0059.058 - Chuột Béo ( soát xong - GD)

25/11/15
0059.058 - Chuột Béo ( soát xong - GD)
  • PDF
    GoogleDocs


    :rose::rose::rose:
    Thái Bình. Bọn Lý đốc thuỷ binh theo đến Tam Giang, đánh tan quân Vành, bắt sống và chém giết, thu được thuyền ghe khí giới. Tin thắng trận tâu lên. Vua cho thư khen ngợi. Thăng Phạm Văn Lý làm Thống chế vẫn lĩnh thập cơ Kính tiệp của Tiền quân ; thưởng cho một khẩu súng tay bịt vàng của Tây dương, 1 cái gươm đầu sư tử mạ vàng, 1 cái áo mở bụng bằng nhung đỏ cúc vàng. Thăng Nguyễn Văn Phong làm Chưởng cơ vẫn lĩnh cơ Tứ dực của Thuỷ quân ; thưởng cho 1 khẩu súng tay bịt bạc, 1 cái gươm đầu sư tử mạ vàng, 1 áo mở bụng bằng nhung Chương Châu hoa chằng chịt. Thưởng quân sĩ 5.000 quan tiền. Lại dụ cho thành thần truyền hịch cho các đại viên cầm quân đem thuỷ bộ đều tiến, đánh cho thật mạnh. Có Đội trưởng, Suất đội giữ kho muối là Nguyễn Thường đánh nhau với giặc, chém được hơn 30 tên. Cho thăng chức Cai đội, thưởng 400 quan tiền.
    Tướng giặc Phan Bá Vành lại họp đảng ở Thiên Trường và Kiến Xương. Thành thần tâu xin phái thêm Kinh binh, cùng thuyền ghe và hoả khí, để thêm quân thế. Vua dụ rằng : “Trận thắng ở Tam Giang giặc đã mất vía chạy trốn, đáng lẽ nên nhân trận thắng ấy thúc thuỷ quân đuổi ngay cho đến cùng, giặc tất phải bỏ thuyền chạy tan ; giặc dưới nước đã không chống nổi thì giặc trên bộ cũng đến bị bắt thôi. Bọn ngươi lại thận trọng quá, để mất cơ hội ấy không làm, đến nỗi lửa sót lại cháy, giống như nuôi cái ung để lo về sau. Nếu bảo rằng đợi thêm thuyền ghe thêm hoả khí mới đủ xong việc, thì sao không nghĩ ngày trước chỉ có như thế cũng đủ đánh được giặc ! Nếu mươi ngày nữa lính và khí giới của ta mới biện xong, thì giặc cũng bức bách dân ngu cấu kết càng đông, một điều ấy cũng rõ là mờ tối, bỏ mất thời cơ. Lại nói rằng các vệ binh miền Nam hiện đóng thú phân phối không đủ, các vệ Tiền phong mới đến sợ không quen đánh giặc. Nay binh miền Nam trước sau đóng thú cũng chẳng ít gì, mà binh các vệ Tiền phong, Kỳ võ, Long thao, Hổ lược, vốn là quân tinh nhuệ, lo gì không cố sức đánh giặc, chỉ lo tướng suý không chịu ra sức thôi. Vả lại Kinh binh chỉ giúp việc đàn áp và phái đi việc khẩn yếu để thu thành hiệu, nếu chỗ nào cũng phải là binh miền Nam thì ý các ngươi muốn có mấy vạn binh mới đủ xong việc ? Thành ra binh Thanh Nghệ và Bắc Thành không dùng được việc gì à ? Một điều ấy thì lấy gì để khiến cho người ta hăng hái phấn khởi. Lại như xin phái binh Hổ oai và Hậu bảo, thì binh cùng voi ở Kinh mới phái đi mươi ngày nữa cũng sẽ đến thành, không cần xin nữa. Lại xin phát 300 súng tay, thì đã chiếu số phát trạm cho đi rồi. Lại xin phái lính đi thú Ninh Bình, thì đã cho phái vệ Ban trực hậu đi rồi. Bọn ngươi Nguyễn Hữu Thận, Trương Văn Minh, đều nên trổ mưu kế, nghiêm sức cho các đại viên lĩnh binh các đạo định ngày hội đánh, cốt sao đánh một trận thành công, không được lần chần trông ngóng. Nếu lượng sức không đánh nổi thì phải tâu thực ngay. Trẫm đã dự bị đại binh thuỷ bộ, sai tướng rảo ngay đến đánh, há lại cứ ngồi trông đàn rế, đàn kiến luông tuồng sính chỉ hay sao ? Đến lúc ấy một trận đánh tan thì bọn ngươi là những người cầm quân sợ không thể trơ mặt đứng ở đời được”.
    Nhân sai cấp tiền lương cho lính thuỷ, lính bộ Bắc Thành (Lệ định lính đương ban hằng tháng chỉ cho gạo lương, vì có việc đánh giặc cấp thêm mỗi người 1 quan tiền). Việc xong lại như lệ cũ.
    Sai Phó tướng Hậu quân là Ngô Văn Vĩnh đem hai vệ Hậu bảo nhất, Hậu bảo nhị đi Bắc Thành đánh giặc. Vua thấy Vĩnh lão luyện về đánh trận cho nên sai đi.
    Lại phái Vệ uý Thuỷ dinh và Tả dinh quân Thần sách ở Nghệ An, mỗi dinh một người theo thành sai phái.
    Cho uỷ viên các thành trấn được dẫn vào ra mắt ở Đông Các.
    Vua bảo thị thần rằng : “Các vua đời gần đây, thường ở sâu trong chín lần cửa, có việc gì chỉ truyền mệnh lệnh, bầy tôi ít được trông thấy, cái nạn che lấp bởi đó gây nên. Trẫm cho như thế là không phải. Phàm vua với tôi cũng như cha với con, thân nhau như một thân thể. Trẫm hoặc có khi se mình, cho bầy tôi hỏi thăm là cũng muốn trên dưới thân nhau, để khỏi cái tệ cách trở”. Lại nói : “Gần đây các quan ngoài về Kinh vẫn hay cho dẫn vào ra mắt, không những để xét lời nói, nét mặt, cũng nhân đấy mà hỏi sự tật khổ của dân gian, phép ấy có thể làm được lâu dài đấy”.
    Bộ Hình tâu : “Tự trước đến nay, về việc địa phương thu thẩm, tù phạm, phát phối quân lưu, cùng việc động tĩnh bốn quý và hình án cuối năm, đều làm sách tâu sớ tâu dâng lên, do bộ Hình xếp đặt đề trình. Sách tâu cùng sớ tâu đều phê lời “phụng chỉ”, còn các sách khác chỉ để lưu chiếu ở bộ. Trộm nghĩ sách thu thẩm là thẩm xét tội trạng tù nặng, việc rất quan trọng về hình danh, xin cứ theo như lệ cũ, còn các việc khác thì đổi làm sách tư bộ”. Vua theo lời tâu.
    Quan thành thần Gia Định tâu xin cho Thống chế Nguyễn Văn Tuyên dự bàn việc thành
    Vua dụ rằng : “Việc đình nghị ở Kinh đã cho các Vệ uý Thị trung, Thị nội được dự ngồi nghe, đó là để quen hiểu chính thể mà thôi, vốn không được dự vào hàng bàn bạc. Vả những việc của thành tào đều có chuyên trách, Tuyên theo làm việc ở thành, chỉ chuyên cai quản biền, há nên cho lấn sang chức khác. Duy khi có một vài việc quan trọng gì khó khăn còn ngờ thì cho đến hội thương cũng được”.
    Cấp đồ nhung phục cho các quản quân đi thú ở Thanh Nghệ và Bắc Thành, cứ 5 năm thay một lần như lệ ở Kinh. (Chánh phó vệ uý và Suất đội quân Thần sách ở Thanh Nghệ, Quản cơ Tứ dực của Thuỷ quân, Quản thập cơ của Ngũ quân Bắc Thành, Chánh phó vệ uý vệ Cường dũng, Vệ uý vệ Hùng dũng, Phó vệ uý vệ Nghiêm dũng, Chánh phó quản cơ cơ Ngũ kích của Tượng quân, cơ Tứ dực của Thuỷ quân, Quản cơ Tam hùng, Phó quản cơ cơ Hiệu thuận ngũ Bắc Thành).
    Cho Chưởng cơ lĩnh Lưu thủ Quảng Trị là Phạm Văn Tín lưu ở Kinh theo ban chầu hầu, gia ân cho chi toàn bổng.
    Lấy Phó vệ uý vệ Hùng dũng là Trần Văn Duy làm Vệ uý.
    Ngày Giáp ngọ. Duyệt binh.
    Vua ngự ở Nam đài để xem. Dụ thị thần rằng : “Binh lính có tên trong sổ phải có thực số, gần đây nghe nói những viên biền không tốt hay giả mạo, để điểm danh cho đủ, thói ấy không thể để cho lớn lên. Tự nay cứ đầu mùa xuân hội duyệt quân lính, có người ốm hay trốn, cho quản quan cứ thực mà khai. Nếu dám có sự giả mạo thì theo quân luật xử trị. Đại viên quản lĩnh thì giao bộ nghiêm nghị.
    Vua đi chơi phía đông Giao. Trước định đầu xuân đi tuần thăm, gặp trời mưa lại thôi. Gọi Kinh doãn là Ngô Phước Hội hỏi về công việc làm ruộng. Dụ rằng : “Mưa xuân đường lầy, xa giá chưa thể đi được, đợi trời tạnh cũng chưa muộn, can gì phải làm trái tình để cầu khen, như Ngụy Văn hầu [đi săn] giữa lúc mưa(() Ngụy Văn hầu hẹn giờ với Ngu nhân đi săn, đến giờ mưa to, cũng cứ đi săn, để cho đúng hẹn.), Tần Hiến công [thương người] dời cây gỗ(() Tần Hiến công làm tân pháp, muốn cho dân tin, dựng cây gỗ ở cửa Nam, yết thị rằng ai dời được cây ấy đến cửa Bắc thì thưởng 5 lạng vàng. Không có ai cả, lại yết thị nói ai dời cây ấy thì thưởng cho 10 lạng vàng, sau có người dời cây ấy, thưởng đủ 10 lạng vàng để làm tin.), chỉ là giữ điều tin nhỏ mọn”. Đến bấy giờ mới đi chơi phía đông Giao, thưởng cho 2.000 quan tiền cho xã dân dọc đường.
    Đi săn ở đồng Hưng Bình.
    Vua bảo bộ Binh rằng : “Người xưa nhân việc đi săn bắn để học việc võ. Ngày nay mùa xuân đi săn cũng là ý ấy”.
    Đảng giặc ở Nam Định 5.000 người cướp phủ Kiến Xương. Phó thống thập cơ Oai thắng của Hậu quân là Phan Bá Hùng đánh nhiều trận, phá tan giặc ; Phó thống thập cơ Hùng dũng của Hữu quân là Phan Đình Bảo và Tham tán Nguyễn Công Trứ cũng đều đem quân chia đường tiến đánh. Bọn giặc bị quân ta giết chết và đánh bị thương nhiều, bèn vỡ chạy cả. Quan Bắc Thành đem việc tâu lên. Vua sai thưởng Bá Hùng gia một cấp quân công, Đình Bảo và Công Trứ đều hai thứ kỷ lục quân công, thưởng biền binh 15.000 quan tiền. Chém được một đầu mục giặc thì thưởng cho 30 lạng bạc, một tên giặc thì thưởng 3 lạng bạc. Đánh nhau với giặc bị thương hay chết, định thưởng theo thứ bậc. (Người chết, Vệ uý cấp 150 quan tiền ; Phó vệ uý, Quản cơ 100 quan ; Phó quản cơ, Cai cơ 70 quan ; Suất đội 40 quan ; Suất thập 20 quan ; lính 10 quan. Người bị thương, Vệ uý cấp 70 quan tiền ; Phó vệ uý, Quản cơ 50 quan ; Phó quản cơ, Cai cơ 30 quan ; Suất đội 20 quan ; Suất thập 10 quan ; lính 5 quan. Dân phu thủ hạ thì người chết cấp 5 quan, bị thương cấp 3 quan). Sắc rằng từ sau cứ theo lệ này mà làm.
    Ban thưởng cho các Hương cống phân phái đi hậu bổ vào lạy ở Đông Các mỗi người 20 lạng bạc.
    Vua bảo bộ Lại rằng : “Cống sinh, Giám sinh trong kỳ đại khiêu năm ngoái nhiều người còn đợi bổ. Nên truyền dụ cho các địa phương rằng những chức Thư ký, Cai án, Tri bạ, Câu kê khuyết mà không có người bổ được thì có thể lấy Cống sinh, Giám sinh quyền bổ những chức ấy, để cho họ có công việc làm, được thi thố tài năng, cũng có thể theo việc mà xét nghiệm người ấy nên làm chức ấy hay không ; hoặc là tài người ấy cho đi cai trị xã dân là hơn thì sau này gặp khuyết chức Doãn thừa, không cần phải thử, tâu xin cho thực thụ ngay lại chóng được thành hiệu. Cốt ở thượng ty để ý xem xét, vì nhà nước gây dựng nhân tài”.
    Dựng thành cung Vĩnh Thanh, cùng nhà công, kho công. Vua sai trấn thần thuê thợ làm.
    Sai Đô thống chế Phan Văn Thuý kiêm quản Tào chính.
    Sai bộ Binh tư cho các hạt kén mua ngựa đực, Bắc Thành 50 con ; Ninh Bình, Quảng Nam, Bình Hoà, mỗi nơi 10 con ; Quảng Ngãi 20 con ; Bình Định, Phú Yên, mỗi nơi 25 con ; cốt chọn được ngựa to cao khoẻ mạnh. Nếu được con nào giỏi chạy mà tính thuần tốt, có thể sung làm ngựa ngự thì ngựa trắng thưởng 100 lạng bạc, các sắc khác 80 lạng bạc.
    Ty viên bộ Lễ nhiều người nhởn nhơ không làm việc, quan bộ Lễ xin phép đánh roi. Vua nói rằng : “Quan viên tự thất phẩm trở lên, có người nào không xứng chức thì nên chỉ tên tham hặc, đợi chỉ trừng trị. Sao lại làm trái luật mà đánh roi người ta được ?”.
    Các địa phương theo chỉ thả các tù quân lưu, dồn bổ làm lính, Bình Hoà dồn làm đội Hoà thiện ; Quảng Ngãi dồn làm đội Quy thiện, đều đem việc tâu lên.
    Sai cấp cho lương tháng (mỗi tháng 5 tiền và 1 phương gạo). Hạt khác theo đấy làm lệ.
    Dựng cột cờ ở các cửa Kinh thành, mỗi cửa dựng hai cột, dài 2 trượng 5 thước ; cờ viết tên cửa. Cầu Tả Thanh Long, cầu Hữu Thuỷ Quan cũng theo quy chế như thế. Lại định lệ treo cờ, treo đèn. (Trước tiết Thánh thọ một ngày, đêm treo đèn, ngày chính thì ngày treo cờ, đêm treo đèn. Trước tiết Vạn thọ 3 ngày, đêm đều treo đèn, trước một ngày treo cờ, ngày chính thì ngày treo cờ, đêm treo đèn. Tiết Trừ tịch, 3 ngày tiết Nguyên đán, tiết Đoan dương, ngày treo cờ, đêm treo đèn. Ngày đại triều, thường triều, xa giá đi tuần lúc đi lúc về ; cùng là ngày vua ngự Nam đài duyệt binh, đều treo cờ. Nếu như nhà dân trong Kinh thành bị cháy thì ngày hay đêm cứ trông hiệu cờ hiệu đèn trên kỳ đài thì biết bắt đầu hay hết).
    Tướng giặc Sơn Tây là Đinh Thế Thai tụ đảng ở huyện Yên Sơn, cướp bóc dữ dội. Quản phủ Quốc Oai là Nguyễn Hữu án và Phó quản cơ cơ Tả oai Hậu quân là Trần Văn Du đem binh đi đánh, bắt được Thai giết đi. Thưởng cho bọn án kỷ lục đều một thứ ; thưởng cho biền binh 300 quan tiền.
    Hải Dương có hơn 20 thuyền giặc cướp xã Gia Viên, Tri huyện An Dương là Nguyễn Quang Mưu nghe tin báo, đem dân phu, thủ hạ đến đánh, cướp được 1 chiếc thuyền, chém được 4 tên giặc ; giặc bị chết đuối ở sông rất nhiều, bèn chạy về phía đông. Thưởng cho Quang Mưu kỷ lục 1 thứ và 150 quan tiền.
    Lại có Cai đội giữ bảo Nhân Mục (thuộc huyện Vĩnh Lại) là Hoàng Văn Tả gặp giặc, quân ít không địch nổi, cố sức đánh, chết ở trận. Vua nghe tin, sai cấp tiền tuất cho Tả 40 quan, cho Đội trưởng chết trận 20 quan, cho binh lính 10 quan. Sắc rằng từ nay các biền binh đi đánh giặc, thực có hăng hái dũng cảm xông vào đánh giặc, liều mình đến chết, thì cho theo lệ này mà thưởng hậu cho.
    Phó thống thập cơ Kiên nhuệ của Tả quân là Vũ Văn Thân đem quân đi tuần bắt giặc ở Hải Dương, bắt được 2 tên đầu mục giặc. Việc tâu lên thưởng cho người báo 200 quan tiền. Thân trước phải giáng cấp, cho khai phục.
    Thổ phỉ ở Hưng Hoá là Xa Văn Nhị kết đảng với tướng giặc Lê Duy Khương, mưu dụ dân Man. Quản đạo Ninh Bình thấy thượng du hạt ấy tiếp giáp Hưng Hoá lấy làm lo ngại, báo cho án trấn Thanh Hoa là Tôn Thất Dịch biết, rồi đem binh và voi đi kinh lược địa hạt, truyền hịch sai thổ ty, thổ mục các châu, huyện đóng chặn ở xã Thạch Bi (thuộc huyện Lạc Thổ), lại phái 200 binh theo Quản phủ Thiên Quan đóng giữ bảo Lãng Phong rồi về. Tờ tâu vào. Vua cho là phải. Lại dụ đạo thần là Lê Văn Túc và Nguyễn Hựu Nghi rằng : “Bọn ngươi đều là trẫm chọn bổ, nên rộng trổ mưu kế mà làm việc, phàm việc xét quan lại, nuôi vỗ dân, phòng kẻ gian, bắt giặc cướp, phải làm sao cho mọi việc thoả đáng để giặc không dám dòm ngó, nhân dân được yên lành, mới là xứng đáng chức phận. Nếu không thế thì hỏi tội ở các ngươi”.
    Sai đình thần truyền chỉ cho 11 trấn ở Bắc Thành rằng từ nay có việc quân cơ khẩn yếu, và những việc điềm lành hay tai hại, cùng tình hình nhân dân, thói tệ quan lại, giá gạo từng tháng tâu lên, thì được làm tập tâu riêng mà đệ thẳng, đồng thời tư cho thành biện lý. Đạo Ninh Bình thì mọi việc án kiện tấu tập cho được đệ thẳng, còn những công việc tầm thường phải tư cho Thanh Hoa thì chiếu theo lệ trước mà làm.
    Chuẩn định các trấn Bắc Thành, phàm có việc đệ thẳng, thì Sơn Nam do trạm Sơn Phú, Nam Định do trạm Ninh Đa, đều tự phát đệ thẳng vào bộ, còn các trấn khác thì do thành phát thay.
    Thuộc man ở Thanh Hoa, tù trưởng các châu động Sơn Thôi, Trình Cụ, Chấp Yết đến trấn nộp cống (Lệ cống 170 lạng bạc, 15 tấm vải man hoa, 51 cân 4 lạng sáp), trấn thần cấp cho rượu và đồ ăn, nhân xin định làm lệ. Vua y cho.
    Triệu Chưởng cơ lĩnh Lưu thủ Quảng Bình là Hồ Văn Trương về Kinh, lấy Vệ uý Lê Văn Quý làm Chưởng cơ lĩnh Lưu thủ Quảng Bình.
    Lấy Tham hiệp Thái Nguyên là Nguyễn Chương Đạt làm Tham hiệp Định Tường, Hàn lâm Kiểm thảo Ngô Bá Nhân làm Lang trung Binh bộ thự Tham hiệp Thái Nguyên.
    Đổi Hiệp trấn Nam Định là Lê Đình Khuê làm Hiệp trấn Sơn Tây, lại sai Trần Chính Đức về Nam Định cung chức như cũ. Trước Chính Đức có chỉ gọi về Kinh, lấy Đình Khuê thay, đến khi vào chầu, vua hỏi rằng : “Gần đây một vùng Nam Định giặc cướp nổi lên như ong, có phải là vì đói rét hay là vì lời ngoa truyền về tinh tú mà kéo nhau làm giặc ?”. Chính Đức đáp rằng : “Vì một vài đứa bất đắc chí dụ dỗ mà thôi”. Vua nói : “Dân mọn bị giặc dụ dỗ, một khi thấy quan quân thì đáng phải tự quay giáo, sao còn đua nhau cầm giáo mà đánh nhau với quan quân ? Đại khái dân không yên phận cày ruộng, rủ nhau làm giặc thì tất có cớ, sao lại chỉ đổ cho chuyện dụ dỗ ?”. Rồi cho phục chức mà đổi Khuê đi Sơn Tây.
    Tổng trấn Gia Định là Lê Văn Duyệt dâng biểu xin về Kinh thăm chầu.
    Vua dụ rằng : “Từ khi giao cho khanh chuyên giữ khổn đến nay, gió bụi cõi biên đã lặng, nhân dân yên ở làm ăn, thư được mối lo về miền Nam của trẫm. Nay xem tờ tâu, lòng luyến khuyết đã soi thấu. Nghĩ sức khoẻ của khanh tuy không bằng ngày trước, nhưng trước nay việc biên thuỳ đã hiểu rõ, công việc xử trí tưởng cũng chẳng khó nhọc gì lắm. Hãy nên phấn khởi tinh thần, cố gắng ở lại vỗ trị nhân dân. Năm nay gặp lễ Lục tuần đại khánh của Hoàng thái hậu, đợi đến cuối hạ đầu thu trẫm sẽ chọn người quyền thay việc thành, sẽ cho khanh về Kinh để chúc thọ”.
    Tháng 2, lấy Chưởng cơ lĩnh vệ Cẩm y là Nguyễn Văn Trọng làm thự Thống chế dinh Hổ oai, Chưởng cơ Hồ Văn Trương quản các đội Túc trực và vệ Cẩm y ty Kỳ cổ, Vệ uý Nguyễn Tài Minh làm Chưởng cơ vẫn quản các đội Trường trực, Thường trực vệ Cẩm y, Vệ uý vệ Thần cơ trung là Trương Công Tuyên làm Chưởng cơ kiêm quản các vệ Thần cơ tiền hậu, Chấn oai, Thần oai.
    Cho Đoàn Văn Trường làm Phó đô thống chế Trung dinh quân Thần sách, Phạm Văn Điển làm Thống chế Thị tượng, Lê Văn Hoan làm Thống chế Tượng quân, Nguyễn Tài Năng, Nguyễn Văn Hạnh làm Thống chế Thuỷ quân. Lại sai chế cấp cho Phạm Văn Điển và Lê Văn Hoan ấn quan phòng Thị tượng thống chế và Tượng quân thống chế bằng ngà.
    Lấy Vệ uý vệ Hổ oai trung là Nguyễn Xuân làm Vệ uý vệ Hữu nhất quân Thị trung, Phó thống thập cơ Chấn định của Trung quân là Trần Văn Lộc làm Phó vệ uý vệ Trung nhất, Phó vệ uý vệ Long võ hữu là Nguyễn Văn Đoài làm Phó vệ uý vệ Tả vệ, Viện sứ viện Thượng tứ là Lê Thuận Tĩnh làm Phó vệ uý vệ Hậu vệ, vẫn lĩnh viện Thượng tứ, Vệ uý vệ Hùng cự nhất Tượng quân là Lê Văn Huyên làm Vệ uý vệ Hùng cự nhị.
    Lấy Thượng bảo Thiếu khanh là Thần Văn Quyền làm Thượng bảo khanh, Hàn lâm viện Thừa chỉ là Tôn Thất Bạch làm Thượng bảo Thiếu khanh, đều quản lý Văn thư phòng.
    Bọn Trần Lợi Trinh, Trần Văn Tính, Hoàng Kim Xán, Hoàng Kim Hoán, Nguyễn Đăng Tuân dâng sớ nói : “Thổ phỉ Nam Định hung dữ đánh nhau với quan quân, xin chọn hai viên đại tướng chia nhau cầm quân thuỷ bộ tiến đánh, cho nhân dân phương ấy khỏi chịu lầm than”. Vua cho lời nói là phải. Lấy thự Thị lang Hình bộ là Thân Văn Duy làm thự Thị lang Binh bộ, quyền biện Binh tào Bắc Thành, vẫn cho tham biện việc quân. Duy thấy thổ phỉ ở Bắc Thành đã lâu chưa dập tắt được, mạnh bạo dâng sớ xin đi, đại lược nói : “Nay thổ phỉ Bắc Thành tụ họp ở miền Đông nam, cướp bóc địa phương, xếp đặt công việc bận nhiều đến lòng vua. Sai tướng ra quân thực là muốn dẹp được giặc yên dân, nhưng bọn giặc nhiều lần bị quan quân đánh tan, mà tan rồi lại họp, thần chưa hiểu được. Vả lại hai hạt Đông và Nam, đói thì phát thóc bán rẻ và cho vay, mất mùa thì tha giảm thuế má, người ta lương tâm sẵn có há không có bụng tôn thân ! Huống chi bọn giặc họp lại như đàn quạ, tan đi như bầy hươu, không như một nước đối địch. Triều đình có tướng lão luyện quân tinh nhuệ, đều có lòng căm giặc, thế mà vẫn chưa thấy thành công. Đó lại là điều thần chưa hiểu được. Thần dẫu chưa học việc quân mà tình trạng nhân dân thì có thể hỏi biết, uy đức của triều đình có thể tuyên dương. Xin được đi theo việc quân để báo đáp ơn trên muôn nơi”. Vua khen là giỏi mà cho đi.
    Thiêm sự Lễ bộ là Phạm Vũ Phác cũng dâng sớ xin về Sơn Nam đem thủ hạ đi đánh giặc. Vua cho lấy bản chức theo thành đi tuần bắt. Phác đến nơi, săn bắt được một tên yếu phạm cùng vài tên đồ đảng. Thưởng cho kỷ lục một thứ, 100 quan tiền. Rồi thấy việc đánh giặc hơi thư, triệu về.
    Khai phục nguyên hàm Thống chế cho viên bị cách là Trương Phước Đặng. Đặng trước quản biền binh Bắc Thành, vì địa phương có việc mà điều độ sai lầm phải cách chức, giao cho đình thần bàn xử. Đặng sợ tội tự tử. Vua nghe tin lấy làm thương, nên có mệnh này. Lại cho cấp trả mũ áo. Bộ Lễ bàn tâu : “Việc Trưởng công chúa Ngọc Anh để tang Đặng, cho là lời sách Nghi lễ nói rằng “Vợ để tang chồng mặc áo sổ gấu”, thế là để tang 3 năm mà mặc áo sổ gấu, đó là chính lễ. Nhưng đấy là nói chung lễ của thần dân thiên hạ. Đến như Trưởng công chúa là chị em với vua, lễ có câu vì người tôn mà giảm xuống, thì để tang chồng cũng nên giảm xuống để cho khác với thường dân. Xin chế áo tang sổ gấu, để tang một năm thì thôi, vẫn mặc áo trắng đợi xong 3 năm mới mặc áo tốt. Đến như lễ tiết chầu mừng, thì sai một năm đều theo lệ thường mà vào hầu”. Vua theo lời bàn.
    Bọn Nguyễn Văn Thắng, Cai đội kho Phú Thuận ở Kinh mài thấp miệng bát bằng đồng quan cấp (Khoảng năm Gia Long nguyên cấp 5 cái bát) để ăn bớt của công, việc phát giác, lấy cái phương của nhà nước để so thì mỗi phương giảm mất 5 phân. Giao cho bộ Hình trị tội. Bèn sai đúc lại bát mới, cứ lấy 30 bát gạo bằng miệng vừa đúng một phương làm chuẩn, để cấp đổi cho.
    Bộ Binh bàn tâu cách thay đổi người coi kho Kinh, xin lấy một vệ chia làm hai ban, 3 năm một lần đổi.
    Vua nói : “Một vệ đổi lẫn với nhau thì thông đồng ăn bớt của công cũng chẳng khó gì. Như thế là có tiếng thay đổi mà thực chẳng thay đổi gì. Phàm lập pháp phải xét đến sau, xem có tệ gì. Việc này hãy để thong thả sẽ bàn cũng được”.
    Bắc Thành tâu dâng án kẻ cướp. Vua dụ rằng : “Trước kia các viên tổng trấn hễ cứ gặp việc trộm cướp nặng là viện lệ hành hình, không kể đến việc nên tâu hay không, cứ đem kẻ phạm chém đầu, coi mạng người như rơm cỏ. Tự khi Nguyễn Hữu Thận lĩnh việc thành đến nay, việc gì cũng đợi chỉ mà không dám tự chuyên, làm như thế thực là hợp lẽ, nhưng cũng có chỗ chưa ổn. Những tên giặc cướp yếu phạm tình rõ tội đáng mà cứ đợi chỉ thì chậm giết lâu ngày, lấy gì mà răn kẻ ngoan ngược ! Tự nay về sau thành hạt có kẻ trọng phạm như thế thì cho đem tội trạng tâu lên, rồi lập tức hành hình. Còn những việc khác thì đợi chỉ”.
    Miễn thuế điền thổ cho xã Văn Xá.
    Dụ rằng : “Năm nay kính gặp tiết Lục tuần đại khánh của Hoàng thái hậu, trẫm rộng suy hiếu trị, ban khắp mưa ơn, thần dân trong ngoài không ai là không được thấm. Nghĩ xã Văn Xá là làng quê mẹ, điển ban ơn nên đặc biệt hơn. Vậy cho miễn thuế điền thổ 5 năm, bắt đầu từ năm nay”.
    Cho Lương Tiến Tường làm Thượng thư Hộ bộ, Hoàng Văn Quyền làm Tả tham tri Binh bộ, Lý Văn Phức làm Hữu Thị lang Hộ bộ, Trần Văn Chiêu làm Thiêm sự Hộ bộ.
    Lấy Tả thị lang Lại bộ là Lê Đăng Doanh làm thự Tả tham tri Lại bộ, vẫn kiêm lĩnh Thương bạc sứ.
    Trấn thủ Hưng Hoá là Phan Bá Phụng đem quân đi tuần bắt thổ phỉ. Tướng giặc Lê Duy Khương đem đồ đảng ẩn nấp ở huyện Hoa Khê, huyện Tam Nông (thuộc tỉnh Sơn Tây). Phụng đón đánh, chém được vài tên ; bọn giặc vỡ chạy ; bắt được rất nhiều khí giới. Việc tâu lên. Thưởng cho Phụng một thứ kỷ lục quân công ; thưởng cho biền binh 500 quan tiền.
    Tướng giặc Nam Định là Phan Bá Vành chia phái đồ đảng ngăn chặn các đường thủy bộ ở huyện Thư Trì. Phạm Văn Lý đem thuỷ binh đánh tan giặc ở sông Bổng Điền. Vành đem quân vây Phạm Đình Bảo ở Chợ Quán. Lý bèn cùng Nguyễn Công Trứ chia quân ba đường đến cứu. Ngoài đánh vào, trong đánh ra, đảng giặc tan vỡ. Vành chạy đóng ở xã Trà Lũ (thuộc huyện Giao Thuỷ). Đảng giặc còn hơn 2.000 người, đắp luỹ đào hào, làm kế cố giữ đến chết. Vua nghe tin, dụ Phạm Văn Lý rằng : “Ngươi gần đây nhiều lần báo tin thắng trận, trẫm khen ngươi giỏi. Duy nay bọn giặc còn dám liên kết liều chết để chống quân ta, tưởng lòng căm thù của ngươi đáng phải giết giặc rồi mới ăn cơm, làm sao đã lâu dẫu thắng trận mà đầu tướng giặc vẫn chưa có đầu nào bêu lên, nhiều kẻ yếu phạm vẫn chưa trị tội. Hết đông sang xuân, để chậm chưa giết được thì lấy gì mà nêu rõ phép nước. Ngươi nên lập tức cùng với các đại viên cầm quân chia đường vây đánh. Bọn kia như du hồn đáy hũ, có khó gì mà không đánh một trận bắt hết ! Trẫm vốn biết ngươi đủ làm xong việc, cho nên chuyên trách ở ngươi. Cố gắng lên ! Cố gắng lên ! Nếu chậm chờ trông ngóng, sợ công to từ trước không đủ bù với lỗi nặng đâu”.
    Lại dụ Nguyễn Công Trứ rằng : “Ngươi trải làm quan trong quan ngoài, trẫm vốn đã biết. Mùa đông năm ngoái, Bắc Thành nhiều việc, sai ngươi gấp rút đi giúp đỡ việc quân. Vừa rồi cứ tâu báo thì ngươi cùng Phạm Đình Bảo cầm quân trước sau giết giặc rất nhiều, đã xuống chỉ ưu thưởng rồi. Duy bọn giặc nhiều lần thua mà quan quân chưa bắt giết hết được, khiến ta không khỏi ghì cổ tay mà tức giận. Hiện nay tình hình đánh giặc thế nào, ngươi nên cứ thực tâu lên. Sau này có việc gì khẩn yếu, cho được làm tờ nói thực, niêm phong tâu thẳng”.
    Lại dụ cho bọn lĩnh binh là Hồ Bôi, Phạm Đình Bảo, Phan Bá Hùng, chia đường tiến đánh giặc.
    Sai Trung sứ đem 1.000 lạng bạc đến quân thứ Phạm Văn Lý. Dụ rằng : “Bạc này cho ngươi sử dụng. Tướng sĩ trong quân có ai hăng hái đánh giặc thì thưởng cho chớ tiếc”.
    Quan Bắc Thành là Nguyễn Hữu Thận và Trương Văn Minh tâu rằng : “Giặc nay đóng ở Trà Lũ, đất hiểm, đường hẹp, lại thêm mưa dầm, đánh gấp chưa tiện”. Vua dụ rằng : “Lũ dân ngu dại họp nhau làm giặc, không phải là nước đối địch hay láng giềng mạnh, thế mà quan quân hàng nghìn hàng vạn lại không thể nhanh chóng dẹp yên ! Xem tờ tâu xiết bao bực tức. Lại Trương Văn Minh đến thành đã hơn một tháng, sao không thân đến đốc quan cho mọi người hăng hái, mà chỉ ngồi đấy theo lời phao đồn mà nói chuyện phiếm. Như nói rằng đợi trời mưa tạnh sẽ đánh dữ, thì có lẽ đợi đến mùa hè mới dẹp được giặc à ! Hay là nói hão cho qua chuyện thôi. Đã nhiều lần nghiêm dụ mà làm ăn như thế, cần gì phải phiền giấy mực. Trẫm hẹn cho lũ ngươi một tuần nữa, nếu quá hạ tuần tháng này mà không đánh xong bọn giặc ấy thì đã có quốc pháp, có công luận đó, trẫm chẳng còn có thể châm chước nặng nhẹ được nữa, đến lúc ấy chẳng qua là phê “y nghị” mà thôi”.
    Vua nghe nói nhân dân Nam Định nhiều người đi theo giặc, bèn sai dụ khắp rằng : “Xưa Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta xem dân cùng lòng nhân, yêu dân như yêu con, ơn trạch thấm thía vào dân đã sâu lắm. Trẫm tự lúc lâm chính đến nay, gia ơn đức, giữ gìn dân, dẫu chưa có thể theo được như trước, nhưng tự xét mình chưa từng ngược đãi nhân dân để gây oán giận. Trăm họ các ngươi trước vì giặc bức phải theo thì còn có lẽ nói, đến khi quân lớn của nhà nước đã nhiều lần đánh mà vẫn không lìa tan thì thực khó hiểu. Trẫm nghĩ nhân dân đều là con của triều đình, trí khôn tài giỏi đều sẵn có, sao đến nỗi mờ tối lương tâm ! Hẳn là bởi tướng giặc lừa phỉnh đấy thôi. Giết kẻ đầu sỏ, tha người bị hiếp, đó là lời thông luận xưa nay. Trước kia Tây Sơn là kẻ thù của nước không đội trời chung mà những tướng sĩ đem thân quy thuận cũng còn hậu đãi, huống là các ngươi ! Nay nên bảo nhau, ai bắt được giặc giải đến cho quan thì không xét tội trước, lại còn khen thưởng, ai tản về làng cùng tự ra thú thì đều cho đổi mới. Nếu còn giữ thói mê không tỉnh ngộ, thì sau khi đánh xong giặc sẽ không còn cầu may mong ân điển gì được đâu”.
    Tham tán Nguyễn Đức Nhuận đi tuần bắt giặc ở Sơn Nam, lâu chưa được công trạng gì. Vua dụ rằng : “Tự khi trẫm uỷ cho ngươi coi dân ở Nghệ An, giặc tan dân yên, trẫm đã khen và hài lòng. Mới đây nhân Bắc Thành giặc cướp quấy rối, bèn sai người đi giúp việc quân, làm sao đã lâu mà chưa được tin tốt ? Hiện nay giặc cướp bắt được hay không ? Địa phương đã yên ổn chưa ? Và xét hỏi tình hình dân gian thế nào ? Cứ thực tâu lên. Sau có việc gì khẩn yếu cho cứ thực niêm phong mà tâu”.
    Đức Nhuận liền tâu đã đánh giặc ở ứng Hoà, chém được 8 đầu, bắt được khí giới, ấn tín, sổ sách. Vua khen, thưởng cho 1 thứ kỷ lục quân công ; thưởng chung cho binh dân 500 quan tiền.
    Xây đắp cửa Võ Thắng ở Quảng Bình. Phát hơn 300 lính ở dinh làm việc, mỗi người mỗi tháng cấp 2 quan tiền 1 phương gạo.
    Triệu Tả Tham tri Hộ bộ lĩnh Hộ tào Bắc Thành là Nguyễn Công Tiệp về Kinh ; lấy Tả tham tri Lễ bộ là Nguyễn Đăng Tuân làm Tả Tham tri Hộ bộ lĩnh Hộ tào Bắc Thành.
    Lấy Tham hiệp Bình Hoà là Hồ Hựu làm Tham hiệp Thanh Hoa, Thiêm sự Hộ bộ là Lê Nguyên Hy làm Tham hiệp Nghệ An.
    Thiêm sự hiệp lý dinh vụ Quảng Nam là Lê Quang về đinh ưu, lấy Thiêm sự Vũ Khố là Đặng Chương thay.
  • Chia sẻ trang này