0059.059 - Chuột Béo ( soát xong - GD)

29/11/15
0059.059 - Chuột Béo ( soát xong - GD)
  • PDF
    GoogleDocs


    :rose::rose::rose:
    Lấy Chưởng cơ Thống quản thập cơ Oai thắng của Hậu quân là Đặng Hữu Chất quyền lĩnh Trấn thủ Sơn Nam. Trước đây trong hạt Sơn Nam nhiều lần động trống đánh giặc, Trấn thủ Lê Công Lý thường cáo ốm không ra. Vua nghe tin bảo rằng : “Làm Trấn thủ như thế thì chả hỏng việc mất à !”. Dụ cho Bắc Thành cứ thực xét tâu. Bèn cho giải chức về quê hưu trí, mà cho Chất quyền việc trấn.
    Tả thống chế Thị trung Quản tri Tôn Nhân phủ là Tôn Thất Bính chết. Bính là người thành thực, vua tiếc lắm. Tặng chức Đô thống chế Thị nội. Lại cho 200 lạng bạc, 3 cây gấm Tống, 10 tấm lụa, 30 tấm vải, 50 cân sáp, 500 cân dầu.
    Sai Đô thống chế Phan Văn Thuý kiêm quản đội Tả dực quân Thị trung, Chưởng cơ Nguyễn Văn Lộc kiêm quản các đội Trung hầu, Tôn thất, Nội hầu, Tả hầu, Hữu hầu, Trung hầu nhất và Dực hùng, Dực nhuệ, ứng sai, Phó vệ uý vệ Nội hầu là Tôn Thất Bằng, Từ tế đại sứ ty Từ tế là Tôn Thất Diêu quyền biện việc Tôn Nhân phủ.
    Thống chế dinh Thần cơ là Đoàn Đức Luận chết ; cho 500 quan tiền, 3 cây gấm Tống.
    Lấy Cai cơ Tả chi thượng đạo Thanh Hoa là Đặng Lưu Thân làm Phó vệ uý các quân, vẫn lĩnh việc quản phủ Thiệu Hoá. Thân trải theo Hà Công Thái đi đánh giặc, biết rõ tính tình người Man. Trước có chỉ thăng bổ làm Phó vệ uý vệ Hùng dũng, trấn thần kêu là khó tìm người thay, cho nên có mệnh này.
    Ngày Kỷ mùi, tế Trời Đất ở đàn Nam Giao. Sắc rằng : “Từ nay hằng năm gặp tế Giao, trước 2 ngày cáo Thái tổ Gia Dụ hoàng đế và Thế tổ Cao hoàng đế, xin rước đi phối tự thì đều sai các Hoàng tử tước công làm lễ". Ghi làm lệnh.
    Bắt đầu đặt chức Giám đốc (trật Tòng tam phẩm), Phó giám đốc (trật Chánh tứ phẩm) kho Kinh. Lấy Cai đội Thị trung là Nguyễn Đức Ba làm Giám đốc, Cai đội Thị nội là Trần Hữu Y làm Phó giám đốc.
    Bổ Trần Đăng Nghi làm Ký lục Quảng Nam.
    Sai quan Bắc Thành kiểm xét những bản in nguyên trữ ở Văn Miếu về các sách Ngũ kinh, Tứ thư đại toàn, Vũ kinh trực giải (bản in của Quốc tử giám nhà Lê) cùng Tiền Hậu chính sứ (bản in riêng của Hậu quân tham mưu Nguyễn Bá Khoa) và Tứ trường văn thể (bản in riêng của Trấn thủ Hải Dương Trần Công Hiến), gửi về Kinh để ở Quốc tử giám.
    Nêu thưởng những dân thọ trăm tuổi ở các địa phương (Quảng Nam đàn ông 6 người, đàn bà 8 người ; Quảng Bình đàn ông, đàn bà đều 1 ; Quảng Trị đàn ông 4, đàn bà 9 ; Bình Định đàn bà 5 ; Phú Yên đàn ông 1, đàn bà 4 ; Bình Thuận đàn ông 1 ; Nghệ An đàn ông 8, đàn bà 11 ; Thanh Hoa đàn bà 5 ; Ninh Bình đàn ông 2, đàn bà 1 ; thành Gia Định, Phiên An đàn ông, đàn bà đều 2 ; Biên Hoà đàn ông 2 ; Vĩnh Thanh đàn ông 11, đàn bà 10 ; Định Tường đàn ông 1, đàn bà 7 ; Hà Tiên đàn bà 2 ; Bắc Thành, Sơn Nam, đàn ông 3 ; Nam Định đàn ông 2, đàn bà 3 ; Hải Dương đàn ông 1, đàn bà 3 ; Sơn Tây đàn bà 5 ; Bắc Ninh đàn bà 1).
    Chưởng cơ quản nguồn Phương Kiệu ở Bình Định là Nguyễn Văn Tứ, tuổi già xin về hưu. Vua y cho.
    Đắp đài Quan Tượng (ở mặt đất đài Nam Minh), trên đài dựng đình Bát phong. Thưởng biền binh làm việc 3.000 quan tiền.
    Thưởng đàn bà thọ 80 tuổi trở lên ở các địa phương. Vua dụ bộ Lễ rằng : “Tự trước đến nay, ân chiếu thưởng người nhiều tuổi, chuyên chỉ đàn ông thôi. Năm nay gặp Lục tuần đại khánh của Hoàng thái hậu, đầu xuân ra ân chiếu thưởng cho quân dân người 80 tuổi trở lên vải lụa và gạo theo thứ bậc. Cho đàn bà thọ cũng chiếu hạng được cấp, và từ nay về sau mỗi lần khánh tiết ban ơn đều cho được dự”.
    Vua lại thấy lệ thuế đất, thuế đinh năm nay đã có ân chiếu giảm bớt, sắc cho các địa phương xem ngoài ra có các thứ thuế khác nên giảm tâu để giảm.
    Giảm 5 phần 10 thóc minh xuân và thóc trắng cho tổng Bái Ân dinh Quảng Trị. Dụ rằng về sau gặp có ân chiếu giảm thuế thì được cùng một lệ với thóc thuế chính cung.
    Thống chế Thuỷ quân là Đào Văn Lương tuổi già nghỉ việc (Lương 77 tuổi). Vua nghĩ Lương lúc trẻ đi trận có công khó nhọc, cho 200 quan tiền.
    Cho Phó vệ uý vệ Nội hầu quyền biện Tôn Nhân phủ là Tôn Thất Bằng, Từ tế sứ Từ tế ty kiêm lĩnh Quản phủ Hà Trung là Tôn Thất Chiếu, mỗi người 100 lạng bạc, 15 cái áo. Bằng và Chiếu đều là con Tôn Thất Chương.
    Vua bảo Bằng rằng : “Ngươi biết làm quan trong sạch, giống được cha ngươi, gia ơn với người thân, trẫm hẳn không tiếc. Trong tôn phái nhà vua có người tốt là phước của nước, ngươi nên cố gắng giữ gìn danh tiết, chớ cậy gia thế mà xa xỉ”. Lại bảo Chiếu rằng : “Cha ngươi giữ chức địa phương lâu, người ta khen là thanh liêm. Anh em ngươi tiếp nhau lên hàng triều quan, đều biết nối được thói nhà, trẫm rất khen ngợi. Anh ngươi là Bằng ở Kinh đã thưởng cho rồi. Nay sai Văn thư phòng đem bạc và quần áo thưởng cho ngươi. Ngươi nên lo hăng hái thêm, phàm mọi công việc đều giữ phép công, cố sức làm. Như thế thì trời cũng không phụ người tốt, trẫm há lại phụ người tôn thất tốt sao ! Chỉ sợ tiếng tốt với sự thực không đúng nhau thì ngươi trở thành phụ trẫm nhiều mà thôi”. Rồi cho Bằng làm Vệ uý vệ Hậu nhất quân Thị trung, cho Chiếu làm Phó vệ uý quân Thần sách vẫn lĩnh Từ tế sứ Từ tế ty kiêm việc Quản phủ Hà Trung.
    Phạm Văn Lý và Nguyễn Văn Phong tiến vây tướng giặc Phan Bá Vành ở Trà Lũ, đã mấy tuần chưa hạ được.
    Vua nghĩ đóng quân lâu ngày không khỏi trễ nải, sai Thị vệ Nguyễn Văn Tình đi nhanh đến quân thứ, nghiêm sức phòng giữ. Tình chưa đến nơi, giặc quả nhân đêm đánh úp vào tiền bộ của thuỷ sư. Quân quan không phòng bị, bị giặc đánh thua, súng ống khí giới cùng thuyền ghe bị giặc cướp mất nhiều. Lý lập tức đem bọn Cai đội Nguyễn Đức Tứ 13 người chém rồi đem việc tâu lên. Vua xuống dụ nghiêm quở Phạm Văn Lý và Nguyễn Văn Phong cùng thành thần Nguyễn Hữu Thận và Trương Văn Minh, phân biệt giáng cấp. Lại truyền chỉ cho Trương Văn Minh lập tức đến quân thứ, đốc thúc tướng biền, hẹn ngày hội đánh.
    Vua lại nghĩ quân sĩ tự tháng chạp sang xuân đi trận lâu khó nhọc, cho 10.000 quan tiền.
    Lấy Tả Thị lang Hình bộ là Nguyễn Kim Bảng làm thự Tham tri Hình bộ, Lang trung Hình bộ là Nguyễn Nhược Sơn làm Thiêm sự Hình bộ.
    Lấy Cai đội Thượng trà là Nguyễn Đắc Suý làm Phó vệ uý Tiền vệ dinh Tiền phong, Cai đội Tiểu sai là Nguyễn Trọng Tính làm Viện sứ viện Thượng tứ.
    Ngoài kinh thành nhiều trộm cắp.
    Vua dụ bộ Hình rằng : “Kinh thành là chỗ đô hội, quân dân tụ họp, tự trước đến nay phân phái đi tuần phòng, ở trong thì có các quân Thị trung, Thị nội, Thần sách, ở ngoài thì có hai đội Giám thành, Võng thành, cùng lính phủ Thừa Thiên, thế mà ngoài ấy còn có kẻ lén đi trộm cắp, há chẳng phải vì tuần phòng không hết sức mà đến thế sao ! Vậy hạ lệnh cho các quản quân chia địa phận mà nghiêm đốc tuần xét. Nếu có trộm thì theo phần canh phòng mà trị tội. Bộ ngươi lại nên chọn phái Lang trung, Chủ sự mỗi chức một người, chuyên giữ việc kiểm xét, phàm việc bắt trộm ngoài hạn 3 tháng mà không bắt được thì báo bộ tham hặc. Ai dám thông đồng kiêng nể giấu giếm không báo, cùng là sách nhiễu làm luỵ dân thì phải tội”.
    Viên bị cách là Vũ Đức Thông có tội bị xử trảm giam hậu.
    Trước đây Huyện thừa huyện Văn Giang là Đặng Đình Tuấn tha hung phạm mà buộc tội cho người khác, cha Tuấn là Đặng Đình Dương làm Thiêm sự Hình tào dụng tình che giấu, Thông làm trưởng Hình tào không xét rõ được, mập mờ kết án. Kẻ bị oan kêu tại Kinh. Vua sai Thiêm sự Hoàng Văn Đản và Lang trung Phạm Đình Học ra Bắc Thành hội tra, gửi về bộ Hình duyệt lại. Bộ Hình bàn xin xử Tuấn tội lưu, Dương tội đồ, Thông xử trảm giam hậu, tâu lên xin chỉ. Vua nói rằng : “Vũ Đức Thông được chuyên uỷ việc hình án Bắc Thành, các án đều phải xét rõ lẽ để cho hình không oán lạm, mới là không phụ chức vụ. Thế mà gặp việc án mạng nghiêm trọng lại cùng cha con Đặng Đình Dương thông đồng che giấu vẽ vời, đem pháp luật của nhà nước tự ý mình múa rối, tội ấy kể sao cho xiết, theo luật mà xử, chẳng quá đáng đâu. Nhưng Thông còn can vào án Nguyễn Duy Xưởng theo giặc, hãy cách chức đợi xét, sau sẽ xuống chỉ thi hành. Còn các khoản khác thì cho theo như lời bộ bàn”. Đến lúc án Duy Xưởng thành, Thông phạm tội che đỡ người có tội, cũng bị xử trảm giam hậu. Theo một tội mà xử.
    Trấn thần Bình Thuận tâu rằng : “Miếu Hội đồng của trấn ấy làm ở mé sông Kỳ Xuyên, đằng trước trông xuống sông, đằng sau gối vào động cát, quy chế hẹp hòi, xin dời miếu đến mé Tây bắc thành là chỗ đất cao ráo”. Vua theo lời tâu.
    án thủ bảo Châu Đốc là Thống chế Nguyễn Văn Thuỵ trước mộ dân dời đến ở đất biên thuỳ, đặt ra 20 xã thôn, vay của công 1.900 quan tiền và 1.500 phương gạo cho dân, đã hoãn cho nhiều năm, dân vẫn không trả được. Đến nay Thụy đem của nhà trả bù cho dân. Thành thần đem việc tâu lên.
    Vua nói : “Thuỵ làm như thế là tôn trọng của nhà nước đấy. Nhưng nghĩ những dân ấy mới chiêu tập đến, sinh lý chưa thừa, nay bắt Thụy đền, lòng trẫm không nỡ như thế. Hơn nữa Thuỵ ở biên thuỳ lâu ngày, dân tình thoả hiệp, tiền gạo trả bồi ấy thì đúng số trả lại cho, có thể xem như của trẫm khen thưởng đấy”.
    Làm lại các nhà trạm ở Nghệ An bằng ngói (An Thần, An Sa, An Lạc, An Khê, An Đan, An Kim, An Hương, An Luỹ, An Quỳnh, An Liêu cộng 10 sở).
    Gọi lính các cơ Thuận nghĩa, Bình hoà, Hoà thắng ở trấn Bình Thuận về Kinh thao diễn. Khi đến nơi, sai quân Thị trung và quân Thị nội mỗi quân một người Quản vệ, ty Kỳ cổ 5 người, cùng lính ấy diễn tập, cho quen kỷ luật.
    Thổ phỉ ở Nam Định dẹp yên. Tướng giặc Phan Bá Vành ở Trà Lũ, bị quan quân vây lâu, thế rất cùng quẫn, mưu nhân đêm chạy ra biển, bèn họp thuyền theo sông nhỏ xông ra. Phạm Văn Lý sai Phan Bá Hùng đem quân ngăn chặn. Hùng ra sức đánh riết. Bọn giặc tan vỡ. Quan quân các đường đều tiến đến thẳng sào huyệt, bắt sống được Vành, cùng đồ đảng là bọn nguỵ chưởng Tiền quân Nguyễn Văn Liễn, chưởng Tả quân Vũ Viết Đảng hơn 760 người. Chém hơn 160 đầu. Bắt được hết thuyền ghe, súng ống, khí giới, giấy tờ, ấn tín.
    Bắc Thành chạy sớ báo tin thắng trận.
    Vua đương lo vì chưa dẹp yên thổ phỉ, nửa đêm không ngủ, làm bài thơ “Xuân dạ ngôn hoài”(() Đêm xuân nghĩ ngợi.) để tỏ ý mình. Đêm ấy canh tư được tin thắng trận, mừng quá. Buổi chầu sáng sớm đem thơ cho bầy tôi xem, bảo rằng : “Trẫm vì cớ kẻ dân mọn ngu ngoan, giữa đêm nóng ruột, phát ra thơ này, chưa được vài khắc mà tin thắng trận vừa đến. Mới biết các cơ trời với người thông cảm như thế đấy !”.
    Lại bảo hai bộ Lại, Binh rằng : “Bọn ngoan dân bất đắc chí lâu chưa bắt giết được. Nay lòng trời phù hộ, tướng sĩ theo mệnh lệnh, mới xong được việc, ở trẫm có gì đâu”. Bèn dụ sai thưởng trước cho Phan Bá Hùng gia 2 cấp quân công, Nguyễn Hữu Thận, Trương Văn Minh, Phạm Văn Lý, Nguyễn Văn Phong, trước bị giáng cấp đều cho khai phục. Cai tổng Lê Huy Thuyên và Phó tổng Đỗ Như Nhật, bắt được Phan Bá Vành, thưởng trước 1.000 quan tiền. Sai thành thần làm danh sách công trạng các quan văn võ, binh dịch, thủ hạ, giao hai bộ Lại, Binh bàn thăng, bàn thưởng. Cai tổng và dân phu thì giao bộ Hình bàn thưởng.
    Vành bị thương chết, cắt lấy đầu và chặt thây ra đem chia treo ở các trấn Nam Định, Sơn Nam, Hải Dương. Nguyễn Văn Liễu và Vũ Viết Đảng thì đóng cũi đưa về Kinh, dùng cực hình mà giết.
    Những đồ đảng bắt được, án của thành xin đều trị tội như luật.
    Vua nói rằng : “Bọn chúng đều là con đỏ của triều đình, cũng có người sợ giặc tàn ngược mà bị hiếp phải theo, nếu đem xử cực hình cả thì lòng trẫm có chỗ không nỡ. Nếu một mực rộng rãi thì kẻ có tội lại được may mà khỏi. ở khoảng hai điều ấy, làm sao cho không oan uổng mà không bừa bãi thì được thôi”.
    Lại sai thành thần xét lại, cho giảm tội chết, phát đi sung quân gần 400 người.
    Sai Bắc Thành truyền dụ cho bọn Phạm Văn Lý, chia đường tìm bắt giặc trốn. Rút các vệ Kinh binh cùng binh Thần sách Thanh Nghệ về.
    Vua thấy thổ phỉ Nam Định mới dẹp, nghĩ cách vỗ yên dân chúng. Dụ quan Bắc Thành là Nguyễn Hữu Thận và Trương Văn Minh rằng : “Tự tháng chạp năm ngoái đến mùa xuân năm nay, bọn thổ phỉ quấy rối địa phương Nam Định. Trẫm sớm trưa không yên lòng, chỉ sợ dân ta nhiều người vướng lụy. Trước đã khẩn thiết tuyên dụ cho biết triều đình vốn không có ý tìm tòi ráo riết. Nay tiếp được tin thắng trận, mừng cho dân phương ấy, mà cũng không thể không sợ cho dân phương ấy. Phàm giặc lớn đã yên, quân của ta được nghỉ vai, mà dân của ta được khỏi lửa tàn ác thì còn gì mừng hơn. Đáng lo là dân ta không có tội gì mà gặp một phen tàn tệ, tình hình hiện tại đã không dám ngó tới, thậm chí có người sợ hãi đem vợ con đi trốn, lận đận ở tha hương. Nghĩ đến khiến động lòng thương. Vả lại đương sự thế này, chẳng khác gì người ốm nặng mới khỏi, nếu không có tẩm bổ mạnh thì sao hay bồi lại nguyên khí. Trẫm coi dân như bị thương, việc cứu vớt sao có thể hoãn được. Vậy hạ lệnh cho bọn ngươi kíp tìm phương pháp thiện hậu(() Thiện hậu : thu xếp để cho tốt việc về sau.), sức rõ cho các quan trấn phủ huyện hiểu dụ cho nhân dân các làng mạc yên ở làm ăn, kẻ đau ốm thì giúp đỡ, kẻ xiêu tán thì gọi về. Đến như việc chữa thói tệ của quan lại ăn gạn trong phép quan thì càng nên quyết tâm cố gắng, lấy mình làm gương mẫu để cho toàn hạt giặc tắt dân yên, cho khỏi phụ ý đặt quan vì dân của trẫm”.
    Quan Bắc Thành tìm được sổ của giặc đem tâu lên, can liên đến quan dân hơn 800 người. Vua bảo bộ Hình rằng : “Hạt Bắc Thành thổ phỉ quấy rối, nay mới đánh được, dân tình còn đang sợ hãi, chính là phải nghĩ cách yên ủi vỗ về. Nếu chiếu sổ bắt giam tất cả, không khỏi rối loạn làng mạc, vương luỵ đến kẻ vô tội. Nếu im đi không xét thì kẻ càn bậy còn răn sợ làm sao. Vậy hạ lệnh cho thành thần mật bắt những người trong sổ mà có danh sắc đem xét hỏi trước, xem hư thực thế nào đừng cho người ngoài biết, dễ sinh ngờ sợ”.
    Sau thự Lang trung Hình tào là Nguyễn Lý Hào nhân cầu lợi riêng, làm nhiều việc thả buộc tội người, việc phát, phải tội bị giết.
    Sai Đô thống chế Phan Văn Thuý kiêm quản Thương bạc, Đô thống chế Nguyễn Văn Trí kiêm quản Tào chính, Chưởng cơ Phạm Văn Tín quản lĩnh vệ Nội hầu.
    Kén dân các xã bất mãn(() Xã bất mãn : Xã mà số dân đinh trong sổ không đủ ngạch.) tự Quảng Bình trở về Nam đến Bình Thuận làm lính.
    Bộ Binh tâu rằng : “Triều đình kén lính đã có phép nhất định, có xã 8 đinh lấy 1, có xã 7 đinh hay 3 đinh lấy 1. Nhưng trước có những xã vì số đinh không đủ nên được miễn kén lính. Đến nay đã hơn 20 năm, được nuôi nấng yên lành đã lâu như thế, số người sinh tụ ngày càng thêm nhiều, nếu cứ để yên không hỏi đến thì so với những xã chịu kén lính nặng nhẹ thực là không đều. Nay xin trước xét các xã, thôn, phường, ấp, vạn, bãi, man, tộc, từ Quảng Bình đến Bình Thuận, mà trước kén lính thì chiếu nhân số trong sổ đinh mà kén tuyển như lệ”.
    Vua sai đình thần bàn lại mà thi hành. Rồi ra lệnh cứ theo chỗ ở, tại thượng bạn, trung bạn thì kén làm bộ binh, tại hạ bạn thì kén làm thuỷ binh, để bổ sung điền vào ngạch khuyết của các vệ. Còn thừa thì bổ vào vệ Khinh kỵ, vệ Tả hộ.
    Đóng hai chiếc thuyền hiệu Thanh ba.
    Tả tham tri Binh bộ là Trần Quang Tĩnh ốm, xin nghỉ. Vua y cho.
    Tướng giặc ở Bắc Ninh là Tống Lượng và Tống Huân, tụ đảng vài nghìn người, quấy rối địa hạt huyện Phượng Nhãn. Quản phủ Lạng Giang là Nguyễn Văn Thành đem quân đánh giặc ở xã Mỗ Sơn, chém được 2 tướng giặc, bắt sống được 80 người. Việc tâu lên. Thưởng cho Thành một thứ kỷ lục, 300 quan tiền. Dân sở tại bị giặc tàn phá thì được chẩn cấp.
    Giặc biển ở Quảng Yên là Ba Công Dụng họp hơn 50 chiếc thuyền ăn cướp châu Tiên Yên. Trấn thủ Nguyễn Đăng Khánh và Tham hiệp Lê Đạo Quảng thân đem binh thuyền đến đánh bắt. Thiêm sự Hình bộ là Ngô Đức Chính (người Hoa Phong) nhân nghỉ về thăm nhà, cũng đem thổ dân theo đi. Quảng và Chính làm tiền đạo, Khánh làm hậu ứng, theo cửa Mô vào đánh tan bọn giặc, chém được Công Dụng cùng đồ đảng 14 đầu, bắt sống được 16 người, thu được thuyền ghe khí giới rất nhiều.
    Bắc Thành đem việc tâu lên. Vua xuống chỉ khen ngợi. Thưởng Quảng và Chính mỗi người 1 thứ kỷ lục quân công, thưởng Khánh một khẩu súng tay hai máy hoa vàng, thưởng Quảng một khẩu súng tay hoa vàng ; lính và dân thì thưởng bạc tiền theo thứ bậc khác nhau. Lại có người nước Thanh là Từ Đạt Khôi gặp giặc ở ngoài biển U Nang, gọi thuyền đánh cá đuổi bắt, bắt được 7 tên giặc và 1 chiếc thuyền đem nộp. Thưởng cho 100 quan tiền.
    Dồn hai đội Tiểu sai nhất và nhị làm một đội.
    Lấy Tham hiệp Bắc Ninh là Nguyễn Văn Tuân làm Hiệp trấn Hưng Hoá, Thiêm sự Binh bộ là Nguyễn Văn Hoá làm Tham hiệp Hưng Hoá, Thiêm sự Công bộ là Nguyễn Mẫn làm Tham hiệp Phú Yên.
    Sai Bình Hoà mua thóc 50.000 hộc, Bình Thuận mua thóc 30.000 hộc, để chứa kho cho đầy đủ.
    Đúc chuông đồng đền Khải thánh.
    chính biên
    đệ nhị kỷ - quyển XLIV
    Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế
    Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8 [1827], mùa xuân, tháng 3. Trong Kinh kỳ mưa. Vua mừng bảo thị thần rằng : “Lúa đương trỗ mà được mưa này, thực là thoả lòng mong muốn của dân ta”.
    Khởi phục Trương Hảo Hợp làm Câu kê dinh Quảng Trị, Đoàn Khiêm Quang làm Tri bạ dinh Quảng Nam. Rồi lại cho Hảo Hợp làm Tư vụ thự Chủ sự Hình bộ, Khiêm Quang làm Chủ sự thự Lang trung Hình bộ, đều làm việc Hình tào Bắc Thành.
    Sai Binh mã phó sứ Hộ thành binh mã ty là Đỗ Phước Thịnh đi Nghệ An vẽ hình thế núi sông để dâng.
    Sai Phó đô thống chế Tả dinh quân Thần sách lĩnh Trấn thủ Nghệ An là Nguyễn Văn Hiếu, và thự Thượng thư Hình bộ là Hoàng Kim Xán đi kinh lược hai trấn Sơn Nam, Nam Định, Thị lang Binh bộ phái đi bắt giặc ở Bắc Thành là Thân Văn Duy làm Tham biện việc kinh lược.
    Vua thấy thổ phỉ Bắc Thành mới dẹp yên, nhân dân đau khổ điêu tàn, mong được quan đại thần đi vỗ về chiêu tập mà khó tìm người, bàn với bầy tôi rằng : “Nguyễn Văn Hiếu trước ở Nam Định có tiếng về chính sự tốt, lại vốn hiểu rõ công việc quan lại, tình tệ dân gian, sai đi kinh lược có được không ?” Bầy tôi đều đáp rằng được. Vua nói : “Đương việc nặng này nên có một vài quan văn giúp nữa”. Bèn lấy Hiếu làm Kinh lược đại sứ, Xán làm Phó sứ, Duy làm Tham biện. Sai đình thần bàn các điều khoản về việc vỗ thương điêu tàn, chấn chỉnh quan lại, rồi chuẩn định thi hành.
    Kim Xán bệ từ. Vua bảo rằng : “Quan tham lại nhũng là mọt hại dân, giặc cướp nổi lên là bởi đó cả, trẫm rất chán, rất ghét. Ngươi đến trấn nên xét thực nêu lên trị tội để răn về sau. Dân phương này sau khi rối loạn không biết kêu đâu, nay nghe quan Kinh lược đến, đơn kiện cáo hẳn nhiều. Nếu việc nào cũng tự mình xét lấy thì ngày không làm xuể. Việc lớn thì tự xét xử, việc nhỏ thì giao cho quan sở tại. Đến như nhân tài ở Bắc Thành, cũng nên hết lòng tìm hỏi, dẫu người tinh một nghề, giỏi một việc, cũng đều tâu lên, không bỏ sót. Lần này đi quan hệ đến việc lớn của nhà nước, trẫm tạm bảo một vài điều thôi, cần phải tuỳ nghi mà xếp đặt, không nên coi thường, cũng không nên câu nệ, ở khoảng hai điều ấy châm chước mà làm thì khá”. Bèn sai thưởng cho Hiếu 200 lạng bạc, Xán 150 lạng, Duy 100 lạng, các quan thuộc khác đều thưởng tiền lương 3 tháng.
    Quảng Nam và Phú Yên lâu không mưa. Dụ sai quan sở tại cầu đảo.
    Sai chọn thuộc viên ở Văn thư phòng đến Nội vụ phủ và Vũ Khố mỗi sở 2 người, ty viên hai bộ Hộ, Công đến Bảo tuyền cục, mỗi bộ 1 người, để hội đồng giúp làm việc. Trong nửa năm ai làm việc giỏi thì thượng ty tâu lên để khen thưởng, nếu ươn hèn không làm nổi việc thì không cứ đã đến hạn hay chưa cũng lập tức chỉ hặc, lấy người khác thay.
    Bộ Hộ tâu rằng : “Từ trước đến nay các nhân viên được sai đi làm việc mà có chỉ dụ cấp tiền lộ phí thì đều chỉ từng việc mà nói, đến như việc sai phái thường thì chưa có lệ thưởng cấp. Xin từ nay phái người mang đệ hồng bản(() Hồng bản : các tờ chỉ dụ của vua viết chữ đỏ.) chỉ dụ cùng chương sớ văn thư cung lục, cho đến những công vụ khẩn yếu bất kỳ, đều chia làm ba hạng mà cấp tiền lộ phí (Đi Gia Định, Bình Thuận, cấp 2 quan tiền ; đi Bắc Thành, Bình Hoà, Phú Yên, Bình Định, Nghệ An, Thanh Hoa, Ninh Bình, đều 1 quan 5 tiền ; đi Quảng Nam, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Ngãi, đều 1 quan). Lại năm Minh Mệnh thứ nhất có bàn định lệ thưởng phạt việc chạy công văn tối khẩn, thứ khẩn, thường hành là chỉ nói đến hai thành, còn các nơi khác chưa bàn. Nay xin tự Kinh trở vào Nam đến Bình Thuận, tự Kinh ra Bắc đến Ninh Bình, cũng đều tính đường đi xa gần mà đặt làm mức thời khắc, đúng hạn thì được thưởng, quá hạn thì bị phạt, vẫn chiếu lệ trước mà làm”. (Đi Quảng Nam, việc tối khẩn lệ đi 1 ngày 1 giờ ; thứ khẩn 1 ngày 2 giờ ; đều thưởng 1 quan tiền ; thường hành 1 ngày 5 giờ. Đi Quảng Ngãi, tối khẩn, 2 ngày 1 giờ, thưởng cho 1 quan 5 tiền ; thứ khẩn, 2 ngày 4 giờ, thưởng 1 quan ; thường hành 2 ngày 9 giờ. Đi Bình Định, tối khẩn, 3 ngày 4 giờ, thưởng 2 quan 5 tiền ; thứ khẩn, 3 ngày 8 giờ, thưởng 1 quan 5 tiền ; thường hành 4 ngày 5 giờ. Đi Phú Yên tối khẩn, 3 ngày 11 giờ, thưởng 3 quan tiền ; thứ khẩn 4 ngày 5 giờ, thưởng 2 quan ; thường hành 5 ngày 3 giờ. Đi Bình Hoà, tối khẩn 5 ngày 2 giờ, thưởng 4 quan ; thứ khẩn 5 ngày 9 giờ, thưởng 2 quan 5 tiền ; thường hành 6 ngày 11 giờ. Đi Bình Thuận, tối khẩn 6 ngày 7 giờ, thưởng 5 quan ; thứ khẩn, 7 ngày 4 giờ, thưởng 3 quan ; thường hành 8 ngày 9 giờ. Đi Quảng Trị, tối khẩn 4 giờ, thứ khẩn 5 giờ đều thưởng 1 quan ; thường hành 1 ngày. Đi Quảng Bình, tối khẩn 1 ngày 2 giờ, thưởng 1 quan 5 tiền ; thứ khẩn 1 ngày 4 giờ, thưởng 1 quan ; thường hành 1 ngày 7 giờ. Đi Nghệ An, tối khẩn 2 ngày 6 giờ, thưởng 2 quan ; thứ khẩn 2 ngày 10 giờ, thưởng 1 quan 5 tiền ; thường hành 3 ngày 4 giờ. Đi Thanh Hoa, tối khẩn 3 ngày 5 giờ, thưởng 2 quan 5 tiền ; thứ khẩn 3 ngày 10 giờ, thưởng 2 quan ; thường hành 4 ngày 7 giờ. Đi Ninh Bình, tối khẩn 3 ngày 10 giờ, thưởng 3 quan ; thứ khẩn 4 ngày 3 giờ, thưởng 2 quan 5 tiền ; thường hành 5 ngày 2 giờ. Phàm công văn tối khẩn, thứ khẩn, để quá hạn 1 ngày, không được thưởng, không phải phạt ; để quá đến 1 ngày 1 giờ, đánh 30 roi ; cứ chậm thêm 1 ngày, đánh thêm 20 roi, tội chỉ đến 90 trượng thì thôi. Công văn thường hành, quá hạn 1 ngày miễn tội, quá đến 1 ngày 1 giờ, đánh 20 roi ; cứ chậm thêm 1 ngày, phạt thêm 10 roi, tội chỉ đến 50 roi thì thôi).
    Chở tiền ở kho Kinh 40.000 quan đem chứa ở Bình Hoà ; chở tiền kho Bắc Thành 80.000 quan đem chứa ở Ninh Bình, 100.000 quan đem chứa ở Thanh Hoa, 80.000 quan đem chứa ở Quảng Bình.
    Sai thự Tham tri Hình bộ là Nguyễn Kim Bảng kiêm Tào chính, hiệp cùng Đô thống chế Nguyễn Văn Trí làm việc.
    Lấy Hữu thị lang Binh bộ lĩnh Binh tào Bắc Thành là Nguyễn Đức Hội làm thự Hữu Tham tri Hộ bộ lĩnh Hộ tào Bắc Thành, vẫn kiêm lĩnh Đê chính ; Chưởng cơ Nguyễn Văn Nghị cũng cho kiêm lý Đê chính ; Hữu Tham tri Hộ tào là Nguyễn Đăng Tuân làm Hữu Tham tri Binh bộ lĩnh Binh tào Bắc Thành.
    Vua nghĩ rằng các nhân viên bị phạt bổng, chiết trừ lương chưa đủ, rồi về hưu, xin nghỉ, bị cách, hoặc bị chết, người nào nên miễn, người nào nên đòi, nên có lệ định, sai bộ Hộ xét điển lệ cũ mà bàn rõ tâu lên. Bèn chuẩn định từ nay phàm nhân viên bị phạt bổng, người nào chết thì miễn không đòi nữa ; hưu trí thì chia làm hai hạng, già ốm được về hưu thì không cứ tội công, tội tư đều được miễn đòi, nếu bị bắt về hưu, hay bị tham hặc về tội công thì được miễn, về tội tư thì đòi ; bị cách chức cũng chia làm hai hạng, phàm tham tang vặn sai pháp luật và lầm lẫn hỏng việc quân cơ mà bị cách thì phải đền đủ mới thôi ; vì việc công mà lầm lẫn thì đợi khi nào phục chức thì chiết trừ ; sau khi cách chức mới phát ra án mà án phải phạt bổng thì cũng như thế ; đến như cách lưu thì chua vào sổ, đợi sau khi phục chức thì trừ ; bỏ chức trốn đi thì theo nguyên quán tra thu ; phải giải chức đợi xét thì đợi khi xét xong được bổ làm quan sẽ trừ, bị cách bãi thì theo tội công hay tư mà phân biệt đòi hay tha ; cáo tang, cáo nghỉ, cáo bệnh, đều đợi đến ngày cung chức sẽ trừ ; các tôn nhân bị phạt bổng cùng nhân viên bị trú bổng(() Trú bổng : gửi bổng lại đó đợi xét xong án.), đình bổng, đình lẫm((2) Đình lẫm : bị đình chỉ không cấp lương ăn, như lương giám sinh 2), có việc
  • Chia sẻ trang này