0059.057 - Chuột Béo ( Soát xong - GD)

8/12/15
0059.057 - Chuột Béo ( Soát xong - GD)
  • PDF
    GoogleDocs


    :rose::rose::rose:
    Đổi ba thổng Man Lão châu Quy Hợp (Thổng Lạn, Thổng Đổ, Thổng Châm) theo Quảng Bình quản hạt, 6 thổng (Thổng Mỗ, Thổng Kham, Thổng Cốc Tán, Thổng Xướng, Thổng Mang, Thổng Lan Can) vẫn gọi tên động Dịch Động theo trấn Nghệ An quản hạt. Chuẩn định lệ thuế tuỳ nơi mà nộp (3 thổng trên mỗi năm nộp một tấm vải hoa, 2 cân sáp vàng, 6 thổng dưới mỗi năm nộp 2 tấm vải, 4 cân sáp vàng). Lấy năm Minh Mệnh thứ 8 bắt đầu. Vì 3 thổng ấy cách Nghệ An hơi xa, tù trưởng Man xin thuộc vào dinh Quảng Bình cho gần, dinh thần Quảng Bình tâu xin dùm. Vua y cho.
    Đem huyện Lôi Dương trấn Thanh Hoa cho thuộc phủ Thọ Xuân kiêm lý. Những lại dịch cũ ở phủ và huyện thì chọn lấy người làm nổi việc bổ làm thuộc lại ở phủ, còn thừa thì bắt về dân.
    Đổi cửa Chính lý đại quan ở dinh Quảng Bình làm cửa Võ thắng quan.
    Hàn lâm Thừa chỉ Phạm Đình Hổ đem sách An Nam chí và sách Ô châu cận lục dâng lên. Vua thưởng cho 10 lạng bạc, 5 tấm lụa.
    Chuẩn định từ nay những nhân viên được ăn lương ở Kinh cứ đến cuối năm nếu muốn lĩnh trước tiền gạo một kỳ về năm sau cũng cho.
    Sai Tượng quân tập trận voi, các quân tập bắn súng nhỏ, súng lớn.
    Triệu Trấn thủ Hưng Hoá là Lê Văn Sách, Trấn thủ Quảng Yên là Lê Phước Hậu về Kinh ; lấy Vệ uý vệ Định võ quân Thần sách là Phan Bá Phụng làm Trấn thủ Hưng Hoá, Vệ uý vệ Tuyển phong tiền là Nguyễn Đăng Khánh làm Trấn thủ Quảng Yên, Lang trung Công bộ là Lê Đạo Quảng làm Tham hiệp Quảng Yên.
    Lấy Vệ uý quân Thần sách là Nguyễn Văn Hạnh làm Vệ uý vệ Hữu nhị quân Thị trung, Nguyễn Văn Thọ làm Vệ uý vệ Minh võ, Cai đội Phan Văn Nghiêm làm Phó vệ uý, Cai cơ vệ Hổ oai hậu quân Thị nội là Trương Văn Hoa làm Phó vệ uý vệ Kỳ võ, Cai đội Nguyễn Văn Cải làm Phó vệ uý vệ Ban trực tả quân Thần sách.
    Gia Định gạo rẻ. Sai thành thần mua 10 vạn phương để sẵn chi cấp lương bổng.
    Bãi chức Quản đạo đạo Bình An thuộc Bình Hoà. Bình An lệ thuộc phủ Bình Hoà đã có phủ viên thống nhiếp cho nên bãi chức Quản đạo.
    Triệu thự Hiệp trấn Tuyên Quang là Phạm Gia Tứ về Kinh ; lấy Hiệp trấn Thanh Hoa là Nguyễn Hữu Phượng làm Hiệp trấn Tuyên Quang, Thị lang Binh bộ là Đặng Văn Thiêm làm Hiệp trấn Thanh Hoa.
    Định ban thứ quan chức văn võ trong ngoài. (Như 3, 4 viên cùng một phẩm thì cứ chiếu ai được gia cấp nhiều thì ở trên, thứ đến gia cấp ít, rồi đến không có gia cấp. Ai có gia cấp phải giáng lưu cũng kể cấp đã giáng, ít thì ở dưới người cùng phẩm, nhiều thì lại ở dưới nữa. Như giữ nguyên phẩm mà thăng thự hàm khác, tuy phải giáng cũng vẫn ở trên nguyên phẩm, khi ký tên tập tâu thì chiếu y lệ này).
    Lấy Hữu Thị lang Công bộ là Lê Văn Đức làm Hữu Thị lang Binh bộ.
    Thăng Vũ Văn Tình làm Trấn thủ Cao Bằng. Tình quyền thự việc trấn, được khen là mẫn cán, cho nên thăng chức này.
    Trấn thủ Hải Dương bị cách lưu là Nguyễn Đăng Huyên đem biền binh thuỷ bộ tiến đánh thổ phỉ, quân đến xã Cổ Trai (thuộc huyện Nghi Dương), nghe tin thuyền giặc đậu ở Đồ Sơn, sai Quản cơ Hậu thắng là Nguyễn Văn Tòng và Phó quản cơ Trung chấn là Nguyễn Văn Tuyển đem 9 chiếc binh thuyền giữ cửa Tam Giang, Vệ uý vệ Hùng cự nhị là Ngô Văn Thành, Cai cơ vệ Hậu bảo nhất là Nguyễn Văn Huy, Phó quản cơ Hữu thắng là Nguyễn Quang Quảng, đem 18 chiếc binh thuyền giữ sông Cổ Trai. Đăng Huyên đem binh và voi đi tuần chặn đường bộ. Nhân đêm giặc xông vào cửa Tam Giang, đánh cướp một binh thuyền. Tòng và Tuyển rút lui. Huy tự Cổ Trai đem binh thuyền đến tiếp ứng, giặc bèn rút đi. Sáng hôm sau thuyền giặc lại đến cự chiến. Tòng và Tuyển chạy trước. Giặc thừa thế tiến đến sông Cổ Trai. Đăng Huyên chần chờ không đến cứu ngay. Ngô Văn Thành cùng Cai đội Nguyễn Văn Lô đều cố sức đánh bị chết, biền binh chết hơn 80 người, còn đều tan chạy. Thuyền ghe súng ống khí giới bị giặc cướp hết. Đăng Huyên đem việc báo thành, trong lời có nhiều điều giấu giếm vẽ vời. Thành thần cứ lời báo tâu lên và nói đã cho những biền binh thua trận ấy theo Phạm Văn Lý làm tiền bộ để ra sức chuộc tội.
    Vua dụ rằng : “Biền binh hơn 300, không lẽ đem xử tử cả, lại gặp lúc lắm việc, cho đi ra sức làm việc còn có thể hiểu. Đến như lũ Nguyễn Văn Tòng có trách nhiệm cai quản mà khi ra trận bỏ chạy thì nên xét tên nào tội nặng hơn đem chém đầu trước quân cho mọi người biết, sao lại thả cả cho đi tiền khu ? Lũ ấy có dám cố chết vì triều đình mà giết giặc đâu nữa ! Kẻ khác còn sợ gì mà chả làm hỏng việc ! Đó thực là dụng binh sai lầm, xem việc mờ tối vậy. Bọn võ biền phạm tội Nguyễn Văn Tòng thì lập tức giải về thành xét hỏi, và phái người có năng lực đến ngay địa phương cứ theo thực trạng mà tâu lên”.
    Đến lúc tờ tâu dâng lên, vua xuống dụ rằng : “Đăng Huyên trước là một viên bị cách, lúc trẫm ở tiềm để đã bỏ lỗi mà dùng, chẳng mấy năm, thăng đến Chưởng cơ, nhà nước phá cách dùng người đối với nó không phải là không hậu. Đáng lẽ phải cảm phát thiên lương, thề lòng ra sức. Thế mà địa phương gặp loạn, Bắc Thành đã giao cho đại đội thuỷ lực lại không xét kỹ cơ nghi, sai Ngô Văn Thành tiến đánh mà mình lại rụt lùi không cứu, đến nỗi hỏng việc, lại còn vẽ vời lấy bại làm công. Tự trẫm xem ra đã rõ như xem lửa cháy. Trước còn nghĩ hỏng buổi sáng mong đến buổi chiều cho nên cho đeo tội ra sức lập công. Nay lại chẳng mưu tính được gì, còn mong gì nữa. Vậy cách chức Nguyễn Đăng Huyên và giao xét nghĩ”. án thành, Nguyễn Văn Tòng và Nguyễn Văn Tuyển đều trảm quyết ; Nguyễn Đăng Huyên, Nguyễn Văn Đản và Nguyễn Quang Quảng đều trảm giam hậu. Những người chết trận, Ngô Văn Thành tặng Chưởng cơ, Nguyễn Văn Lô tặng chức Cai cơ, Cai đội thì thêm tiền tuất mỗi người 40 quan, Đội trưởng mỗi người 20 quan, binh lính mỗi người 10 quan.
    Sau khi dẹp yên giặc, vua nghĩ đến trận Cổ Trai, dụ bộ Lễ rằng : “Ngày nọ thổ phỉ quấy rối, bọn Ngô Văn Thành, Nguyễn Văn Lô quân đơn không có viện mà đã giữa nguy liều chết, đến nỗi cả xác lẫn hồn tan theo sóng gió, khiến ta bội phần thương xót. Vậy hạ lệnh cho quan địa phương biện lễ tam sinh và tiền giấy, do thành phái một viên Thị lang đến bên sông cho tế một đàn. Lại xây mộ giả ở đấy, chính giữa là mộ Ngô Văn Thành, đằng trước về bên tả là mộ Nguyễn Văn Lô, đều xây bằng vôi gạch, còn 80 biền binh thì chia đắp mộ đất ở hai bên. Lại dựng một cái kệ đá khắc mấy chữ “Trận vong tướng sĩ chi mộ”. Ngày làm xong lại làm lễ chiêu hồn cho yên vong linh”.
    Đảng giặc họp hơn 100 chiếc thuyền ra vào ở xã Trực Cát thuộc Đồ Sơn. Vua nghe tin ấy, dụ quan Bắc Thành rằng : “Giặc chỉ quấy rối ở đường thuỷ không dám lên bộ. Nên theo đường thuỷ mà đánh dẹp mới chóng thành công. Bắc Thành đã phái binh thuyền 70 chiếc, gần đây lại phái binh thuyền Thanh Nghệ vài mươi chiếc, tưởng họp đánh cũng đủ xong việc. Chỉ hiềm tiết đương giữa mùa đông, gió bắc thổi mạnh, thuỷ sư ở Kinh phái đi phải đến hàng tuần mới đến, vậy bắt ngay thuyền của dân hơn 100 chiếc hạng 15, 10 mái chèo, rộng 4, 5 thước, chứa được vài chục người, liệu làm cho cao to thêm và quét sơn đỏ, cho lính miền Nam ngồi, chứa sẵn nhiều hoả khí như đạn nổ, quả lửa, tên lửa, ống phun lửa, phao tin là lính Kinh theo đường sông Thanh Hoa, Ninh Bình kéo ra. Lại sai người giỏi quản lĩnh các thuyền mà tiến và hịch cho Quảng Yên lượng bắt thuyền dân chia đường chặn đánh. Bộ binh của ta thì phái đi những chỗ xung yếu ven biển để cùng với thuỷ binh hợp sức đánh giặc, cốt khiến giặc không lên cạn kiếm ăn được. Chiến thuyền của Phạm Văn Lý, Nguyễn Văn Phong thì nên chọn đại đội quân tinh nhuệ, xông thẳng vào sào huyệt giặc ở Đồ Sơn. Như thế thì hẳn đánh tan ngay được. Nên kính tuân dụ này. Trẫm đang đợi tin thắng trận đấy”.
    Bọn Lý tiến đến Đồ Sơn, giặc nghe tin tan trốn cả. Tờ tâu vào. Vua lại dụ quan Bắc Thành giục sai tiến đánh và phái thêm binh và voi đón chặn đường.
    Vua bảo Thống chế Nguyễn Văn Trí rằng : “Lê Chất là công thần của nhà nước, trẫm giao cho giữ bờ cõi quan trọng mà binh thế không mạnh, không ai cho trẫm rõ, mãi đến lúc Chất chết rồi trẫm mới biết, là tại cớ gì ?”. Trí đáp rằng : “Người bề tôi đã được vua yêu dùng ai còn dám nói ? Ngu muội như tôi, nay được vua để ý, dẫu có trăm cái xấu chắc cũng không ai dám bới ra, có phải một mình Lê Chất thôi đâu”.
    Vua lại nói : “Trương Phước Đặng chuyên coi biền binh Bắc Thành mà việc binh bỏ trễ, cũng không có cái gì khả quan”. Trí đáp rằng : “Đặng vốn không giỏi việc binh. Nay Trương Văn Minh đi lần này cũng chưa chắc quân tình đã phục. Vì người cai quản ngày thường bóc lột sĩ tốt, khiến họ không lấy gì nuôi cha mẹ, vợ con, thì họ xoay xở không rồi, còn rỗi đâu mà lo bắt giặc. Cho nên lúc lâm trận đối địch thì thường bị quân ô hợp đánh thua, binh thế đến nỗi suy đồi là bởi thế đấy”.
    Vua bảo thị thần rằng : “Nay mùa đông rét mướt, lính đi thú ngoài Bắc trèo đèo lội suối khó nhọc, trẫm muốn vì họ cầu tạnh, nhưng lại lo đương lúc cày cấy tạnh mãi thì hại việc nông. Ông vua chỉ có một lòng mà lo nghĩ khó khăn đến thế à” ?.
    Tướng giặc Sơn Tây là Lê Văn Bang họp đảng hơn 1.000 người cướp bóc huyện Lập Thạch. Quản phủ Vĩnh Tường là Trần Đình Di thân đem binh dân 200 người, gặp giặc đánh nhau ở xã Đại Lữ, bắt sống và chém được hơn 30 người. Bang trốn chạy. Thu được khí giới rất nhiều.
    Vua nghe tin khen rằng : “Di ít người mà địch được giặc đông, đánh giặc thực là xuất sắc”. Liền trao cho chức Vệ uý Hậu quân, vẫn lĩnh việc quản phủ. Thưởng cho binh dân đi trận 500 quan tiền.
    Cho Điện Bàn công Phổ theo ban chầu mừng. Trước bị phạt bổng 3 năm, đổi làm 2 năm, chia trừ vào 4 năm, mỗi năm cấp cho nửa bổng để chi dùng.
    Trích hai huyện Thanh Chương và Chân Lộc phủ Đức Thọ trấn Nghệ An cho lệ vào phủ Anh Sơn. Trước phủ Đức Thọ thống hạt 6 huyện (La Sơn, Hương Sơn, Thiên Lộc, Nghi Xuân, Thanh Chương, Chân Lộc) mà Anh Sơn chỉ có 2 huyện (Nam Đường, Hưng Nguyên), nhiều ít không đều nhau. Vua sai trấn thần hiệp đồng với quan kinh phái là Đỗ Phước Thịnh xem kỹ địa thế mà chia lại, lại chọn chỗ nào đường sá đi lại vừa đều thì dời xây phủ lỵ hai phủ. (Phủ lỵ cũ của Đức Thọ ở xã An Hồ huyện La Sơn, dời đến xã An Trung ; phủ lỵ cũ của Anh Sơn ở xã Hương Lãm, huyện Nam Đường, dời đến thôn Hồng Nhiễm).
    Hiệp trấn Sơn Tây là Nguyễn Hữu Bảo chết ; cho 200 quan tiền.
    Ba trấn Sơn Tây, Bắc Ninh, Hải Dương ít mưa.
    ấm thụ cho cháu công thần Vọng Các thuộc nội Cai cơ Cù Văn Liêm là Cù Văn Thành và cháu tổng nhung Cai cơ Nguyễn Văn Tuyết là Nguyễn Văn Đông, làm Ân kỵ uý.
    Chưởng cơ quản vệ Hùng dũng là Đỗ Thiên Thẩm chết. Thẩm đi thú ngoài Bắc, có công đánh giặc, vua thương, cho 1 cây gấm Tống, vải lụa mỗi thứ 5 tấm và 200 quan tiền.
    Lấy Thiêm sự Binh bộ là Trương Minh Giảng làm thự Thị lang Binh bộ, Thiêm sự Hình bộ là Thân Văn Duy làm thự Thị lang Hình bộ, Hàn lâm viện Thừa chỉ là Phạm Đình Hổ làm thự Tế tửu Quốc tử giám. Hổ dâng sớ từ. Vua không nghe.
    Định lệ phân xử việc để hư hỏng binh khí do nhà nước cấp (Phàm trong hạn mà binh khí hư hỏng, một vệ hỏng đến 100 cái, một đội đến 20 cái trở lên, thì đại viên Chưởng lĩnh cùng Chánh phó quản vệ và Suất đội đều phải phạt bổng 6 tháng, một vệ 51 cái, một đội 11 cái trở lên, đều phạt 3 tháng bổng, một vệ 10 cái, một đội 3 cái trở lên, Chưởng lĩnh miễn phạt, Quản vệ và Suất đội phạt bổng 2 tháng). Trước đây lệ định những binh khí nhà nước cấp, cứ 5 năm một lần tu bổ, đến bây giờ quan Binh bộ cùng Văn thư phòng hội xét binh khí các quân, có cái chưa đến niên hạn đã hư hỏng. Chưởng lĩnh đến Suất đội đều bị phạt. Nhân sắc rằng từ nay những binh khí trong hạn mà hư hỏng thì phạt theo lệ, lại bắt phải bồi thường.
    Người Man bảy sách (Chế Trang, Làng Hồ, La Vạn, Lục Vân, A Nhân, ỷ Tuân, ỷ Đống) ở Bình Hoà đến nộp thuế sáp, và đem phương vật dâng (4 thớt voi, 4 đôi ngà voi). Trước đây trấn thần là bọn Nguyễn Văn Quế cho người đến các man chiêu dụ, họ đều nghe mệnh cả, duy Ma Trập sợ không dám ra, cho cháu là Ma Trung cũng man tù hơn 20 người đem bộ lạc đi theo. Họ đến trấn, trấn thần Bình Hoà tâu lên.
    Vua bảo bộ Hộ rằng : “Người Man hối lỗi tỏ lòng thành, tình cũng nên thương. Phép nước đã thi hành, nên lấy đức mà bao dung”. Bèn sai trấn thần thết đãi cơm rượu, yên ủi rồi cho về. Thuế sáp còn thiếu đều miễn.
    Định lệ treo cờ ở các kỳ đài trong ngoài (Hằng năm ở Kinh, gặp bốn tiết lớn là Thánh thọ, Vạn thọ, Nguyên đán, Đoan dương, cùng ngày mồng một, ngày rằm lúc đại giá ra vào, đều treo cờ lớn bằng trừu lông sắc vàng ; ngày thường thì treo cờ nhỏ bằng vải vàng. Nếu gặp ngày mưa gió to cùng ngày kỵ thì miễn treo. Các thành dinh trấn đạo phủ huyện, các đài Trấn Hải, Điện Hải, Định Hải, gặp bốn tiết lớn cùng khi xa giá đi tuần đến, đều treo cờ lớn bằng trừu nam sắc vàng ; ngày mồng một, ngày rằm, ngày thường đều treo cờ nhỏ vải vàng. Cờ dài rộng đều có thứ bậc khác nhau. Các hạng cờ ở Kinh thì chước lượng tâu xin bổ cấp, ở ngoài thì cờ lớn 3 năm một lần thay, cờ nhỏ về ngày sóc vọng mỗi năm một lần thay, cờ nhỏ ngày thường mỗi tháng một lần thay).
    Lại định lệ khảo xét các thuế đòi thu đủ thiếu thế nào. Bộ Hộ tâu rằng phép đòi thu là để làm căn cứ mà xem xét thành tích, phân biệt công quá, tất phải tra năm tháng tại chức lâu hay chóng, xét sổ chính phải thu nhiều hay ít, mà phân biệt nghĩ định thì mới đủ tỏ rõ sự khuyên răn. Từ trước đến nay khoá thanh tra, về các chức Đốc trưng(() Đốc trưng : quan ở dinh trấn đốc việc thu thuế.), Thôi trưng(() Thôi trưng : các viên Tri phủ, Tri huyện, Cai trưng, Cai trường thôi thúc việc thu thuế.), Kinh trưng(() Kinh trưng : các viên Cai huyện, Ký huyện, Cai thuộc, Ký thuộc thường thường đến thu thuế. T.L.C.B., đệ nhất kỷ, quyển 45.) thì đại khái chỉ lấy số thiếu trong 3 năm tóm lại mà xét, trong ấy cũng có người làm việc từ đầu đến cuối, cũng có người ở chức một năm nửa năm, thế mà nghĩ xét như nhau thì sợ chưa phải là phép công bằng. Xin từ nay các viên làm việc đốc trưng, thôi trưng, kinh trưng thuộc các thành dinh trấn đạo phủ huyện tổng, có người nào thăng thụ, đổi đi, hoặc về hưu trí, bị cách hay chết, thì người làm việc tiếp phải chiếu số thu được đủ thiếu về phần tháng phần năm của người làm việc trước mà báo rõ lần lên thượng ty sở tại để lưu làm hồ sơ, tổng lên huyện, huyện lên phủ đạo, phủ đạo lên dinh trấn, trấn lên thành, dinh trấn nào không thuộc thành thì do người đồng sự lưu chiểu. Đến khoá thanh tra, theo đấy mà khảo xét và phân biệt nghĩ định”.
    Vua theo lời tâu.
    Hiệp trấn Hưng Hoá là Trần Văn Thông phải tội cách chức. Trước là Tri châu châu Văn Bàn là Sầm Nhân Tráng nhũng lạm của thổ dân đến hơn 390 lạng bạc. Thông tra hỏi, Tráng đã thú nhận mà Thông lại thả không giam cầm. Tráng bèn trốn đi. Đến bây giờ việc phát ra. Thông vì trước sau làm việc ấy, chiếu lệ không giam kẻ trọng phạm phải cách chức. Trấn thủ là Lê Văn Sách, Tham hiệp là Tô Văn Hoảng, một người là võ biền, một người đi việc quan vắng, Sách thì giáng làm Cai cơ bắt về hưu trí, Hoảng thì giáng một cấp lưu.


    chính biên
    đệ nhị kỷ - quyển XLIII
    Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế
    Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8 [1827] (Thanh Đạo Quang năm thứ 8), mùa xuân, tháng giêng, ngày mồng một. Ban ân chiếu cho trong ngoài. Chiếu rằng : “Vương giả không lòng riêng, vâng mệnh trời mà thương kẻ dưới ; nhà nước có việc mừng, cho mọi phước để rộng gia ân. Kinh Dịch nói rằng : “Thể đạo nhân”. Kinh Lễ nói rằng : “Ban ân đức”, đều để tỏ đạo vua to lớn. Trẫm nối mối cả, theo mưu rộng, phàm một chính một lệnh đều nghĩ theo đạo trời. May nhờ trời trên ủng hộ, sông núi giúp thiêng, các quan lớn nhỏ cùng lòng kính cẩn, bốn biển trong ngoài đều được giàu yên. Năm nay vừa gặp Lục tuần đại khánh của Hoàng thái hậu, già cả thêm tuổi, đầy rẫy lộc vinh. Thực bởi hoà thuận gây nên, vâng chịu phước lớn. Ngửa nhờ khí xuân che chở ; mừng ngày phụng dưỡng còn dài. Đem của chín châu để dâng vui, tỏ lòng kính mến ; cùng thiên hạ mà đồng lạc, thoả đạo tôn nhân. Lẽ nên cả ra phước lớn, rộng ban ơn to. Nay hơi dương ban lệnh, ấm sáng mở điềm. Họp cả trên rừng dưới biển để hoan hô, khắp cả mặt đất chân trời mà cho phước. Vậy có ân điển 13 điều :
    1. Tiền thuế thân, tiền đầu quan, tiền điệu, tiền cửa đình năm nay đều miễn.
    2. Tiền thóc gạo thuế lệ về điền thổ năm nay giảm 5 phần 10.
    3. Những người vay thóc không có sức trả được đều tha cả.
    4. Lệ trước những điền thổ sót lậu thì tính từ năm phát giác truy thu 3 năm, nay chuẩn định truy thu 1 năm. Ghi làm lệ mãi mãi.
    5. Những đền miếu phát tích của Đế vương lịch đại đều tế một đàn.
    6. Các thần núi sông lớn đều tế một đàn.
    7. Các quan viên có lỗi về việc công bị giáng phạt tự năm Minh Mệnh thứ 7 trở về trước thì lượng cho khai phục rộng tha.
    8. Quân dân những người 80 tuổi trở lên thì cấp cho mỗi người 1 tấm vải 1 phương gạo, 90 tuổi trở lên mỗi người 1 tấm lụa 2 phương gạo, 100 tuổi trở lên mỗi người 2 tấm lụa 1 tấm vải 3 phương gạo.
    9. Những người tài phẩm giỏi giang ẩn núp ở núi rừng thì xét ghi để bổ dùng.
    10. Xét hỏi những con hiếu thảo, nghĩa phu tiết phụ để nêu khen.
    11. Các nhà trạm dọc đường tự tháng giêng đến tháng 6, mỗi tháng cấp cho 30 quan tiền 20 phương gạo.
    12. Các sở dưỡng tế ở các thành dinh trấn có những người goá vợ, goá chồng, mồ côi, già không con, cùng những người tàn tật không kêu đâu được thì phải nuôi nấng.
    13. Nhân viên các xứ ra sức chuộc tội đã đủ 3 năm thì chước lượng rộng tha.
    Ôi ! Đức Càn nguyên(() Đức càn nguyên : đức của trời, của vua.) nuôi nấng, ban phước khánh cho mọi người ; phước Vương mẫu dồi dào, dâng tuổi tiên đến muôn thủa”.
    Triệu thự Trấn thủ Tuyên Quang là Lê Duy Tích về Kinh ; lấy nguyên Chưởng cơ lĩnh Trấn thủ Quảng Yên là Lê Phước Hậu làm Trấn thủ Tuyên Quang.
    Lấy Chưởng cơ Thống quản thập cơ Chấn định của Trung quân là Nguyễn Đình Phổ lĩnh Trấn thủ Hải Dương, Chưởng cơ lĩnh vệ Cẩm y là Nguyễn Văn Quyền làm Thống quản thập cơ Chấn định Trung quân, Chưởng cơ lĩnh Trấn thủ Bình Định là Nguyễn Văn Trọng lĩnh các đội Túc trực vệ Cẩm y.
    Đổi tên đội Bả lệnh làm ty Kỳ cổ vệ Cẩm y, sai Nguyễn Văn Trọng kiêm quản.
    Xét những tù tội chết về tạp phạm. Dụ rằng : “Nhà nước dùng phép hình sáng suốt ngay thẳng cốt cho kẻ ác sợ mà kẻ gian biết răn, vì dân mà trừ hại. Người xưa ở chỗ ấy thường để lòng kính thương, mà cũng răn việc lạm thả, cho nên nói rằng “Cẩn thận không xá tội”, rằng “Xá người có tội là hại người lương dân”, rằng “Một năm hai lần xá thì người thiện hậm hực”, đều là nói việc hình nên cẩn thận, không cho người có tội được tha bừa. Trẫm tự khi thân cầm chính quyền đến nay, về việc hình ngục thường sắc cho Hữu ty thanh lý mà không dễ dàng xuống chiếu xá, là sợ để sống kẻ ác mà nuôi kẻ gian. Năm nay kính gặp tiết Lục tuần đại khánh của Hoàng mẫu Hoàng thái hậu, ơn to cả thấm, nghĩ đến những kẻ tội kia cũng nên lượng mà rộng tha. Vậy hạ lệnh cho các nha xét hình trong ngoài xét kỹ các tù tội chết về tạp phạm từ tháng 12 năm Minh Mệnh thứ 7 trở về trước, người nào tình đáng thương thì kê thành sách, do bộ trình xem, đợi chỉ cho rộng giảm”.
    Đổi cấp ấn đồ ký cho vệ Phấn dực Nội thuỷ (Trước khắc bảy chữ “Thuỷ quân Thuỷ nội Phấn dực vệ” nay bớt hai chữ Thuỷ quân). Lệ ban thì cho cùng với quân Thị nội, vẫn thuộc Đại viên chưởng lĩnh Thuỷ quân quản hạt. Những Suất thập thực thụ cho đều chiếu phẩm chi bổng.
    Sai quan Bắc Thành sát hạch quan lại.
    Dụ rằng : “Gần đây nghe nói viên ty và thư lại các tào bắt chước nhau, liên kết bè đảng, nhiều người ăn của lót mưu lợi riêng, công việc tự ý mình làm nặng mà nhẹ, mà Hình tào càng tệ hơn. Binh dân ngay vạy, khó mà phân biệt, án từ phải trái, làm sao công bằng ? Mưa nắng trái tiết, giặc cướp nổi thêm, chưa chắc không phải vì cớ ấy. Bọn ngươi Nguyễn Hữu Thận, Trương Văn Minh, nên cùng với tào viên giữ lòng công bằng, sát hạch bọn ty viên thư lại, người nào thanh liêm, siêng năng giữ phép, không có việc gì tham ô, thì liệt làm hạng ưu, đợi chỉ đề bạt ; người nào hơi cần cán, chưa từng a dua làm bậy và mưu cầu hối lộ, thì liệt làm hạng bình, cho lưu để cung chức ; người nào dẫu không có lỗi tệ mà già yếu ươn hèn, thì liệt vào hạng thứ, bắt phải hưu trí. Đến như người nào múa máy văn từ, cợt đùa pháp luật, điên đảo phải trái, thì chỉ tên nghiêm hặc để trừng trị. Không được một chút thiên tư, khiến cho lại được người hiền, quan xứng chức vụ. Về sau vẫn thời thường cố gắng, lưu tâm xem xét, người tốt thì tiến lên, người xấu thì đuổi về. Hoặc có người trước siêng sau biếng, trước liêm sau tham, thì dẫu là người mình bảo cử lên cũng phải cứ thực tham tâu, mới xứng đáng với trách nhiệm uỷ thác. Phen này trẫm đã khẩn thiết hiểu dụ, bọn ngươi đều nên cảm phát thiên lương đem lòng công trung vì nước, để cho quan lại được nghiêm chỉnh, hoặc giả đóng được phước trời, thoả lòng dân trông cậy, cho trẫm khỏi phải lo về phương Bắc”.
    Gia cho Thiêm sự Nội vụ phủ là Nguyễn Khoa Minh hàm Thị lang cho quyền biện Hộ tào Bắc Thành.
    Ngày Giáp thân, tế xuân hưởng.
    Sai vệ Ban trực hậu đi thú Ninh Bình, các vệ Long võ trung, Kỳ võ, Hữu bảo nhất đi thú Bắc Thành. Thưởng cho biền binh tiền lương bổng một tháng cùng quần áo theo cấp bậc. Lại chuẩn cho từ nay phàm lính Kinh đi thú, những Thư lại thực thụ cứ ngày đến chỗ thú thì chiếu phẩm chi bổng, về Kinh lại theo lệ chi lương. Định làm lệ mãi mãi.
    Đổi vệ Hậu bảo tam của Hậu quân làm vệ Cường dũng, lệ theo việc quân ở Bắc Thành.
    Định lệ khoá thanh tra Nội vụ phủ, cứ 3 năm một khoá, lấy các năm Dần, Tỵ, Thân, Hợi làm kỳ khoá. Khâm phái Đổng lý, Phó đổng lý, mỗi chức một người. Những người tuỳ biện thì viên ty sáu bộ mỗi bộ 2 người, viên ty Vũ Khố, Khâm thiên giám, Thương bạc, Tào chính, mỗi nơi một người.
    Sai Thị lang Binh bộ là Trương Minh Giảng làm Đổng lý thanh tra Nội vụ phủ, Lang trung Hình bộ là Nguyễn Nhược Sơn làm phó.
    Sai trấn thần Nam Định xét thực trạng quan lại và binh dân để tâu lên. Dụ rằng : “Tình hình giặc cướp ở địa phương gần đây, quan quân đi tuần bắt giặc làm việc tốt xấu thế nào, quan lại phủ huyện có tham tàn không, dân mọn nghèo đói đi làm giặc nhiều hay ít, các ngươi Đỗ Văn Thịnh, Lê Đình Khuê, Vũ Đức Khuê, nên cứ thực tâu lên ngay, không được mảy may giấu giếm, vẽ vời. Lại Vũ Đức Khuê là tự trẫm đặc cách chọn bổ, đến trấn chưa bao lâu, làm việc không được như trước. Ngươi nên đêm khuya bấm bụng, những việc lười biếng sơ suất, cùng những chỗ không dám nói với ai, có thì đổi đi, không thì cố gắng, chớ nghĩ rằng cửa vua xa muôn dặm, mà phải nghĩ lúc nào cũng như ở gần điện đường, nghĩ như thế là đã được hơn một nửa rồi”.
    Đến lúc bọn Thịnh phước tâu, vua quở rằng : “Xem tờ tâu, thấy tình hình dân gian, tệ của quan lại, không nói rõ được một tý nào. Tiếc cho ta một lòng thành thực hỏi kẻ dưới mà các ngươi coi như không nghe. Nay hãy gác để đấy. Nếu bọn ngươi thiên lương không mờ tối, còn tiếc thân danh, thì nên đem những quan lại tham ô chỉ ra mà tham hặc, thì tội thất sát còn nhẹ, cái tội phụ ơn vua còn nên để sống ở đời sao ? Cố đi, cố gắng mãi đi, chớ để đến phải cắn rốn(() Cắn rốn : chữ Hán là “phệ tề”, chữ ở Tả truyện, ví như người ta không thể cúi xuống mà cắn rốn của mình được, ý nói ăn năn không kịp.)”.
    Chế ấn quan phòng bằng ngà cho Thị lang lục bộ, mỗi bộ một cái.
    Sai Hoàng tử Miên An dâng 50.000 quan tiền lên cung Từ Thọ.
    Bộ Lễ tâu rằng : “Hằng năm gặp ngày Thánh thọ ở cung Từ Thọ, cùng các lễ Nguyên đán, Đoan dương, thì Hoàng thượng đem bầy tôi làm lễ. Sau khi muôn việc được rảnh, lại thân đến xem bữa ăn, thăm sức khoẻ, thực đủ tỏ bày đức hiếu của thánh nhân. Đến như đầu năm dâng tiền, thì sai Hoàng tử, lễ nên như thế. Những nghi thức tiến dâng nên định phép nhất định, khiến người thừa biện được tiện noi theo. Vả xét năm thường tiến dâng 10.000 quan, gặp năm đại khánh thì thêm lên là 50.000 quan. Xin soạn sẵn mẫu văn lễ điệp cung tiến, mỗi trường hợp một bài, lấy năm Minh Mệnh thứ 9 bắt đầu. Do bộ Hộ theo lệ, cứ đầu xuân xin vua sai Hoàng tử và một viên bộ thần mang mũ áo tiến dâng, đúng nghi thức”. Vua theo lời tâu.
    Chưởng cơ lĩnh thập cơ Kính tiệp của Tiền quân là Phạm Văn Lý và Vệ uý lĩnh cơ Tứ dực của Thuỷ quân ở Bắc Thành là Nguyễn Văn Phong đánh tan thổ phỉ Nam Định là Phan Bá Vành ở Tam Giang. Vành từ trận Đồ Sơn trốn chạy, đem đồ đảng vài nghìn cùng hơn 100 chiếc thuyền trốn đến địa hạt Tiên Hưng,
  • Chia sẻ trang này