0059.056 - @Ngankhanh.tran- @Nguyễn Liễu (Done - GD)

1/12/15
0059.056 - @Ngankhanh.tran- @Nguyễn Liễu (Done - GD)
  • PDF
    GoogleDocs


    :rose::rose::rose:
    Vua lại dụ bộ Lễ rằng : “Việc binh là việc dữ tợn mà năm mới lại có lệ xuất binh, không phải là việc đời thái bình nên làm. Đời trước ở lúc chiến tranh nên có việc ấy. Nay thiên hạ yên lặng, nên bàn đổi đi thì phải”.
    Các vệ lính Kinh quê ở các dinh trấn Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, ngày tới ban cáo bệnh không đến có tới 5, 6 phần 10, bộ Binh đem việc tâu lên. Vua dụ rằng : “Lính là người giữ nước, nếu để nhu nhơ như thế thì họ trông ngóng nhau, dần đến khinh nhờn, làm sao cho nghiêm chỉnh được hàng ngũ ? Lỗi ấy đều bởi quan địa phương khinh thường uỷ lại cho lại dịch làm hồ đồ xong việc. Vậy truyền chỉ sức rằng từ nay những biền binh tới ban có người nào cáo ốm thì phải đòi đến công đường xét nghiệm, ai bệnh nặng thì phái người đến tận nhà khám thực mới được phê làm bằng đưa lên bộ. Nếu vẫn sơ suất như trước thì nghiêm nghị không tha”.
    Trấn Bình Định lại tâu xin cho những biền binh đổi ban cứ tháng chạp này đến Kinh thì mùa thu sang năm về quê, định làm lệ thường. Vua không cho. Bộ Binh xin đổi lấy ngày mồng 1 tháng giêng năm sau bắt đầu. Vua nói : “Ghét nhọc muốn nghỉ là thường tình người ta. Binh lính suốt năm khó nhọc, đến cuối năm việc ít mới được nghỉ ngơi, thế mà lại bắt ra đi làm việc từ ngày mồng một Tết, lối làm chính trị lại như thế à ? Từ nay biền binh tới ban nên lấy ngày mồng 7 tháng giêng bắt đầu”.
    Chuẩn định lại ruộng trại ở Bình Định đóng thuế theo lệ thuế ruộng công.
    ở các dinh trấn Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Hoà gạo đắt. Sai các quan dinh trấn đặt mua đường cát, mật bọt, vỏ quế, sa nhân, trước phát thóc công làm vốn, đợi mùa hạ sang năm nộp cho nhà nước.
    Tặng Tri huyện Phù Ninh trấn Sơn Tây là Nguyễn Thế Cát làm đồng Tri phủ. Sơn Tây có tướng giặc là Lê Trọng Liên nổi lên ở địa hạt huyện Phù Ninh, dân xã Viên Lãng(() Bây giờ là Viên Minh.) bắt được 6 tên đồ đảng. Cát nhân đi khám dân xiêu tán nghe tin báo, lấy lính bảo Thọ Lão đóng gông đem bọn ấy về huyện. Đường đi qua rừng xã Tử Đà, giặc xông ra đánh cướp tù. Cát bị giặc giết chết. Việc đến tai vua. Đặc cách sai truy tặng và cho 50 quan tiền tuất. Rồi Liên lại bị quân quan bắt được đem giết.
    Thượng thư Lễ bộ là Nguyễn Xuân Thục đem việc phong tặng bách thần đã xong tâu lên, xin đặt tiệc hát tạ thần. Vua y cho. Nhân cười nói rằng : “Trước đây bộ thần bị lỗi là tự mình làm ra, có dính gì đến thần. Các ngươi một lòng trong sạch kính cẩn thì làm gì có lỗi”.
    Cấp áo quần cho biền binh 6 đội Thường trực vệ Cẩm y, 2 đội Ngân thương nhất, nhị, 2 vệ Long thao, Hổ lược. Vua nghĩ mùa đông rét mướt, các vệ đội đều người Gia Định không quen chịu rét, cho nên đặc cách cấp cho áo quần. Lại sắc cho bộ Hộ rằng từ nay phàm Suất thập 6 đội Thường trực vệ Cẩm y, 2 đội Ngân thương nhất, nhị đã có lệ bổng, nếu ốm chết thì cho tiền tuất gấp hai ; binh lính thì cho thêm 3 quan tiền.
    Chưởng cơ Tượng quân là Nguyễn Đình Đề chết ; cho 1 cây gấm Tống, 300 quan tiền.
    Định Tường có bão to, người và thuyền đi trên sông đắm đuối nhiều. Thành thần tâu lên. Vua hạ lệnh chiếu lệ bị nạn bão ở biển mà cấp cho. Từ sau lấy đó làm lệ.
    Lấy Vệ uý vệ Quảng võ quân Thần sách án thủ phủ thành Tĩnh Gia là Lê Văn Túc lĩnh Quản đạo Ninh Bình. Trước Trần Quang Tĩnh tự Bắc Thành về Kinh đi qua phủ Tĩnh Gia, Túc nói chuyện với Tĩnh bày tỏ là tuổi già tài kém, không làm gì cho vua biết được lòng quyến luyến cửa khuyết nên không yên. Tĩnh đem lời ấy tâu lên. Vua cho triệu Túc vào yết kiến, hỏi lý lịch bảo rằng : “Ngươi làm việc lâu năm, sức vóc còn khoẻ, chẳng được mấy người như thế”. Nhân hỏi những giặc trốn ở địa phương đã bắt hết chưa ? Đáp rằng chưa. Vua nói : “Bọn giặc trốn nấp được là vì dân che chở. Quan địa phương biết khéo vỗ nuôi dân để dân thân, gần với mình thì giặc cướp dân tự bắt thôi”. Rồi có mệnh này.
    Khởi phục Nguyễn Hựu Nghi làm Lang trung Binh bộ thự Tham hiệp Ninh Bình, Hoàng Quýnh làm Chủ sự Công bộ thự Lang trung.
    Vua cùng bầy tôi bàn về lý học. Vua nói : “Thánh nhân có khác gì người thường đâu ! Xét những việc làm, cũng chẳng qua những việc ngày thường vẫn làm mà thôi. Duy hay gạn hết lòng dục của người mà lẽ trời được lưu hành, cho nên đến được địa vị thánh nhân. Cổ ngữ có câu rằng : “Kẻ sĩ trông được như người hiền, người hiền trông được như thánh, thánh trông được như trời”, há chẳng phải là thánh nhân có thể học mà đến được sao ?"
    Lại bàn đến việc đời trước rằng : “Đời Lê - Trịnh mũ giầy đảo lộn, phận vua tôi sai hẳn. Nhưng họ Trịnh không dám cướp ngôi nhà Lê, là bởi liệt thánh của ta ở phía Nam gây dựng cơ đồ mà vẫn noi theo chính sóc của nhà Lê, cho nên họ Trịnh dẫu có lòng lấn cướp mà còn sợ không dám làm. Vả lại họ Trịnh cắp vua Lê để hiệu lệnh thiên hạ gần 200 năm phép tắc không có cái gì khả quan, có phải là họ chẳng biết lập ra kỷ cương để làm phép tắc cho đời sau đâu, nhưng tự nghĩ mình đã tiếm bậy, nếu lập pháp độ thì phân trên dưới rõ ràng, đã không thoả được ý riêng mà người ta lại có thể bàn bạc sau lưng được. Mình đã không ngay thẳng thì bắt người ta ngay thẳng làm sao ? Bởi thế giặc cướp tứ tung đều lấy danh nghĩa phù Lê không phải là lạ. Duy bản triều được thiên hạ là rất chính đáng, thế mà những kẻ rồ dại ở Bắc Thành còn tụ tập quấy rối, có lẽ là vì nhiễm thói ác của họ Trịnh chưa gột hết mà ra thế”. Lại nói : “Việc lớn của nước là việc thờ và việc binh. Đời Lê - Trịnh ở đàn Nam Giao thì làm nhà để tế trời đất, thế là điển lễ gì ? Không đủ làm gương là rõ ràng lắm”.
    Lấy Ký lục Bình Thuận là Đoàn Viết Nguyên làm thự Hữu Tham tri Hộ bộ, nguyên Cai bạ Vĩnh Thanh là Lê Đại Cương đổi bổ Hữu Thị lang Hình bộ.
    Sai Đô thống chế Phan Văn Thuý kiêm quản các vệ Nội hầu, Kỳ võ, Thành võ.
    Cho thự Thống chế Tượng quân là Phạm Văn Điển, Lê Văn Hoan, thự Thống chế Thuỷ quân là Nguyễn Tài Năng, Nguyễn Văn Hạnh cùng với các đại thần thay ban vào trực.
    Lấy thự Thái thường tự Thiếu khanh là Thái Doãn Tư làm Đốc học Nam Định, Tri huyện Thanh Hà là Lê Sĩ Thường làm Phó đốc học Hải Dương.
    Thổ tù châu Đà Bắc, trấn Hưng Hoá là Xa Văn Nhị tụ họp đồ đảng, bắt giữ người công sai, định giữ châu để nổi loạn. Quan Bắc Thành tâu lên. Vua nói : “Hình tích làm loạn của Nhị đã rõ ràng, nếu không dập tắt sớm sẽ lan rộng ra”. Bèn dụ sai lượng phái lính ở thành uỷ cho trấn thần quản lĩnh, và phát hịch gọi thổ mục, thổ binh các châu đến đánh bắt.
    Định ngạch thợ các cục của Vũ Khố, lấy hiện số 4.246 người làm hạn, nếu thiếu thì mộ cho đủ. Bộ Binh tâu rằng thợ các cục của Vũ Khố quê từ Quảng Nam trở vào đến Bình Thuận, loại ra hơn 1.400 người, phàm là người các xã dân xiêu tán thiếu ngạch giản binh thì lấy để điền vào, còn số thừa thì bổ làm lính cơ dinh trấn sở tại, Quảng Nam, Bình Định, mỗi cơ đủ 10 đội, Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Hoà, Bình Thuận, mỗi cơ đủ 5 đội, mỗi đội đều 50 người, nếu còn thừa nữa thì thả cho về làng đương việc sai dịch ; nếu thiếu thì mộ thêm. Vua cho theo lời bàn mà làm.
    Trấn thủ Sơn Tây là Lê Văn Tiến chết, cho 2 cây gấm Tống, 300 quan tiền. Lại lấy Đỗ Văn Trà làm Trấn thủ Sơn Tây. Trà vào bệ từ. Vua yên ủi rằng : “Trước ngươi ở Sơn Tây, trẫm nghĩ ngươi tuổi già khó nhọc mãi ở ngoài cho nên gọi về. Nay trọng trấn một phương ấy chưa tìm được người, ngươi lại đi lần nữa vậy”. Bèn cho áo chầu.
    Đổi kho Động Hải ở Quảng Bình làm kho Quảng Bình, hai kho Thăng Hoa, Điện Bàn ở Quảng Nam làm kho Quảng Nam, hai kho An Hoà, Xuân Đài ở Phú Yên làm kho Phú Yên, hai kho Hội An, Phước An ở Bình Hoà làm kho Bình Hoà, kho Kỳ Lân ở Nghệ An làm kho Nghệ An, kho Hà Trung làm kho Hà Hoa, kho Tiên Lý làm kho Diễn Châu, kho Cầu Châu ở Sơn Nam làm kho Sơn Nam thượng.
    Lấy Quản cơ Trung tiệp Tiền quân là Trương Văn Tín làm Phó vệ uý Thị nội, vẫn hành chức Quản cơ.
    Quan võ các trấn Nam Định, Hải Dương đem quân đi tuần bắt thổ phỉ. Quản phủ Tiên Hưng là Phạm Công Luật đánh nhau với giặc ở tổng ỷ Đốn (thuộc huyện Thần Khê), Quản phủ Ninh Giang là Nguyễn Văn Phượng đánh nhau với giặc ở xã Cổ Am (thuộc huyện Vĩnh Lại), đều thua. Biền binh chết và bị thương rất nhiều. Việc đến tai vua. Vua sai cấp cho những người chết trận, Cai đội mỗi người 40 quan tiền, Đội trưởng mỗi người 20 quan tiền, binh lính mỗi người 10 quan tiền, cấp cho những người bị thương, Cai đội, Đội trưởng mỗi người 10 quan tiền, binh lính mỗi người 5 quan tiền. Luật và Phượng vì làm hỏng quân cơ đều phải tội trảm giam hậu.
    Đảng giặc Bắc Thành nhiều kẻ vào dân gian đòi tiền đòi lương. Có dân hai xã Tống Xá, Nậu Phú (thuộc huyện Giáp Sơn, Hải Dương) không chịu, bắt mấy tên đảng giặc giải lên Bắc Thành. Thành thần đem việc tâu lên. Vua rất khen, thưởng cho 200 quan tiền. Dụ thành thần rằng : “Tự trước đến nay dân mọn ở Bắc Thành nhiều người không hiểu nghĩa lớn, bị bọn côn đồ doạ nạt, hoặc đưa ngầm lương cho giặc, hoặc chứa giặc không báo, thậm chí ngầm báo tin tức làm tai mắt cho giặc để dò quan quân. Dẫu có nói bị giặc ức hiếp nên có những tệ như thế, xét ra thì cũng là xử cùng với giặc, nhất đán việc phát ra thì làm sao trốn khỏi pháp luật ? Nếu xã nào cũng bắt chước hai xã này mà cùng lòng hợp sức thì có sợ gì giặc nữa ! Đã ngăn được tai hoạ cho hương đảng, lại được triều đình khen thưởng, thì sợ gì mà không làm như thế ? Vậy nên sao dụ này ra nhiều bản phân phát đi khắp nơi, truyền bảo cho nhân dân biết lối nào nên đi, lối nào nên tránh mà tỉnh cơn mê, giặc cướp sẽ ngày ít, làng mạc sẽ ngày yên, mà dân ngu sẽ khỏi cái tội bị hiếp theo giặc”.
    Quản thủ Vĩnh Tường trấn Sơn Tây là Trần Đình Di đem lính đi tuần bắt, đến Bạch Hạc, nghe tin tướng giặc là Bạch Văn Thanh tụ họp ở xã Bích Đại, tức thì cùng với biền binh do thành phái hội đánh, bắt được Thanh đem giết.
    Vua tự làm bài “Nhật xuất nhật trung viễn cận luận”(() Bài luận “Mặt trời lúc mới mọc và lúc giữa trưa, lúc nào gần lúc nào xa ?”.), đưa cho thị thần xem và nói rằng : “Người đời truyền rằng : có người hỏi nạn đức Khổng Tử mặt trời lúc mới mọc và lúc giữa trưa lúc nào gần đất hơn ? Lẽ ấy dễ biết lắm, há thánh nhân lại không trả lời được ư ? Đấy là hậu nhân ngoa truyền thôi. Trẫm nhân xem toàn đồ quả đất, nhớ đến chuyện ấy mà đem bàn, để đợi người quân tử sáng suốt”.
    Sai bọn Phó vệ uý Nguyễn Lương Huy, Biên tu Văn thư phòng Nguyễn Tri Phương, Lang trung Vũ Khố Nguyễn Đăng Uẩn, Cai đội Thượng trà viện Vũ Văn Giai, chia nhau ngồi các thuyền hiệu Thuỵ long, Uy phượng, Tĩnh ba đi Hạ Châu làm việc công.
    Quảng Ngãi tâu rằng chỗ thú sở của cơ Lục kiên thuộc trấn tự đời Gia Long khai khẩn ruộng hoang hơn 60 mẫu, thường năm thu hoạch, mỗi mẫu để 40 thăng thóc giống, còn thừa thì nộp vào kho. Nay xin đo số mẫu, chia làm các hạng mà đánh thuế.
    Vua dụ rằng : “Thuế khoá nhà nước chẳng phải nhờ số ruộng ấy mà nhiều thêm. Huống chi biền binh cơ Lục kiên vốn đã canh giữ khó nhọc, lại thêm việc cày ruộng, thực cũng đáng thương, vì thế lệ trước chỉ cứ số thóc gặt được mà lượng nộp vào kho là muốn khiến cho họ được tuỳ tiện, thế mà lòng trẫm vẫn chưa cho là đáng. Bây giờ nếu đăng vào ngạch thuế thì thu thuế có kỳ hạn, thiếu thuế có pháp luật, bọn lính ấy sau này cung nộp sao nổi ? Vậy bắt đầu từ năm nay, phàm những ruộng khai khẩn, không cứ số mẫu sào đẳng hạng, số thóc gặt vụ chiêm, vụ mùa được bao nhiêu thì lấy một nửa nộp vào kho, để cho họ được hưởng cái lợi làm ra mà vui việc làm ruộng”.
    Trấn thủ Vĩnh Thanh là Nguyễn Đình Phổ về Kinh ; lấy Vệ uý vệ Tiền phong tiền là Nguyễn Văn Cận thay.
    Tháng 12, lấy Thiêm sự Lễ bộ là Hà Quyền làm Hiệp lý dinh vụ Quảng Trị. Vua bảo bộ Hộ rằng : “Quyền, cùng Lê Quang đều là Tiến sĩ có tiếng giỏi, trẫm muốn dùng đã lâu, vì Quyền ốm mà chưa dùng. Nay tạm lấy chức tư mục thử xem đấy thôi”.
    Cho con Thống binh Cai cơ Nguyễn Tiến Huyên là Nguyễn Tiến Quang làm Cai đội. Huyên trước theo Quốc công Võ Tánh tử tiết, vua nghĩ đến nên dùng người con.
    Bộ Binh tâu rằng việc đặt sông, bến cầu đò cũng là một việc trong chính sự nhà vua, người cung dịch không thể thiếu được, mà số người thì tất phải có thứ bậc khác nhau. Nay xét sổ ngạch các thành dinh trấn, phu cầu, phu đò liệt vào hạng biệt tính phần nhiều là rườm thừa, xin do quan sở tại xét theo thế sông rộng hẹp mà bàn định số phu nhiều hay ít, số thừa thì rút về sổ dân mà chịu sai dịch.
    Vua cho là phải.
    Bãi việc ca xướng của tiểu hầu (Lệ trước ở các viên tẩm từ đường(() Nhà thờ các thân vương.), hằng năm các lễ tiết Nguyên đán, Đoan dương, tế Xuân, tế Thu, tế Chạp, tối hôm trước có tiểu hầu nữ nhạc đến hát, đến nay cho là nhảm nhí nên bãi bỏ).
    Ký lục Quảng Ngãi là Hứa Đức Đệ chết, cho 300 quan tiền.
    Triệu Phó thống thập cơ Kính tiệp của Tiền quân là Hoàng Văn Ngôn, Phó thống thập cơ Chấn định của Trung quân là Trần Văn Lộc về Kinh. Đổi bổ Phó vệ uý vệ Tả nhất quân Thị trung là Hoàng Đăng Thận làm Vệ uý hàm Chánh tam phẩm lĩnh Phó thống thập cơ Kính tiệp của Tiền quân, Phó vệ uý vệ Trung nhất là Hoàng Văn ẩn làm Vệ uý hàm Chánh tam phẩm lĩnh Phó thống thập cơ Chấn định của Trung quân.
    Lấy nguyên Trấn thủ Vĩnh Thanh là Nguyễn Đình Phổ làm Chưởng cơ Thống quản thập cơ Chấn định của Trung quân, Vệ uý vệ Tả nhất quân Thị trung là Nguyễn Văn Nghị làm Chưởng cơ Thống quản thập cơ Kiên nhuệ của Tả quân, Vệ uý vệ Kỳ võ quân Thị nội là Đặng Hữu Chất làm Chưởng cơ Thống quản thập cơ Uy thắng của Hậu quân.
    Lấy Vệ uý vệ Quảng võ quân Thần sách là Lê Văn Nghĩa làm Vệ uý vệ Nghĩa võ, vẫn án thủ phủ thành Tĩnh Gia, kiêm việc quản phủ, Vệ uý vệ Nghĩa võ là Vũ Văn Tín làm Vệ uý vệ Quảng võ.
    Bắt đầu định hàm và thuỵ phong tặng cho quan viên văn võ. Bộ Lễ bàn tâu rằng : “Lễ phong tặng từ xưa, rộng ban ơn huệ để vẻ vang người trước, hậu đãi cuối cùng để nêu thưởng người hay, không phải ví như việc chia chức đặt quan, mà tất phải ấn định quan danh ở dưới phẩm hàm. Xét hội điển các đời Bắc triều ghi chép phẩm hàm văn võ đều 18 bậc mà không nói đến chức nên tặng. Đến như bầy tôi được tặng chức thì thấy nhiều ở sách, bởi vì có một phẩm hàm mà quan chức thì nhiều nên chiếu theo chức gia tặng mà điền phẩm hàm, không thể lấy một chức mà hoạch định. Nước ta văn hiến nối nhau, các đời có theo cũ đổi mới, khoảng đời Quang Thuận, Bảo Thái nhà Lê chước định giai cấp phong tặng, phàm sung ân tặng, phàm suy ân cho tiên nhân thì võ giai kém con 1 cấp, văn giai kém con 2 cấp ; phong tặng bản thân thì theo chức phẩm hiện tại mà đều thêm một cấp. Nay xin chiếu lệ cũ, quan viên văn võ được phong tặng cha mẹ thì đều kém con 2 cấp, gia tặng bản thân thì đều lên 1 cấp. Cứ theo phẩm hàm điền viết vào cáo sắc. Lại tên thuỵ để đổi tên thường là bắt chước phép nhà Chu. Từ trước tên thuỵ chưa đặt sẵn, đến việc là tâu xin thì cũng là rườm phiền, mà bộ thần lâm thời nghĩ đặt thì cũng khó khỏi hiềm nghi về sự yêu ghét tư vị. Kính xét phép tặng mỗi phẩm một chữ thuỵ ; còn những người có công cao đặc biệt được vua đặc cách cho tên thuỵ thì không theo lệ này”.
    Vua cho làm theo lời bàn.
    (Hàm Văn giai. Chánh nhất phẩm : Đặc tiến Vinh lộc đại phu, thượng, tả, hữu trụ quốc, (trở xuống đều xưng là họ Mỗ công) ; Tòng nhất phẩm : Vinh lộc đại phu trụ quốc ; Chánh nhị phẩm : Tư thiện đại phu chính trị thượng khanh, (trở xuống đều xưng là họ Mỗ hầu) ; Tòng nhị phẩm : Trung phụng đại phu chính trị khanh ; Chánh tam phẩm : Gia nghĩ đại phu tư trị khanh ; Tòng tam phẩm : Trung thuận đại phu tán trị doãn ; Tòng tứ phẩm : Triều liệt đại phu tán trị thiếu doãn ; Chánh ngũ phẩm : Phụng nghị đại phu tư chính thứ doãn, (trở xuống đều xưng họ Mộ phủ quân) ; Tòng ngũ phẩm : Phụng thành đại phu hiệp chính thứ thiếu doãn ; Chánh lục phẩm : Thừa vụ lang ; Tòng lục phẩm : Văn lâm lang ; Chánh thất phẩm : Trưng sĩ lang ; Tòng thất phẩm : Trưng sĩ tá lang ; Chánh bát phẩm : Tu chức lang ; Tòng bát phẩm : Tu chức tá lang ; Chánh cửu phẩm : Đăng sĩ lang ; Tòng cửu phẩm : Đăng sĩ tá lang. Hàm Võ giai. Chánh nhất phẩm : Đặc tiến tráng võ tướng quân, thượng, tả, hữu trụ quốc, (trở xuống đều xưng là họ Mỗ công) ; Tòng nhất phẩm : Tráng võ tướng quân trụ quốc ; Chánh nhị phẩm : Nghiêm uy tướng quân thượng hộ quân, (trở xuống đều xưng là họ Mỗ hầu) ; Tòng nhị phẩm : Hùng uy tướng quân hộ quân ; Chánh tam phẩm : Anh dũng tướng quân khinh xa đô uý ; Tòng tam phẩm : Phấn dũng tướng quân khinh xa uý ; Chánh tứ phẩm : Tín nghĩa đô uý thân quân hiệu ; Tòng tứ phẩm : Võ công đô uý hộ quân hiệu, (trở xuống đều xưng là họ Mỗ phủ quân) ; Tòng ngũ phẩm : Kiến công đô uý phó hộ quân hiệu ; Chánh lục phẩm : Tráng tiết tá kỵ uý hộ quân hiệu ; Tòng lục phẩm : Kính tiết tá kỵ phó hộ quân hiệu ; Chánh thất phẩm : Hiệu trung kỵ uý ; Tòng thất phẩm : Hiệu trung tá kỵ uý ; Chánh bát phẩm : Trung tín hiệu uý ; Tòng bát phẩm : Trung tín tá hiệu uý ; Chánh cửu phẩm : Hiệu lực hiệu uý ; Tòng cửu phẩm : Hiệu lực tá hiệu uý. Thuỵ hiệu văn giai. Chánh nhất phẩm : Văn nghị ; Tòng nhất phẩm : Văn ý ; Chánh nhị phẩm : Tráng lượng ; Tòng nhị phẩm : Tráng khải ; Chánh tam phẩm : Hiến mục ; Tòng tam phẩm : Hiến tình ; Chánh tứ phẩm : Đoan cẩn ; Tòng tứ phẩm : Đoan lượng ; Chánh ngũ phẩm : Đoan trực ; Tòng ngũ phẩm : Đoan thân ; Chánh lục phẩm : Đôn nhã ; Tòng lục phẩm : Đôn kính ; Chánh bát phẩm : Cung doãn ; Tòng bát phẩm : Cung xắc ; Chánh cửu phẩm : Cung mậu ; Tòng cửu phẩm : Cung phác. Thụy hiệu võ giai. Chánh nhất phẩm : Võ nghị ; Tòng nhất phẩm : Võ khác ; Chánh nhị phẩm : Trung liệt ; Tòng nhị phẩm : Trung phấn ; Chánh tam phẩm : Anh túc ; Tòng tam phẩm : Anh mại ; Chánh tứ phẩm : Tráng dực ; Tòng tứ phẩm : Tráng nghĩa ; Chánh ngũ phẩm : Tráng nhuệ ; Tòng ngũ phẩm : Tráng hiển ; Chánh lục phẩm : Hùng kính ; Tòng lục phẩm : Hùng tiết ; Chánh thất phẩm : Hùng quả ; Tòng thất phẩm : Hùng cảm ; Chánh bát phẩm : Dũng kiên ; Tòng bát phẩm : Dũng mậu ; Chánh cửu phẩm : Dũng lệ ; Tòng cửu phẩm : Dũng mẫn. Phẩm cấp vợ các quan văn võ (Không phân biệt chánh tòng). Nhất phẩm : Phu nhân ; nhị phẩm : Phu nhân ; tam phẩm : Thục nhân ; tứ phẩm : Cung nhân ; ngũ phẩm : Nghi nhân ; lục phẩm : An nhân ; thất phẩm : An nhân ; bát phẩm : Nhụ nhân ; cửu phẩm : Nhụ nhân).
    Hữu Tham tri Lễ bộ kiêm quản Hàn lâm viện là Phan Huy Thực tâu rằng : “Các đời đặt quan đều dùng lời văn cáo, thực là để kính trọng mệnh vua mà vẻ vang cho đường làm quan. Xét điển lệ của Bắc triều, phàm quan văn võ được bổ, tự Chánh nhất phẩm đến Tòng ngũ phẩm, đều xưng là cáo thụ(() Cáo thụ : cáo là chiếu lệnh của vua ban quan tước lớn, cáo thụ là trao chức tước bằng cáo mệnh.), tự Chánh lục phẩm đến Tòng cửu phẩm đều xưng là sắc thụ(() Sắc thụ : sắc là chiếu lệnh của vua truyền xuống dưới hoặc ban chức tước cho các quan.). Thể thức thì Chánh nhất phẩm bắt đầu 6 câu, giữa 14, kết 6 câu ; nhị phẩm bắt đầu 6 câu, giữa 12 câu, kết 6 câu ; tam phẩm bắt đầu 6 câu, giữa 10 câu, kết 6 câu ; tứ ngũ phẩm bắt đầu 4 câu, giữa 8 câu, kết 4 câu ; lục thất phẩm bắt đầu 4 câu, giữa 6 câu, kết 4 câu ; bát cửu phẩm bắt đầu 2 câu, giữa 4 câu, kết 2 câu. Xin soạn định làm 12 thức, văn nghĩa đều có thể thông dụng để tiện noi theo”.
    Vua sai bộ Lại duyệt kỹ, để thi hành.
    Thổ phỉ ở Nam Định là Phan Bá Vành cùng với đồng đảng là Nguyễn Hạnh (nguỵ xưng là Chưởng Hữu quân) tụ họp hơn 5.000 người, quấy rối các huyện Tiên Minh, Nghi Dương trấn Hải Dương, lại liên kết với giặc Thanh để cướp bóc ngoài biển, chống nhau với quan quân. Trấn thủ Nguyễn Đăng Huyên đánh không nổi. Quan Bắc Thành sai Vệ uý lĩnh cơ Tứ dực Thuỷ quân là Nguyễn Văn Phong đem binh thuyền đi đánh bắt, rồi đem việc tâu lên.
    Vua dụ rằng : “Vành đã họp thành đám to, nên diệt sớm đi. Song Nguyễn Đăng Huyên, Vũ Văn Thân nếu đem nhiều quân mà không đánh mạnh trận nào, để cho giặc được tự do đi lại là làm sao ? Vậy truyền chỉ cho các tướng biền quân thuỷ bộ đi đánh giặc từ Chánh phó thống quản thập cơ, Trấn thủ, Quản phủ trở xuống, người nào lâm trận mà rụt rè bỏ chạy thì cho chém đầu ở cửa quân cho mọi người biết. Các đại viên đi đánh bắt ai mượn cớ nấn ná, sợ giặc tránh giặc, thì đóng cũi giải về Kinh xét trị. Công việc đánh dẹp thế nào cách một ngày tâu một lần. Có việc quan yếu tâu ngay. Đại đội Kinh binh nay mai cũng sẽ đến thành”.
    Lại dụ bộ Binh rằng : “Trương Phước Đặng từ khi được trẫm uỷ cho thống quản biền binh Bắc Thành đến nay không biết chỉnh sức việc quân, chợt gặp việc bắt giặc thì xếp đặt lúng túng, chẳng có kế gì hay, cho nên các tướng biền đến đâu cũng chẳng nên công, vì thế nhen thành giặc lớn. Vậy Trương Phước Đặng thì giáng 4 cấp điệu, lại lột cả mũ áo lập tức cuốn gói, không cho lính theo hầu, về Kinh đợi chỉ. Nguyễn Hữu Thận là quan to giữ một phương, không biết tính toán công việc thì giáng 2 cấp lưu. Nguyễn Đăng Huyên thì cách lưu, vẫn cho coi quân để ra sức đánh giặc chuộc tội”.
    Gia hàm Tiền phong Đô thống chế cho Phó đô thống chế lĩnh Trấn thủ Nghệ An là Trương Văn Minh, cho chuyên quản biền binh Bắc Thành, hiệp đồng với Hiệp tổng trấn Nguyễn Hữu Thận xử lý việc quân, Minh vào bệ từ. Vua cho một con voi đực. Dụ rằng : “Con voi này là tự ngày trẫm ở Thanh cung(() Cung Hoàng thái tử ở.), Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế cho trẫm đấy, mạnh khoẻ không voi nào bằng, trẫm rất quý. Nay cho khanh, nếu có chỗ dùng nó thì tất là thắng trận”. Lại cho một thanh gươm thượng phương(() Gươm vua dùng.), nói rằng : “Hạt Bắc Thành tự khi Lê Chất chuyên giữ đến nay, chỉ làm tạm bợ, cho nên thế quân không được phấn chấn. Nay ngươi vâng mệnh ra thú ngoài Bắc, phàm việc binh chính đều uỷ cả cho ngươi. Từ Quản cơ trở xuống lâm trận mà rụt rè thì không tiếc gươm này”. Lại răn rằng : “Nhà nước nuôi quân để phòng có việc dùng đến, ngày thường nhất thiết không nên sai làm việc riêng. Nếu có sửa đắp đồn trại thì thuê dân làm, không nên bắt lính làm việc khó nhọc”.
    Bèn sai Phó vệ uý vệ Tiền phong trung là Hoàng Văn Lý, Phó vệ uý vệ Kỳ võ là Trương Văn Ba, Phó vệ uý vệ Long thao là Trần Văn Hựu, Vệ uý vệ Hổ lược là Vũ Văn Du đem hơn 1.000 biền binh các vệ, 4 thớt voi, theo ra Bắc Thành lưu thú. Lại phái 40 viên tử trong sổ Hoa danh theo đi để sai khiến. Các viên bị cách là Mai Gia Cương, Nguyễn Văn Lễ đều phát đi Bắc Thành để ra sức làm việc trước quân.
    Lấy Phó tướng Tiền quân là Nguyễn Văn Hiếu làm Phó đô thống chế Tả dinh quân Thần sách lĩnh Trấn thủ Nghệ An.
    Cho Tham hiệp Thanh Hoa là Nguyễn Công Trứ gia hàm Thị lang quyền biện Hình tào Bắc Thành, Tham hiệp Nghệ An là Nguyễn Đức Nhuận gia hàm Thị lang quyền biện Binh tào Bắc Thành, đều cho bổng Tòng tam phẩm, theo Nguyễn Hữu Thận và Trương Văn Minh tham tán việc quân. Những thuộc binh (nguyên tù phạm dồn bổ ở Nghệ An, cho Đức Nhuận đem đi sai phái để gắng sức làm việc).
    Lấy Cai đội Cẩm y là Nguyễn Văn Mỹ làm Phó vệ uý vệ Hổ oai tiền, đem lính đi thú Thanh Hoa, Vệ uý vệ Hổ oai trung là Nguyễn Xuân, Phó vệ uý Lê Văn Thảo đem lính vệ đi thú Nghệ An. Lính thú trước là vệ Hổ oai hữu và vệ Ban trực tả thì đợi Trương Văn Minh đến, theo Bắc Thành.
    Sai Quản cơ Thanh Hoa là Vũ Văn Hảo đem 4 chiếc binh thuyền, Quản cơ Nghệ An là Trương Văn Tín đem 14 chiếc binh thuyền đi chóng đến Hải Dương theo Phạm Văn Lý và Nguyễn Văn Phong đi đánh giặc.
    Vua dụ quan Bắc Thành rằng : “Đảng giặc Hải Dương nhiều lần chống cự với quan quân, thế tất thông đồng với toán khác để gây thêm việc cho ta phải chia sức quân. Nên lượng phái lính miền Nam 1.000 người và lính Thanh Nghệ 1.000 người giữ gìn thành lớn, còn các trấn Nam Định, Sơn Nam, Hải Dương, Bắc Ninh, Sơn Tây thì đều phái một vài viên có năng lực cùng 500 hay 600 lính, Hưng Hoá thì phái 300 hay 400 lính, xen lính miền Nam và Thanh Nghệ, để giữ các trấn thành, còn những lính đi tuần bắt khác thì đều triệt về cả. Vẫn uỷ người tài giỏi đắc lực như Thống quản thập cơ Phan Văn Lý đem lính voi và hoả khí chia đường hội đánh đám giặc to ở Hải Dương. Đám giặc ấy đã trừ được thì đám khác chẳng đánh cũng tan”.
    Bèn phái 100 lính pháo thủ dinh Thần cơ đem 300 súng tay cò đá và dặn rằng ngày đến Bắc Thành thì do quan Bắc Thành lượng để 20 người giữ hoả khí, còn thì uỷ người có năng lực đem 3 khẩu súng hoả xa và 30 khẩu súng quá sơn đi gấp đến quân thứ Nguyễn Đăng Huyên để giúp việc. Súng tay thì chia cấp cho các vệ Hậu bảo Hùng dũng.
    Lại xuống dụ sai cáo khắp các địa phương xứ ấy rằng : “Hễ người bị giặc bắt hiếp đi theo mà biết hối lỗi về hàng thì đều tha tội. Trong bọn có người nào bắt được bọn đầu sỏ là Phan Bá Vành và Nguyễn Hạnh, hoặc chém đầu đem nộp, thì tha cả tội trước, lại thưởng cho 300 lạng bạc. Quan quân dân chúng ai bắt được chém được giặc cũng thưởng như thế. Còn các yếu phạm khác ai bắt được, chém được cũng đặc cách thưởng hậu”.
    Bắt đầu định lệ các nha trong ngoài làm sách lý lịch quan văn, quan võ. (Hằng năm kỳ tháng 4 đều làm sách tâu Giáp, ất, Bính 3 bản, nộp ở bộ Lại. Bộ Lại hội đồng với bộ Binh, phái uỷ ty viên khảo duyệt kỹ càng. Bản Giáp thì ở dưới chỗ niên hiệu đường quan hai bộ đều ký tên và đóng ấn bộ, ty viện chuyên biện cũng theo thứ tự ký tên ; hai bản ất, Bính thì chỉ đề chữ ký của chuyên viên và đóng triện của bộ. Bộ Lại đem bản Giáp tâu lên, đóng ấn quốc bảo để phụng giữ. Bản ất thì đưa sang bộ Binh, bản Bính thì đưa về nguyên nha lưu chiếu).
    Đốc học Nam Định là Thái Doãn Tư dâng phong bì tâu việc 3 điều : 1/ Đặt kho xã thương để phòng mất mùa. 2/ Thêm địa lợi để dồi dào đời sống cho dân. 3/ Sáng giáo hoá để chỉnh đốn tục dân.
    Vua bảo bộ Lễ rằng : “Thái Doãn Tư tâu bày đều là chính sách tốt của nhà nước, nên lần lượt thi hành. Tỏ lòng trung thành như thế thực là đáng khen. Nhưng trong ấy còn có một vài chỗ chưa chu đáo, đợi sau chước lượng sửa chữa mà thi hành”.
    Hữu Tham tri Hình bộ là Vũ Đức Thông trước ở Hình tào Bắc Thành làm việc nhiều điều sai lầm, bị giáng đến 5 cấp, bộ Lại bàn xin cách chức. Vua đặc cách cho giáng làm Lang trung Công bộ. Thông lại vì tra cứu không minh cái án Nguyễn Duy Xương người Sơn Nam theo giặc giết người, việc phát, bèn hạ lệnh cách chức trước giao bộ Hình xét hỏi.
  • Chia sẻ trang này