan).
    Sai bộ Hộ tư đi các thành dinh trấn đạo Gia Định, Bắc Thành, Bình Định, Quảng Ngãi, Nghệ An, Thanh Hoa, Ninh Bình, đến sang năm đều chở bạc nộp ở Kinh.
    (Gia Định và Bắc Thành đều 10.000 lạng, Nghệ An 5.000 lạng, Thanh Hoa 3.000 lạng, Bình Định 1.500 lạng, Quảng Ngãi và Ninh Bình đều 1.000 lạng. Gia Định thì chở đường biển, các nơi khác đều chỉ tải đường bộ).
    Mùa đông, tháng 10 mồng 1, lễ Đông hưởng.
    Lấy Hàn lâm viện Thị độc là Thân Văn Quyền làm Thượng bảo Thiếu khanh, vẫn quản lý Văn thư phòng.
    Triệu Hữu Tham tri Binh bộ lĩnh Binh tào Bắc Thành là Trần Quang Tĩnh về Kinh. Tĩnh vào yết kiến. Vua hỏi : “Gần đây việc trộm cướp ở Bắc Thành thế nào ?”. Thưa rằng : “Nay tuy chưa yên lặng, nhưng không đến quá như ngày trước”. Vua nói : “Người ta ai chẳng muốn yên, há lại thích làm trộm cướp hay sao ? Chỉ vì nỗi khốn bức không có chỗ kêu cho nên họp nhau làm trộm cướp. Trẫm trước xem tập án bộ Hình tâu lên, có việc dân đến báo cướp mà quan đi bắt giặc lại cho là hoang báo, đến nỗi đòi ăn tiền, những tật ấy không thể nói hết. Dân không yên nghiệp làm ăn mà đến phải làm trộm cướp cũng bởi cớ ấy”.
    Vua lại nghe tin những thuộc biền ở Bắc Thành đem binh đi bắt trộm, có nhiều người cáo ốm, dụ thành thần rằng phàm Chánh phó thống thập cơ đến Quản cơ có người nào ốm yếu khó đương nổi việc quân ngũ, thì cứ thực tham tâu. Lại sai sát hạch các Suất đội, Quản cơ, ai trước đã gắng sức khó nhọc mà nay già yếu, ai là người theo bậc tiến lên mà hèn kém không tài, thì phân biệt tâu xin đổi đi hay bắt về hưu, không được vị nể.
    Tha thuế cửa quan bến đò về sang năm cho các địa phương. Vua dụ bộ Hộ rằng : “Nhà nước ta nhờ trời giúp đức thấm sâu phước lành, sang năm là tiết Lục tuần đại khánh của Hoàng mẫu Hoàng thái hậu, trẫm nên gia ơn cho tôi dân trong ngoài đều được thấm nhuần, để ban phước rộng. Vậy những việc nên làm đợi đến đầu Xuân sẽ cử hành, duy có việc thuế cửa quan và bến đò, trừ thuế những nơi Trúc Bạch, Hữu Bằng, Tây Hồ, Hàng Đào, Tả Vọng, Ngũ Hồ thuộc phủ Hoài Đức đã cho lĩnh trưng trước, còn các chỗ khác lệ đến mùa đông năm nay cho đấu giá cũng phái người đi biên thu, thì trước hết miễn cho hết số thuế phải thu về năm Minh Mệnh thứ 8. Duy có ở Gia Định các sở thuỷ lợi ở thượng hạ lưu cùng Tiền Giang, Hậu Giang, đầm Hải Đông, các sở cước tổ ong và đồn tuần, mối lợi rất nhiều, hạt khác không thể ví được, nên nhất khái miễn thu thì hoặc sinh ra tranh nhau. Vậy hạ lệnh cho Tổng trấn Lê Văn Duyệt hết lòng lượng tính, phàm có thể ngăn được thói tệ của cường hào để sự sinh sống của dân ta được dồi dào thì tâu lên cho biết”. Duyệt bàn xin nên đánh thuế 38 sở, nên tha thuế 12 sở. Vua theo lời xin.
    Vời Hiệp trấn Nam Định là Trần Chính Đức, Tham hiệp Sơn Nam là Vũ Tiến Huân về Kinh. Lấy Hiệp trấn Thái Nguyên là Lê Đình Khuê làm Hiệp trấn Nam Định, Tham hiệp Sơn Tây là Đặng Văn Nguyên làm Tham hiệp Sơn Nam, Thiêm sự Công bộ là Nguyễn Trọng Vũ làm Tham hiệp Sơn Tây. Rồi Tiến Huân can vụ án đê điều huyện Duy Tiên không hợp thức, phải cách chức phát làm binh cơ Định man, đạo Cam Lộ.
    Lấy Tham hiệp Hưng Hoá là Tô Danh Hoảng làm thự Hiệp trấn Thái Nguyên, Tham hiệp Bắc Ninh là Nguyễn Văn Tuần làm Tham hiệp Hưng Hoá, Tham hiệp Thanh Hoa là Hoàng Văn Tú làm Tham hiệp Bắc Ninh, Thiêm sự Hình bộ là Vũ Đức Khuê làm Tham hiệp Nam Định.
    Bổ Nguyễn Tú làm Thiêm sự Binh bộ. Trước đây vua hỏi Thị lang Đặng Văn Thiêm rằng : “Tú là người thế nào ?”. Thưa rằng : “Tú đã từng thử dùng coi việc dân, trông suốt chính sự, từ khi theo việc ở Kinh đường đến nay, rất là nhanh nhẹn”. Bèn cho mệnh này.
    Vời Lưu thủ Quảng Trị là Phạm Văn Tín, Trấn thủ Bình Định là Nguyễn Văn Trọng vào chầu. Lấy Lang trung Công bộ là Phan Quý Đạt sung bổ Trưởng sử ở phủ Hoàng trưởng tử công. Vua từng bảo Tả thị lang Lại bộ là Lê Đăng Doanh rằng : “Giúp đỡ Hoàng tử tất phải là người ngay thẳng mới nên được đức tốt. Việc chọn chức Trưởng sử không thể không cẩn thận”.
    Đến đây bộ thần đề cử Quý Đạt. Vua y cho.
    Người làm việc ở kho kinh là Trần Công Trung đòi ăn tiền làm khó dễ, việc phát giác. Vua giao cho bộ Hình tra xét. án xong, vua nói : “Vụ án Đặng Văn Khuê năm Minh Mệnh thứ 3 đã theo luật nghiêm trị, thế mà bọn Trung còn dám công nhiên làm bậy, không kiêng sợ gì ; tuy tang vật không quá 10 lạng, nhưng luật quý ở chỗ làm cho lòng người sợ hãi, nếu nhu nhơ để sống một mạng ấy thì e sau này những kẻ khinh nhờn pháp luật sẽ nhiều ra, không thể giết hết được”. Bèn sai chém Trung ở chợ Đông. Tòng phạm thì phát đi sung quân ; giám lâm, chủ thủ đều bị giáng cách.
    Vua dụ bộ Hình rằng : “Người xưa lập pháp, làm tội để khỏi tội. Như vụ án Đặng Văn Khuê, Trần Công Trung, dẫu có quá nghiêm, nhưng cũng là theo ý của người xưa. Nên truyền dụ cho các thành dinh trấn đều biết".
    Sai Tả thống chế quân Thị trung là Tôn Thất Bính kiêm quản các đội Dực nhuệ.
    Thành thần Gia Định tâu rằng : “Binh ở chi Võ cự, trước đây lấy dân ở hai thôn An Hoà và Tân Hoà thuộc trấn Vĩnh Thanh bổ vào, miễn cho thuế thân. Sau có kẻ trốn đưa tráng hạng thế vào, thì dân đã đi lính hết rồi, không có người nhận để nộp thường. Nếu không trừng trị nghiêm ngặt thì e những lính tại ngũ thấy thế bắt chước. Xin sai quan địa phương sở tại xét những kẻ trốn ấy có gia sản thì lấy hết sung công, đợi khi bắt được thì theo pháp luật thêm bậc mà trị tội và bắt sung ngũ. Suất thập đến chi trưởng thì theo lệ xử phân lính trốn của các quân thêm bậc lên mà nghĩ xử”. Vua theo lời xin.
    Cấp ấn triện phủ nha kiêm lý huyện cho các địa phương. Năm Minh Mệnh thứ 5 mới làm để cấp cho 5 huyện thuộc hạt thành Gia Định, đến nay sai bộ Lễ chiếu các huyện từ Bình Thuận ra Bắc phàm thuộc phủ nha kiêm lý thì cấp cho ấn đồng và kiềm gỗ, do phủ viên giữ, gặp khi có việc huyện thì dùng, không được dùng lẫn ấn phủ như trước.
    Cấp cho trạm Kinh hai lá cờ chữ nhật bằng đoạn lông màu hồng (thêu hai chữ “Kinh trạm”, hai lá cờ đuôi nheo (thêu bốn chữ “Mã thượng phi đệ” và sáu thanh gươm ngắn, để phòng chạy đệ gấp).
    Chia phái các Cống sinh, Giám sinh đi các thành dinh trấn để đợi bổ chức huyện. Trước đây các thành dinh trấn có khuyết chức Huyện lệnh thì phần nhiều lấy những Cai án, Tri bạ thuộc huyện ấy cho quyền giữ ấn vụ. Vua bảo bầy tôi rằng : “Chính sự đợi được người mới làm thì nếu không được người thì chính sự ra sao ? Bọn Cai án, Tri bạ là nhân viên giúp việc, chợt được tạm quyền chính sự thì trong lòng đã có cái tư tưởng làm kinh triệu doãn năm ngày(() Trương Xương nhà Hán làm Kinh triệu doãn sai thuộc lại là Nhữ Thuấn xét án, Thuấn nói : “Kinh triệu 5 ngày thôi” ý nói không làm việc lâu thì xét làm gì.), há có thể vì trẫm mà nuôi dân ư ? Nay những Hương cống làm Hành tẩu sáu bộ cùng các Giám sinh, Tọa giám đều là người khoa mục, nếu sai ra thử làm việc trị dân tất phải nghĩ gắng công báo nước, như thế thì quan chức được người mà công việc không bỏ thiếu”. Bấy giờ mới sai đình thần xét chọn, dự trúng hơn 60 người. Vua bàn chia phái đi các thành dinh trấn để học tập chính sự, có huyện nào khuyết thì cho quyền.
    Tham tri Lễ bộ là Nguyễn Đăng Tuân tâu rằng : “Nhà nước lấy học trò quý ở chỗ có thực dụng. Bọn Cống sinh, Giám sinh là tuổi trẻ mới tiến, tính nết giữ gìn chưa vững, mà bọn lại dịch ở các dinh trấn thì nhiều tham ô, ít trong sạch, nay nếu cho ở gần e dễ tập nhiễm nếp xấu, cũng khó mong thành tài. Vả Huyện lệnh là chức gần dân mà chọn cất người làm lại thuộc quyền dinh trấn, chưa chắc khỏi cái tệ nhờ cậy gửi gắm. Thần cho rằng chi bằng để lại ở bộ, khiến cho được gần dưới xe kiệu để hằng ngày học chính sự, đến khi ra nhận trách nhiệm coi dân xã tất có thể giữ mình trong sạch cẩn thận, không đến nỗi bị bọn lại tư thao túng”. Vua đem lời nói của Đăng Tuân hỏi Hoàng Kim Xán, Xán thưa rằng : “Đăng Tuân nói thế là phải”. Vua bảo rằng : “Các khanh nói cũng có lẽ. Song nhà vua dùng người không thể phân biệt trong triều ngoài quận quá. Đổi chỗ thì đều thế cả. Cống sinh, Giám sinh quả là hiền tài thì lại tự làm mất chí khí sao được. Nếu là kẻ không tốt thì dẫu ở sáu bộ cũng khó mong thành. Huống chi kiềm chế một địa phương, trẫm còn giao cho dinh trấn, mà Cống sinh, Giám sinh lại không thể dùng cho cùng ở để học tập, Huyện lệnh không thể uỷ cho chọn cử hay sao ? Nên nghĩ cho kỹ, chớ câu nệ ở thiên kiến ấy”. Bèn sai bộ Lại lường chỗ xa gần mà chia đi các địa phương để đợi bổ, mỗi tháng cấp cho tiền 3 quan, gạo 3 phương, khi có khuyết chức Tri huyện hay Huyện thừa thì do quan địa phương tâu xin cho tạm thư nửa năm, nếu làm nổi việc thì cho thực thụ. Đến khi bộ Lại dâng danh sách lên, vua cho vào yết kiến ở Đông Các, cặn kẽ dạy bảo, trước hết về nghĩa vua tôi cha con, sau đến phương pháp làm quan giữ chức. Lại cho mỗi người 20 lạng bạc và cho đi theo đường trạm. Những Hương cống hậu bổ phần nhiều là người Nghệ An. Vua lấy điểm ấy hỏi Tham tri Phan Huy Thực rằng : “Vì bọn ấy học giỏi mà thế chăng ?” Thưa rằng : “Học trò Nghệ An phần nhiều chăm học”. Vua bảo : “Trẫm xem người Nghệ An khí khái hào mại, trừ Phú Xuân, Gia Định ra thôi không đâu bằng ; bởi thế thân binh của các vua thánh triều ta phần nhiều lấy ở Nghệ An”.
    Chuẩn cho yến hộ ở Quảng Bình và Bình Định được nộp thay bằng tiền thuế yến sào thiếu (Hạng nhất 1 cân nộp thay 40 quan tiền, hạng nhì 30 quan, hạng ba 18 quan).
    Sai hơn 1.000 biền binh quân Thần sách ở Nghệ An đi thú Bắc Thành. Thành thần thấy lính giản ở thành đi bắt giặc ít được việc mà số lính thú thì ít, tâu xin phái thêm một hai vệ kinh binh đến đóng giữ, cho nên sai đi. Lại ra lệnh rằng 5 dinh quân Thần sách ở Thanh Nghệ năm nay đổi đi thú Bắc Thành thì định lại mỗi dinh đều 500 người, đợi việc bắt giặc hơi thư sẽ lại làm theo như lệ trước (Lệ trước mỗi dinh 300 người).
    Lấy Thiêm sự hiệp lý Quảng Nam là Lý Văn Phức làm thự Hữu Thị lang Hộ bộ, Thiêm sự Lại bộ là Lê Quang làm Hiệp lý dinh vụ Quảng Nam. Vua bảo Quang rằng : “Trẫm muốn dùng ngươi làm quan to địa phương đã lâu, vì ngươi còn ít tuổi cho nên chậm đấy thôi”. (Quang 27 tuổi).
    Tả Tham tri Hình bộ lĩnh Hình tào Bắc Thành là Vũ Đức Thông vào yết kiến. Vua hỏi : “Quan võ đi bắt giặc trong hạt thành nhiều người không có công trạng là sao ?” Thông thưa rằng : “Quản quan cùng binh lính không bằng lòng nhau, thường thường kiện cáo, như thế thì ra trận làm sao khiến họ hết sức được, cho nên không có công”. Vua lại hỏi : “Địa phương có được yên không ?” Thưa rằng : “Các trấn hơi yên, duy có Nam Định, Hải Dương chưa yên thôi”. Bèn sai lấy nguyên hàm ở lại bộ cung chức.
    Lấy Tả tham tri Binh bộ là Bùi Đức Minh là Tả Tham tri Công bộ, Hữu Tham tri Binh bộ là Trần Quang Tĩnh làm Tả Tham tri Binh bộ, Hữu Thị lang Hộ bộ là Nguyễn Đức Hội làm Hữu Thị lang Binh bộ lĩnh Binh tào Bắc Thành kiêm lý Đê chính, Quang lộc Tự khanh là Hồ Hữu Thẩm làm thự Hữu Thị lang Lễ bộ, vẫn lĩnh Quang lộc tự.
    Sửa đài Trấn Hải.
    Tri huyện Thiên Lộc là Lê Nguyên Trung làm quan có chính sự tốt. Vua nghe biết khen ngợi, sai bộ Lại ghi tên để bổ Tri phủ, gặp khuyết thì bổ ngay.
    Lấy Phó vệ uý vệ Nghiêm võ quân Thần sách là Tạ Quang Cự làm Vệ uý, Cai đội Cẩm y là Trần Quang Tiến làm Phó vệ uý, Vệ uý vệ Cường võ là Phan Văn Uẩn làm Vệ uý vệ Toàn võ, Phó vệ uý vệ Tráng võ là Ngô Tiến Đức làm Vệ uý vệ Cường võ, Cai cơ vệ Long võ hậu là Trần Tiến Lưu làm Phó vệ uý vệ Tráng võ.
    Lấy Phó vệ uý vệ Hộ lăng là Tôn Thất Tường làm Phó vệ uý Trung vệ, Cai đội Cẩm y là Nguyễn Văn Nghĩa làm Phó vệ uý Tiền vệ.
    Sai Thuỷ quân thử ba thuyền hiệu Thuỵ long, Phấn bằng và Uy phượng ở ngoài biển Thuận An. Vua đến xem.
    Vệ uý vệ Hậu bảo nhất thự Thống quản thập cơ Uy thắng thuộc Hậu quân là Phạm Tiến Thuỵ chết ; tặng Vệ uý Thống quản thập cơ Uy thắng quân Thần sách, cấp cho 300 quan tiền.
    Sai Vệ uý vệ Cường võ quân Thần sách là Ngô Tiến Đức đóng giữ thành phủ Diễn Châu, kiêm quản việc phủ.
    Lại lấy Nguyễn Công Trứ làm Tham hiệp Thanh Hoa. Trước đây Trứ ở Thanh Hoa, có tang nghỉ, đến nay hết hạn, lại bổ dùng. Trứ vào bệ từ. Vua dụ rằng : “Trước kia hai trấn Thanh Nghệ trộm cướp nổi nhiều, vì trấn thần vỗ về chống giữ có phương pháp, dân nhiều người ra sức, bắt được 8, 9 phần 10 kẻ phạm, như thế thì dân ta có phụ gì triều đình đâu. Nay ngươi đến bảo rõ đức ý của triều đình, chiêu tập những dân xiêu tán, tiễu trừ những đảng giặc sót để cho biên phương yên lặng lâu dài, ấy là điều trẫm mong đợi”. Nhân triệu vào Đông Các cho ăn.
    Những dân xiêu tán trốn đi ở các trấn Bắc Thành phần nhiều đã trở về mà ngạch lính vẫn thiếu. Vua nghe tin, dụ bảo thành thần hợp cùng ba tào bàn bạc công việc đòi cấp thế nào cho đủ số quân. Bộ Binh nhân tâu rằng : “Từ trước đến nay dân xiêu lính trốn có được hoãn bắt mà không định hạn năm, có nơi được hoãn 1 năm, 2 năm, 3 năm. Xin tư cho các địa phương, phàm những nơi được hoãn bắt mà không hẹn năm thì từ năm Minh Mệnh thứ 5 về sau vẫn cho yên ủi gọi về, còn từ năm thứ 4 về trước cùng là nếu hạn năm đã hết, thì đều phải xét rõ dân đã về hết hay chưa, binh lính có nên bắt điền hay không, cứ thực tâu lên”. Vua phê bảo rằng : “Xét cử rõ ràng, thế là để ý nhận chân, đáng khen đáng thưởng. Đều theo lời nghị mà làm”.
    Bộ Hình tâu án cướp ở Nam Định có những nhà dân bị đốt phá. Vua nói : “Nỗi đau khổ của dân ấy đã thấu đến trên mà chưa được nhờ ơn trạch gì, huống chi là những việc chưa nghe thấy ? Vậy hạ lệnh cho quan sở tại xét cấp cho mỗi hộ 2 quan tiền, 1 phương gạo. Từ sau, việc án mà có dân bị tai nạn thì theo đấy làm lệ”.
    Bắt đầu đặt chức Tri phủ ở các phủ Quảng Bình, Quy Nhơn, Bình Hoà, Diên Khánh, Phú Yên, sai quan dinh trấn chọn đất làm phủ lỵ để ở. (Phủ Quảng Bình kiêm lý huyện Phong Lộc, phủ Quy Nhơn kiêm lý huyện Phù Ly, phủ Bình Hoà kiêm lý huyện Quảng Phước, phủ Diên Khánh kiêm lý huyện Hoa Châu, phủ Phú Yên kiêm lý huyện Đồng Xuân, các phủ lỵ đều đặt ở nơi huyện kiêm lý).
    Lấy Phó vệ uý vệ Thần cơ trung là Nguyễn Văn Niên làm Phó vệ uý vệ Hậu vệ.
    Mở chợ Nam Thọ (Chợ ở phường Phước Tuy, chung quanh làm 100 gian quán, ở trong các quán có 4 dãy nhà, mỗi dãy 14 gian, ở giữa dựng đình Lạc Hội).
    Ban áo mùa đông cho các Hoàng tử tước công cùng các quan văn võ ở Kinh từ Tứ phẩm trở lên. Từ sau lấy làm lệ thường.
    Vua lại nghĩ trấn thần Nghệ An là Nguyễn Khoa Hào, Nguyễn Đức Nhuận ở ngoài vất vả, sai Thị vệ đem áo đến ban cho.
    Ra lệnh cho dân châu Bố Chính dinh Quảng Bình đổi lối y phục. Vua bảo bộ Lễ rằng : “Địa đồ nhà nước đã thống nhất, lối chữ, cỡ xe đã giống nhau, há lại để chế độ khác nhau ! Châu Bố Chính là đất phụ thuộc Kinh kỳ mà nhân dân ăn mặc vẫn còn khác quá, thế thực không phải là nghĩa cùng tập quán, cùng phong tục. Vậy ra lệnh cho dinh thần Quảng Bình truyền bảo cho dân châu ấy ăn mặc theo thể chế từ sông Gianh trở vào để cho cùng một phong tục, nếu khinh thường không đổi thì xử theo luật vi chế”.
    Quan Bắc Thành tâu rằng năm nội trấn hạt thành thóc lúa thu hoạch kém, xin cho dân nộp thay thóc thuế vụ đông năm nay bằng tiền. Vua cho rằng giá gạo ở các hạt đắt rẻ không đều nhau, hạ lệnh phàm chỗ nào gạo đắt thì định giá 1 hộc thóc là 1 quan tiền, gạo rẻ thì giảm 2 phần 10.
    Ban tiền cho Giám sinh Quốc tử giám. Vua bảo bộ Lễ rằng : “Mùa đông năm nay trời rét lắm, bọn Giám sinh phần nhiều xa quê quán, sách đèn cần khổ, lấy gì chống rét ? Sai cấp cho mỗi người 10 quan tiền”.
    Sai án trấn Thanh Hoa là Tôn Thất Dịch, Hiệp trấn Nghệ An là Nguyễn Khoa Hào, kén chọn những Suất đội ở các vệ thuộc trấn, ai có thể làm được Quản cơ thì mỗi vệ lấy một người đưa vào bộ để dẫn vào yết kiến, đợi chỉ cất dùng.
    Thiêm sự hiệp lý trấn vụ Định Tường là Trần Đình Tiến bị miễn chức, Tiến trước kia ở Ninh Bình trù biện gỗ lạt ở kho tàng, để hư hỏng của công, đến nay việc phát, ra lệnh giải chức đợi xét. Rốt cuộc bị tội cách chức.
    Đặt thêm chức Hiệp thủ các nguồn, các tấn thuộc Quảng Nam và Phú Yên. Ba nguồn Chiên Đàn, Thu Bồn, Ô Da thuộc Quảng Nam, ba trấn Phú Sơn, Xuân Đài, Vũng Lấm thuộc Phú Yên đều là nơi quan yếu, quan dinh trấn tâu xin nên đặt thêm.
    chính biên
    đệ nhị kỷ - quyển XLII
    Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế
    Bính tuất, năm Minh Mệnh thứ 7 [1826], mùa đông, tháng 11, ngày mồng 1. Vua ngự điện Cần Chính. Các Hoàng tử tước công cùng quan viên văn võ tứ phẩm trở lên được ban áo mùa đông vào lạy. Bãi chầu, cho ăn yến.
    Chuẩn định từ nay các nhân viên tôn thất lệ được chiếu phẩm chi bổng, vì có lỗi phải giáng mà bổng theo phẩm bị giáng không bằng bổng tôn thất thì cấp cho bổng tôn thất. Nếu phải cách chức, thì mỗi tháng chỉ cấp tiền 1 quan, gạo 1 phương. Ghi làm lệ.
    Làm lại miếu Trung tiết công thần. Trước đây sai làm hai miếu Khai quốc công thần và Trung tiết công thần ở hai bên tả hữu chính miếu Trung hưng công thần. Hữu ty thấy chỗ bên hữu có đường nước của xưởng thuyền, mới làm miếu Trung tiết công thần ở chỗ đằng sau bên tả hướng về tây. Đến đây chuẩn y lời bàn của bộ Lễ lấp đường nước ấy, làm lại miếu Trung tiết công thần sang bên hữu để đối với miếu Khai quốc công thần, còn miếu cũ thì để làm chỗ ân tự mùa xuân, mùa thu hằng năm. Làm sở Tể Sinh của Thần trù đàn Nam Giao, Văn Miếu, miếu Lịch đại đế vương cùng ba miếu Công thần. (Trước cứ làm thời tạm bằng gỗ và gạch ngói). Lại dời sở Tể Sinh của Liệt miếu đem làm ở phường Bảo Hoà trong Kinh thành. (Trước làm ở bờ sông Vạn Xuân, ngoài quách phía Tây).
    Thuộc ty bộ Lễ có Mai Bá Phương khinh nhờn trái phép. Bộ thần tâu hặc. Phương mang lòng oán, kiện vu cho Bộ trưởng Nguyễn Xuân Thục và Phan Huy Thực tham tang. Tra hỏi không có sự thực. Vua nói : “Chưa có người thích phạm thượng mà không thích làm loạn. Cái thói ấy không thể để cho lớn dần”. Sai phát đi sung quân ở đạo Cam Lộ.
    Những biền binh “Luyến khuyết tình ân”(() Luyến khuyết tình ân : luyến cửa khuyết, tình ân cần (xem thêm chú thích tr. 520).) thuộc các vệ Long thao, Hổ lược từ Gia Định đến Kinh 60 người. Vua bảo bộ Binh rằng : “Bọn quân này mãn ban, hơn 100 người xin lưu lại, trẫm thương xa quê quán đã lâu, cho hạn về thăm nhà. Trước mặt trẫm đã bảo ngày hết hạn nghỉ muốn đến Kinh hay muốn ở quê đều cho tuỳ ý, không ép. Nay một loạt đến Kinh đã hơn 600 người, thực là đáng khen”. Bèn thưởng mỗi người 3 quan tiền. Ai đến sau cũng thưởng như thế. Đều bổ vào hai đội Ngân thương nhất, nhị quân Thị nội, sai Nguyễn Văn Lộc kiêm quản, cho theo vệ Cẩm y luân phiên lên trực.
    Nghệ An có mỏ chì. Trấn thần nấu đem dâng. Vua thấy chất nhẹ nổi, sai Vũ Khố nấu lại, cũng không thành chì. Nhân bảo bầy tôi rằng : “Trước đây Quảng Nam có một mỏ đá, mới nấu thì thành chì, nấu lần nữa thì thành bạc, nấu lần thứ ba thì thành vàng, đấy là vật hoá tự nhiên, không phải có phép dùng thuốc luyện thành đâu”.
    Bắt đầu định lệ xét hình án hay dở để thưởng phạt. Trước đây bộ Hình tâu dâng sách xét hình hay dở của các địa phương. Vua xem rồi dụ rằng : “Thưởng phạt khuyên răn là việc lớn của nhà nước, cho nên Ngu thư nói “Ba năm xét công”, Chu quan nói “Cuối năm xét chính”, đều là để thúc giục người lười, mong cho thành công”. Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta thận trọng việc hình phạt, dựng ra phép tắc, thúc đẩy mọi việc, chuẩn định trình hạn xử kiện, nghiêm gia dạy bảo, là muốn cho người giữ pháp luật không để việc dằng dai, mà kẻ hay người dở có phân biệt. Trẫm nối theo chí trước, đặc biệt lưu ý việc hình ngục. Tự trước đến giờ các nha môn hỏi kiện có những án chưa xét xong, trẫm đã nhiều lần xuống chỉ nghiêm sức, vốn muốn cho án không để chồng chất, ngục không giam tù lâu. Nay cứ sách tâu của bộ Hình thì có án làm xong trong hạn, có án ngoài hạn còn dìm. Nếu không khuyên răn cho rõ ràng, thì người mẫn cán lấy gì mà khuyến khích, người lười biếng lấy gì mà sợ hãi ? Sẽ đến nỗi kẻ gian ác chậm bị giết, kẻ không tội bị luỵ lây, làm sao đem lại được điều vui như gió động, thành hiệu không dùng hình ? Vậy giao sách này cho bộ Lại tra xét, nên bàn thưởng, bàn phạt thế nào, cho thoả đáng tâu lên”. Đến nay bộ Lại dâng lời bàn. Lại hạ lệnh cho đình thần bàn lại, chuẩn định thi hành, lấy ngày mồng 1 tháng giêng năm Minh Mệnh thứ 8 bắt đầu :
    1. Các án mạng, án cướp, án tranh địa giới, cùng những tội trảm giảo, hạn trong 3 tháng phải xử xong. Quan thẩm án để một cái án chậm một hạn thì phạt bổng 3 tháng, chậm thêm một tháng phạt thêm một bậc, tội chỉ đến giáng 2 cấp lưu ; 2 án trở lên thì gồm các án mà nghị xử, tội chỉ đến giáng 3 cấp lưu. Các việc kiện về hộ, hôn, điền, thổ, tài sản, đánh nhau, hạn trong 2 tháng. Để một án chậm quá một hạn thì phạt bổng 3 tháng, chậm thêm một tháng thì phạt thêm một bậc, tội chỉ đến giáng 3 cấp lưu ; 2 án trở lên thì gồm các án mà nghĩ xử, tội chỉ đến giáng 4 cấp điệu. Các việc kiện vặt như chửi mắng, công nợ, tranh nhau phần thịt, làm trái, hạn trong 1 tháng. Để một án chậm quá một hạn thì phạt bổng 3 tháng, chậm thêm một tháng phạt thêm một bậc, tội chỉ đến giáng 4 cấp điệu ; 2 án trở lên thì gồm các án mà nghị xử, tội chỉ đến cách chức. Nếu án nào từ lúc nhận đơn đến ngày xử xong hiện đã quá hạn, mà trong quãng ấy có quan mới quan cũ thay đổi nhau, xét phần tháng chưa đến quá hạn thì miễn nghị. án nào quan cũ xét, trong hạn tra cứu lấy cung xong, bỗng phải dời chức giao lại cho quan tiếp biện nhận làm, quan cũ được chiếu lệ bàn công, quan tiếp biện làm chậm trễ đến quá hạn thì tội ở quan tiếp biện.
    2. Các án ở huyện giải lên phủ, phủ xét 20 ngày phải giải lên trấn ; trấn xét 20 ngày phải giải lên thành ; thành cũng 20 ngày phải duyệt xong, theo kỳ hội tâu không được quá hạn 2 tháng. Nha nào trái lệ này đều chiếu luật “công văn để chậm” mà xét nghị.
    3. Các nha môn xét hình mà trong hạn xét xong, án mạng, án cướp cùng những án nặng xử trảm giảo, xử 1 án thì được bàn thưởng kỷ lục một thứ, 4 án thì gia một cấp ; án hộ, hôn, điền thổ, tài sản, đánh người, cùng các án sung quân, lưu, đồ, thì 2 án bàn thưởng kỷ lục 1 thứ, 8 án thì gia 1 cấp. Còn các án kiện vặt thì 4 án bàn thưởng kỷ lục 1 thứ, 16 án thì gia 1 cấp.
    ở Quảng Nam, Quảng Ngãi có sâu như kiến trắng, như bọ ngựa bu vào lúa, lúa đều khô chết. Dinh thần tâu lên.
    Vua xem tâu, dụ rằng : “Trẫm rất lo cho địa phương ấy. Nay nên đặt cầu đảo, được mưa thì sâu chết, hoặc tìm cách bắt giết đi, hoặc khuyên dân trồng trọt bù, để trừ hại cho dân, lợi cho việc nông là được”.
    Bãi lệ mở quốc bảo, cất quốc bảo. Trước là Khâm thiên giám theo lệ chọn ngày tốt mở quốc bảo và cất quốc bảo dâng trình. Vua nói : “Các đời có lệ cất ấn, mở ấn, là vì Hữu ty quanh năm siêng năng khó nhọc, đến lúc hết năm tạm cho nghỉ ngơi. Vốn là phải. Nếu như vương giả theo trời mà làm mạnh thì có ngày nào nghỉ yên đâu. Từ nay việc cất ấn, mở ấn cứ theo lệ trước mà chọn ngày tốt tâu cho thi hành. Còn như quốc bảo lúc nào có việc thì dùng, lệ mở và cất bãi đi”.
    Lại chuẩn định từ nay phàm ân chiếu năm mới đều lấy ngày mồng 1 tháng giêng mà ban bố, để tỏ nghĩa nhà vua ở ngôi chính thể đạo nguyên(() Đạo nguyên : bốn đức của quẻ Càn là nguyên hanh lợi trinh. Nguyên là đạo trời.) (Lệ trước cứ ngày mở quốc bảo thì đem in ra mà niêm yết).
  • Chia sẻ trang này