0059.060 - Team S02 - purewater110(done GD) - đã soát p 595. nhani78

15/1/16
0059.060 - Team S02 - purewater110(done GD) - đã soát p 595. nhani78
  • PDF
    GoogleDocs


    :rose::rose::rose:
    :rose:giống như thế thì cũng chiếu theo lệ này mà làm. Rồi lại đổi lại rằng những viên bị cách bãi thì tha đòi.
    Cấp quần áo cho biền binh các vệ cơ lưu thú ở Bắc Thành, và Thanh Nghệ, vì cớ làm việc khó nhọc ở ngoài đã lâu.
    Đổi định cho Viện sứ viện Thượng tứ trật Chánh tam phẩm.
    Lấy Lang trung Hình bộ là Thái Bá Hạc làm Thiêm sự Hình bộ.
    Hoãn việc duyệt tuyển năm nay ở Bắc Thành.
    Thành thần tâu rằng : “Trong hạt thành từ mùa đông năm ngoái trở đi giặc giã quấy rối, nay dẫu đã hơi yên mà những người xiêu tán còn chưa về, nếu theo lệ mà làm duyệt tuyển thì sợ dâng sổ chưa được thực số, xin tạm hoãn”.
    Vua sai đình thần bàn lại, rồi chuẩn cho đến tháng 2 sang năm thì cử hành. Dân ai già ốm thì cho thượng ty sở tại tạm miễn cho binh dao để đợi kỳ tuyển. Từ sau thì cứ theo lệ cũ.
    Vua lại nghĩ Bắc Thành làm duyệt tuyển khoá trước, là việc mới bắt đầu, chưa có phép nhất định, sai bộ Hộ bàn kỹ. Bộ thần tham chiếu các điều khoản đã làm ở các hạt từ Quảng Bình vào Nam, từ Nghệ An ra Bắc, theo đấy châm chước, điều gì chưa đủ thì bổ thêm, điều gì thái quá thì bớt đi, xin ghi làm lệ mãi. Lại sai đình thần bàn lại và cho thi hành :
    1. Cách thức làm sổ. Sổ tuyển các xã theo lệ Quảng Bình trở vào Nam, đem cả nhân số các hạng trong xã, như chức sắc, khoa mục, ty lại, binh đinh, tráng hạng, cho đến người già ốm, trốn, chết, tiểu nhiêu(() Tiểu nhiêu : người lùn không đầy 3 thước, được nhiêu miễn phú dịch.), xiêu tán mới về, đến tuổi tục thêm, ngụ cư, đều chia hạng liệt kê ; Lý trưởng thì khai kết, Cai tổng thì xét thực ; chia làm ba bản Giáp, ất, Bính, bản Giáp thì quan võ khâm mạng đề chữ son, bản ất thì quan văn khâm mạng đề chữ son, bản Bính thì quan trấn sao chữ mực, đều đóng ấn duyệt tuyển. Bản Giáp đệ giao bộ Hộ, bản ất đệ giao bộ Binh, bản Bính giao trấn lưu chiếu. Từ nay Thanh Nghệ, Ninh Bình đến kỳ duyệt tuyển theo lệ này mà làm. Lại sổ tuyển trước gọi là tấu bạ, dùng bìa vàng, nay đổi làm thân bạ, dùng bìa xanh. Các hạt đến kỳ tuyển đều theo đó mà làm.
    2. Cẩn thận phép tuyển. Phàm chức sắc có chiếu sắc, bằng son cùng từ chỉ(() Từ chỉ : chỉ của Hoàng thái hậu.), ý chỉ(() ý chỉ : chỉ của Hoàng hậu.), lệnh chỉ(() Lệnh chỉ : chỉ của Hoàng thái tử.), đều đệ đến tuyển trường trình xét. Nếu lỵ sở ở xa không kịp đệ trình thì quan Khâm mạng đề chữ “tra” bằng son ở trên tên người ấy, để đợi tra xét ; nếu không có cớ gì mà không đệ trình thì cứ theo lệ cho về tráng hạng. Như trước được chỉ sai(() Chỉ sai : chỉ của vua sai.), chỉ truyền(() Chỉ truyền : chỉ của vua truyền.) cùng công đồng phó chức sắc. Còn về hạng quan viên tử thì đều theo lệ năm Gia Long thứ 18 ; gián hoặc có người đến tuổi mà chưa trước bạ, hiện đem bằng sắc của cha mẹ đến trình thực, đều cho biên thêm vào, hoặc cho đem bằng sắc đi chỗ làm quan, có Lý trưởng cam kết, thì quan Khâm mạng cũng đề chữ “tra”. Nếu viên nào đã chết, mà con đem bằng sắc trình thực thì cho liệt vào hạng quan viên tử. Phàm Tiến sĩ, Cử nhân, Tú tài các khoa từ khoa Đinh mão năm Gia Long thứ 6 về sau thì theo lệ liệt vào hạng chức sắc. Quan viên văn võ đời Lê từ Tòng lục phẩm trở lên (đời Lê) thì đều cho theo như cũ liệt vào hạng ngoại tiêu sai(() Ngoại tiêu sai : không phải sai dịch gì.). Lại từ Nghệ An trở ra Bắc, các cục tượng nhiều khi cả làng đều sung ngạch thợ, so với Quảng Bình trở vào Nam sự thể khác nhau, thì vẫn theo lệ khoá trước, từ Nghệ An trở ra Bắc, phàm thợ có ai già ốm phải về thì đều cho đăng sổ đợi tuyển. Đến như binh lính các sắc, lính trạm, hoặc có người thải về chưa kịp xoá sổ mà hiện có người khác sung điền, cùng là người Minh Hương tục thêm chưa xoá sổ mà đã liệt vào sổ hộ, thì cũng cho vào trường ứng tuyển. Có những người già ốm mà ngày tuyển chưa đến, thì trong hạn cho Lý trưởng dẫn đến để tuyển tiếp tục ; quá hạn thì cứ để như hạng cũ.
    3. Đặt trường sở. Sơn Tây cùng Hoài Đức hợp làm một trường ở Hoài Đức, chọn đất làm một chính đường. Bốn trường Sơn Nam, Nam Định, Hải Dương, Bắc Ninh đều lấy hành cung ở lỵ sở làm chính đường. Trước nhà chính đường đều làm một bình bạt bằng tranh, 2 quân xá bên tả bên hữu ở ngoài rào bằng phên tre, đằng trước mở ba cửa, bên tả, bên hữu mỗi bên một cửa. Từ nay Thanh Nghệ và Ninh Bình đến kỳ tuyển cứ theo như thế mà làm. Cấp tiền nhân công vật liệu làm tuyển trường thì trường Sơn Tây 100 quan, các nơi khác đều 50 quan. Cấp riêng tiền hai lễ cáo tạ mỗi trường 50 quan. Lại chước định tiền cung ứng vật liệu, Sơn Tây, Nam Định, Bắc Ninh, mỗi trường 100 quan tiền ; Nghệ An cũng thế, Sơn Nam, Hải Dương, mỗi trường 80 quan ; Thanh Hoa 90 quan, Ninh Bình 50 quan.
    4. Phái quan lại. Mỗi trường quan Tam phẩm trở lên văn võ mỗi ban một viên sung chức quan Khâm mạng, cấp cho cờ bài ấn triện. Các trường Sơn Nam, Nam Định, Bắc Ninh, ấn cũ khắc các chữ Sơn Nam thượng hạ và Kinh Bắc thì đều đúc lại mà cấp. Chức Cai án thì dùng quan lục, thất phẩm, mỗi trường một người ; chức Cai lại thì dùng thư lại bộ ty của hai bộ Hộ, Binh. Sơn Nam, Nam Định, Sơn Tây, Bắc Ninh, mỗi trường 6 người, Hải Dương 4 người. Trước kia tuyển trường các hạt, quan Khâm mạng chưa cấp cờ bài, từ nay cứ đến kỳ tuyển thì chiếu lệ này mà cấp. Lại Cai án trước chỉ chuyên một việc xét bằng sắc quan lại, Cai lại thì làm mọi công việc sổ sách, nay định lại Cai án cũng phải cùng với Cai lại kiêm làm sổ sách cho công việc đều nhau. Mỗi trấn lại thêm thuộc lại theo làm việc, chiếu số ứng tuyển 30.000 người trở lên thì lấy 10 người, 20.000 người trở lên thì lấy 8 người, 10.000 người trở lên thì lấy 6 người. Quan Khâm mạng lại uỷ 2 người sở thuộc xem xét tật tích.
    5. Cấp tiền khoản đốn. Ba trường Sơn Tây, Nam Định, Bắc Ninh, quan Khâm mạng đều được cấp tiền cung đốn, mỗi viên 120 quan ; hai trường Sơn Nam, Hải Dương đều 100 quan, Cai án các trường, mỗi người 30 quan ; Cai lại mỗi người 20 quan tiền ; Tuỳ biện mỗi người 4 quan tiền 2 phương gạo ; khám xét tật tích mỗi người 10 quan. Cấp riêng cho người thuộc trấn phục dịch ứng hậu ở tuyển trường : Ba trường Sơn Tây, Nam Định, Bắc Ninh đều 120 quan tiền, hai trường Sơn Nam, Hải Dương đều 110 quan tiền. Phàm cung nhu đều cho chi của kho, do trấn thần khai sổ, lại do thành thần làm sớ đề lên.
    6. Định số người phục dịch. Quan Khâm mạng đều cấp 10 lính đi theo, sau khi đến tuyển trường, cấp thêm 20 người lính trấn. Lại chước định người đi hầu quan Khâm mạng đều 5 người, Cai án đều 2 người, Cai lại đều 1 người, mỗi tháng cấp mỗi người 5 tiền 1 phương gạo. Ngày khởi hành lượng phái lính Kinh hộ tống. Các trạm tiết thứ đài đệ. Quan Khâm mạng đều cấp 4 người phu trạm, Cai án đều 2 người, lại cấp riêng 1 người đài đệ hòm ấn. Sau này các tỉnh đến kỳ tuyển đều chiếu theo lệ này mà làm. Lại khi quan Khâm mạng đến thành thì cấp thêm lính thú mỗi trường 150 người đi theo làm việc công. Đến lúc trở về, hòm sổ tuyển mang về thì do thành thần lượng bắt phu trạm lần lượt đài đệ.
    7. Định trình hạn. Ba trường Sơn Tây, Nam Định, Bắc Ninh, đều hạn 1 tháng 20 ngày, trường Sơn Nam hạn 1 tháng 10 ngày, trường Hải Dương 1 tháng. Từ nay về sau, đến kỳ tuyển ở Thanh Nghệ và Ninh Bình, thì trường Nghệ An hạn 2 tháng, trường Thanh Hoa hạn 1 tháng 10 ngày, trường Ninh Bình hạn 15 ngày.
    8. Làm sổ sách. Tuyển trường xong việc rồi, thì Cai lại cùng các người trấn lại theo làm việc đều chiếu sổ tuyển làm sách thông quy 2 bản Giáp, ất, quan Khâm mạng viết quan hàm và đóng ấn để kết mà đệ về, do bộ Hộ chuyển tâu. Lại làm sổ thị hạ(() Thị hạ bạ : sổ cho kẻ dưới biết.) do trấn thần viết quan hàm và đóng ấn kiềm, Cai lại viết chữ ký tên, phát cho các xã, mỗi xã một bản. Lại chiếu số người trong hạt cứ tính mỗi người 1 đồng tiền mà chi phát tiền công cấp cho làm tiền bút giấy. Các hạt đến kỳ tuyển đều theo lệ này mà làm. Lại các trấn thần làm riêng sách thông quy, do thành thần hội làm sách tâu, đem tổng số hộ khẩu toàn hạt chép khai minh bạch, chia làm ba bản Giáp, ất, Bính, làm tờ sớ phát đệ, bản Giáp đóng ấn kim bảo do bộ Hộ phụng giữ, bản ất lục gửi sang bộ Binh, bản Bính lục gửi cho thành thần tuân chiếu. Thành Gia Định đến kỳ tuyển cũng theo lệ này mà làm.
    9. Trị gian giấu. Phàm dân xiêu tán mới về, hay dân mới đến tuổi thì đều biên thêm vào sổ, tuổi 18 làm hạng dân đinh, tuổi 20 trở lên làm hạng tráng ; ở ngụ thì liệt vào hạng kiều ngụ, để tiện tra xét. Nếu ẩn lậu đinh khẩu từ một người trở lên thì chiếu luật trị tội. Gián hoặc có người già ốm thì đều do Lý trưởng dẫn đến trường để ứng tuyển. Quan Khâm mạng xét vẻ mặt cùng tật tích nặng hay nhẹ, để làm các hạng lão nhiêu, lão hạng, nhiêu tật, tàn tật ; như người lùn bé không đầy 3 thước, xét thực thì đề làm hạng tiểu nhiêu. Những hạng lão nhiêu, nhiêu tật, tiểu nhiêu đều miễn trừ binh dao thuế lệ ; lão hạng và tàn tật thì chịu một nửa. Nếu mạo tuổi, cùng nhờ người đi thay thì chiếu luật trá mạo mà trị tội.
    10. Răn nhũng lạm. Phàm quan lại ở tuyển trường cùng các quan trấn phủ huyện, cho đến Cai tổng, Lý trưởng, nếu ai nhân việc quấy rối, đòi tiền ngoại lệ, và mọi tình tệ nhũng lạm, thì kể tang, lấy luật uổng pháp mà trị tội nặng thêm.
    Dựng viện Đoan Huy.
    Vua từng xem sách sử đời Lê, bảo Phan Huy Thực rằng : “Trẫm xem cuối đời Lê Trịnh kỷ cương rối loạn, một việc kiêu binh lại là việc loạn lạ lùng, từ xưa chưa có, thực đáng thở dài. Trẫm từng nghe việc loạn ở nước Phú Lãng Sa, bắt đầu có người yêu quái truyền nói ở trong nước rằng : “Phàm loài miệng có răng đầu, có tóc đều là người cả, sao lại để cho giàu nghèo không đều”. Thế là ùa nhau nổi lên cướp của nhà giàu chia cho nhà nghèo để cho đều nhau, dần đến loạn to, so với việc kiêu binh cuối đời Lê việc cũng giống nhau. Nhưng đảng loạn nước Phú Lãng Sa cuối cùng bị diệt mà kiêu binh thì không từng có kết cục, lại như lọt lưới thì lạ thực”.
    Lại bàn đến việc giặc Tây Sơn rằng : “Việc xong rồi mới biết ý trời. Trận đánh ở bến Bồ Đề, Nguyễn Huệ đánh một trận diệt mấy vạn quân Thanh mà vua nhà Thanh mới chán việc binh, bèn lấy việc nhà Minh làm răn, không đánh lại nữa. Song năm ấy, quân ta đã lấy lại được Gia Định, thanh thế đã hơi mạnh. Nếu quân Thanh lại sang, thì giặc Huệ trước sau bị đánh, còn chạy đi đâu ?”.
    Lại nói : “Nhà Lê đến Duy Kỳ sang nước Thanh là hết. Duy Kỳ đã nối chính thống nhà Lê mà đến nỗi róc tóc làm tôi tớ người, chẳng quá lầm à. Sau khi chết, nhà Thanh cho đem hài cốt về, triều ta không tặng thuỵ hiệu là phải đấy”.
    NgàyẤt dậu, tiết Thanh minh. Vua rước Hoàng thái hậu đi yết lăng Thiên Thụ. Sai Đô thống chế Phan Văn Thuý hộ giữ Kinh thành. Lúc lễ xong, vua đi xem khắp hoa cỏ cây cối chỗ cấm địa ((1) Cấm địa : chỗ gần lăng nhà vua, cấm không cho ai để mả, gọi là cấm địa.1), thấy xanh tốt thì vui lắm, sắc cho bộ Lễ làm cỗ thiếu lao ((2) Thiếu lao : cỗ làm một con lợn hay một con dê.2) tế thần núi. Các quan giữ lăng đều thưởng 1 thứ kỷ lục. Lính hai vệ Hộ lăng cùng đội Thuận cần đều thưởng lương 1 tháng. Khởi phục Tôn Thất Đạo làm Phó vệ uý vệ Hộ lăng tiền. (Đạo trước nhân can án phải cách chức).
    Lấy Phó vệ uý vệ Tiền phong tả là Trương Văn Hậu làm Phó vệ uý vệ Cẩm y quản lĩnh các đội Túc trực, Phó vệ uý vệ Hộ lăng tiền là Nguyễn Nghĩa làm Phó vệ uý vệ Tiền phòng tả.
    Cho Nguyễn Hựu Nghi làm Tham hiệp Ninh Bình. Thưởng cho Quản đạo Lê Văn Túc 1 thứ kỷ lục. Địa hạt Ninh Bình cùng Sơn Nam, Nam Định tiếp giáp nhau. Vừa rồi hai trấn kia nhiều việc mà Ninh Bình giữ được yên ổn, vua cho là đạo thần khéo việc chăn dân giữ giặc, nên đặc cách thưởng cho.
    Lấy Trấn thủ Bình Hoà là Nguyễn Văn Quế làm Trấn thủ Bình Định, Trấn thủ Phú Yên là Trương Văn Chính làm Trấn thủ Bình Hoà, Vệ uý vệ Dương võ quân Thần sách là Phan Văn Thể làm Trấn thủ Phú Yên.
    Định thứ tự ban chầu cho vệ Giám thành, cũng như vệ Võng thành, đều đứng hàng dưới các vệ Thần sách.
    Quan Bắc Thành tâu rằng : “Nam Định tự ngày thổ phỉ quấy rối, dân địa phương bị tàn phá, sau khi giặc dẹp yên, dân nhiều người bị đói, ba huyện Vũ Tiên, Thư Trì, Giao Thuỷ khổ nhất. Xin phái Thiêm sự Hộ tào là Nguyễn Văn Mưu đến hội với trấn thần phát chẩn, cứ 2 người cấp cho 1 hộc thóc hay 1 phương gạo, cho đỡ dân lúc gấp”. Vua theo lời tâu.
    Thượng thư Lễ bộ là Nguyễn Xuân Thục ốm, xin về hưu. Vua bảo bộ Lại rằng : “Xuân Thục trải làm quan trong ngoài, là người lão thành quen việc. Nay sức yếu lại bị chứng phong, không nên phiền bắt làm việc quan trọng, nên theo lời xin”. Bèn cho áo quần và 300 quan tiền. Xuân Thục về làng được vài tháng thì chết. Lại cho tiền tuất 300 quan, 2 cây gấm Tống, cấp cho 1 người mộ phu.
    Lấy thự Hữu Tham tri Hộ bộ là Đoàn Viết Nguyên làm thự Tả tham tri Lễ bộ, sai cùng với Phan Huy Thực và Hồ Hữu Thẩm, quyền giữ ấn triện bộ Lễ.
    Cho Nguyễn Công Trứ làm Tả Thị lang Hình bộ, vẫn quyền lĩnh Hình tào Bắc Thành, Nguyễn Đức Nhuận làm Tả Thị lang Binh bộ, vẫn quyền lĩnh Binh tào Bắc Thành, Nguyễn Văn Mưu làm Thiêm sự Hộ bộ, vẫn theo Hộ tào Bắc Thành làm việc.
    Bắt đầu định phép nhà trạm chạy ngựa. Bộ Binh bàn tâu rằng : “Nhà nước đặt ra nhà trạm để truyền đệ việc quan trọng, cho nên việc “đặt trạm truyền mệnh” từ xưa đã có. Triều đình ta đặt nhà trạm, theo việc hoãn cấp mà định lệ tối khẩn, thứ khẩn, thường hành, rõ ràng mà đủ rồi. Nay ngoài việc tối khẩn lại có việc ngựa chạy là muốn nhanh chóng hơn việc đệ trạm. Nhưng ngựa trạm phi đệ tất phải có cờ hiệu tiêu biểu như trạm Kinh, khiến khi trên đường đến đâu trông thấy thì tiếp nhận ngay thì mới không chậm nhỡ việc. Nay xin từ Nam đến trạm Hoà Thuận, Bắc đến trạm Sơn Mai, cộng 73 trạm, mỗi trạm cấp cho 2 lá cờ đuôi nheo. Lại Bắc Thành từ thành lỵ đến trạm Sơn Mai, Nam Định từ trấn lỵ đến trạm Ninh Đa, xin cấp ngựa cùng cờ đuôi nheo như lệ các trạm. (Cờ các trạm 1 mặt thêu chữ Bắc Thành, cờ đều thêu 4 chữ “mã thượng phi đệ”(() Mã thượng phi đệ : đệ phi bằng ngựa.). Từ nay ở Kinh có việc quan khẩn, ở ngoài có phi báo việc quân, báo tin thắng trận, hoặc bắt được tướng giặc yếu phạm, phải đệ bằng ngựa, thì ở trát viết rõ 4 chữ “Mã thượng phi đệ”. Các trạm một khi tiếp đến thì lập tức cắm cờ lên ngựa phi chạy, lần lượt đệ đi. Làm trái thì trị nặng”.
    Vua theo lời bàn.
    Sai trưởng đạo Mường Vanh ở Quảng Trị là A Điền Cáo cùng với Phó sai trưởng là Kiềm không hoà mục với nhau, người Man đuổi Cáo mà suy tôn Kiềm, nhân đem tội trạng Cáo giao thông riêng với nước ngoài và làm điều nhũng tệ đi kêu. Dinh thần tâu lên. Vua bảo bộ Hình rằng : “Cáo đã nhận mệnh lệnh của triều đình, không biết vỗ thương dân chúng, lại làm bừa phi pháp, nên trị tội cho xứng đáng. Kiềm dẫu được dân chúng quy phục, mà tự tiện suy lên, việc có quan hệ đến danh phận, chưa nên vội cho”. Bèn sai bãi chức Sai trưởng của Cáo mà giam lại. Kiềm thì vẫn làm Phó sai trưởng quyền quản công việc đạo Mường Vanh. Sau Cáo trốn thoát. Dinh thần là Nguyễn Công Đàm và Hà Quyền đều phải giáng.
    Cho nước Chân Lạp 3 chiếc thuyền lê.
    án thủ Châu Đốc là Nguyễn Văn Thuỵ mộ lập 3 đội Châu Đốc nhất, Châu Đốc nhị, Châu Đốc tam, 2 đội An Hải nhất, An Hải nhị, xin mỗi đội đặt một Suất đội. Thành thần Gia Định đề tâu cho. Vua y cho.
    Đổi tên kho Vĩnh Phong ở Nội tàng làm kho Vĩnh Phú.
    Thao diễn thuỷ sư ở cửa biển Thuận An. Vua đến xem. Sai Thống chế Trần Văn Cường hộ giữ Kinh thành, sắc rằng phàm những biền binh Cẩm y, Thị trung, Thị nội, Hổ lược, xem trong danh sách hỗ tòng(() Hỗ tòng : theo hầu vua.) ai có dấu son thì lĩnh binh đi hầu trước sau, còn thì đều theo Trần Văn Cường hộ giữ Kinh thành. Từ sau khi đại giá ra ngoài Kinh thành mà sai quan hộ giữ thì lấy đó làm lệ thường.
    Định lệ khoá thanh tra bộ Công.
    Vua bảo bầy tôi rằng : “Bộ Công là chỗ tài liệu nhóm họp, khoán hạng bề bộn, từ trước đến nay chưa có tra xét, nên bàn làm đi”. Bèn chuẩn lời đình thần bàn, theo lệ thanh tra bộ Hộ, 6 năm một khoá, lấy các năm Tỵ, Hợi làm hạn. Phái Đổng lý, Phó đổng lý mỗi chức một người, Hiệp lý 2 người, thuộc ty 5 bộ Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình mỗi bộ 3 người, thuộc ty Vũ Khố, Khâm thiên giám, Thương bạc, Tào chính, mỗi sở một người. Năm nay bắt đầu.
    Sai quan thanh tra bộ Công. Lấy Phó đô thống chế Trần Đăng Long làm Đổng lý, Phủ doãn Ngô Phước Hội làm Phó đổng lý, thự Thiêm sự Hộ bộ Nguyễn Công Thiện, Lang trung Binh bộ Hồ Văn Tú làm Hiệp lý. Cứ xét từ năm Gia Long thứ nhất đến cuối năm Minh Mệnh thứ 7, tất cả các thứ tài liệu khai tiêu, thực tại, chứa tại, chứa tự trước, mới thu vào, theo từng khoản mà khám xét. Sai chế cấp cho ấn quan phòng và kiềm “Thanh tra Công bộ” mỗi thứ một cái.
    Trong Kinh kỳ ít mưa.
    Biền binh các cơ Bắc thuận, Hiệu trung, Hiệu nghĩa, An thuận, Thanh hoa đi thú Gia Định nhiều người ốm chết. Thành thần tâu lên. Vua dụ sai cấp tiền cho người chết mỗi người 3 quan, người ốm nặng 2 quan, bắt thuyền đưa về quê. Người ốm nặng cho vào hạng miễn thuế dịch.
    Quảng Ngãi lâu không mưa. Trấn thần làm lễ đảo vũ mấy lần, được mưa nhỏ. Đến bấy giờ ruộng cao đã gặt, ruộng thấp sắp chín, lại theo chỉ dụ trước đảo vũ lại. Vua nghe biết quở rằng : “Chỉ dụ sai đảo vũ có tự trước, nay tiết đã muộn, mưa xuống chả ích gì, lại không cứ thực tâu lên mà chỉ hư ứng việc cũ, tưởng lấy thế tỏ là hết lòng với việc dân mà cầu trẫm thưởng à ! Hay là bụng không kiến thức gì, chỉ làm cho tắc trách thôi. Thử nghĩ xem, lúc trước đã không hay thành tâm cầu đảo, nay lại đảo nhảm như thế, lòng trẫm thưởng khen sao được ! Ơn thần cảm cách sao được ! Vậy truyền chỉ triệt đàn ngay ngày ấy. Tự nay về sau, phàm việc tất phải mình thân xét, cố sức làm, nếu còn giữ kiến thức quê mùa, gặp việc không biết suy xét, thì để làm gì những kẻ kém hèn ấy”.
    Xã Dương Mỗ (thuộc huyện Phú Vang), phủ Thừa Thiên có đê ngăn nước mặn bị nước lụt làm vỡ, dân xin miễn dao dịch để đắp cho lợi việc nông. Vua y cho.
    Nhà vua bảo bộ Lễ rằng : “Trẫm xem chương sớ bốn phương, nhiều tờ không hợp khoản. Đấy dẫu là việc nhỏ, nhưng có nhà nước thì chế độ văn từ phải hoạch nhất, há lại cứ để khác nhau ! Các khanh nên bàn mẫu thức mà thi hành”.
    Bộ Hình tâu dâng sách hình danh cuối năm trong 7 năm của các địa phương. án còn đọng lại đến gần 800 cái, bị giam đến gần nghìn người.
    Vua bảo bầy tôi rằng : “Việc hình quan hệ đến sự thư thái hay đau xót của dân. Trước đã thiết tha dặn bảo mà vẫn còn để chậm trễ thế, trong đó Bắc Thành lại tệ hơn cả. Đấy tuy là lỗi ở nha xét hình, nhưng cũng bởi thượng ty không biết sức giục mà đến thế. Vậy hạ lệnh cho thành thần Nguyễn Hữu Thận, nghiêm sức cho Hình tào cùng các nha xét hình ở các trấn phủ huyện đều theo án lý mà kết xử cho xong ngay, tha những người can liên chớ để giam lâu. Các địa phương khác cũng do bộ Hình thông sức.
    Thổ phỉ ở Hưng Hoá là Xa Văn Nhị trước giữ châu Đà Bắc để làm phản, nghe quan quân đến, trốn vào rừng núi. Đến bấy giờ Hiệp trấn Hưng Hoá bị cách là Trần Văn Thông cùng với quan võ của thành phái đi đem quân đi dò bắt, bắt được cha con tên Nhị cùng đồ đảng bọn nguỵ thượng đạo thống lĩnh Mai Đình Khuê vài mươi người, đóng gông đưa về Bắc Thành giết đi. Rồi Thông chết. Đến lúc thành thần tâu dâng công trạng, vua nghĩ Thông sau khi bị lỗi còn hay cố sức ở nơi chiến trường, công cũng nên ghi, đặc cách cho khai phục nguyên hàm Hiệp trấn.
    Đổi cấp cân quan cho Nội vụ phủ. Trước đây Đổng lý thanh tra là Trương Minh Giảng và Nguyễn Nhược Sơn tâu rằng : “Năm ngoái mới mua các hạng cân thiên binh, pháp mã, vâng sắc định đến khoá thanh tra năm nay thì ban cấp để dùng, nay đem cân mới so với cân cũ của Nội vụ phủ thì nặng nhẹ khác nhau, xin lấy cân mới thay cân cũ và đăng ký vào sách. Cân mới phát giao cho bọn giám thủ phụng giữ để thu phát”. Tờ sớ giao xuống cho đình thần bàn lại, đình thần cho rằng việc dùng cân nhà Ngu khiến phép cân giống nhau, nhà Chu cẩn thận phép dùng, đều là hoạch nhất phép cân nặng nhẹ của thiên hạ. Nay lấy các thứ cân mới, cân cũ cân nhắc so sánh với nhau, trong đó nặng nhẹ hơn kém so le, chỉ hai hạng cân bình thiên và đại trung ở Vũ Khố, cùng cái cân trung bình pháp mã, đều chế tạo tự lúc quốc sơ, là so nghiệm không sai, đáng làm tiêu chuẩn nặng nhẹ cho các cân. Nhưng Nội vụ phủ từ trước đến nay thu phát chuyên dùng cân cũ, nếu lấy cân khác so sánh thì triết trừ tính toán rắc rối, thực là chưa tiện. Vậy xin sai Đổng lý thần cân cũ mà cân, lại cứ số thực tại mà lấy cân Vũ Khố cân lại, ghi sách giao giữ. Lại sai theo cách thức cân ấy mà chế tạo để đưa cho Nội vụ phủ dùng, còn các cân mới, cân cũ thì chứa riêng để phòng xét đến. Những cân cũ cấp cho các địa phương có sai cũng xin đổi cấp, khiến cho pháp độ hoạch nhất, trong ngoài giống nhau.
    Vua cho là phải. Rồi sai quan cấp cân cho các trấn đều gọi là cân quan (Khoảng năm Gia Long chế cân có 5 hạng, một là cân trung bình, một là cân bình thiên, một là cân thiên bình, một gọi là cân tư mã, một là cân mười cân).
    Thương bạc tâu dâng số tiền lệ của Thương bạc về 2 năm Minh Mệnh thứ 6 và thứ 7 là hơn 14.000 quan. Vua thấy số tiền không nhiều, mà con trai, con gái vua lộc trong một năm thừa thãi, không cần món tiền ấy để chi dùng. Ngoài ra vẫn chiếu lệ thưởng cấp theo thứ bậc.
    Sửa lăng Thiên Thụ.
    Dựng kho nhỏ Thừa Phước (kho ở phía Bắc trạm Thừa Phước), thu tiền gạo thuế của 16 xã dân phụ cận để chứa. Phàm lương bổng của biền binh trú giữ cửa Hải Vân, cùng thủ ngự, cai trạm đều lấy ở kho ấy mà chi cấp.
    Thuế gỗ ở Nghệ An thiếu nhiều. Vua nhân dụ trấn thần rằng : “Gỗ lim là vật cấm, gần đây nghe nói nhiều kẻ mua bán riêng với nhau, há do quỷ thần chuyên chở bay qua cửa quan, cửa tấn sao ! Chẳng qua là quan lại trong ngoài thông đồng mưu lợi riêng trước rồi sau mới nghĩ đến thuế nhà nước cho nên có tệ ấy thôi. Những việc về trước không cần xét kỹ, tự nay nên cấm ngặt không được dung túng, nếu không như thế thì sẽ trị tội nặng không tha”.
    Lợp lại bốn sở sảnh đường phủ Hoàng tử. (Trước dùng rui gỗ lợp lá dừa, nay thay bằng giàn gỗ và ngói gạch).
    Nước Vạn Tượng cùng nước Xiêm động binh đánh nhau. Trước là Quốc trưởng Vạn Tượng là A Nỗ gả con gái cho vua nước Xiêm đẻ con là Sâm Ma Yết. Vua Xiêm lại lấy người trong nước, đẻ con là Thôn ỷ Phá. ỷ Phá đã lớn, mưu cướp ngôi trưởng, giết Sâm Ma Yết đi. Vua Xiêm không ngăn cấm. A Nỗ lấy cớ ấy oán vua Xiêm, đem quân đánh lấy thành Cổ Lạc, giết binh Xiêm hơn 500 người. Vua Xiêm giận, sai Xá Chiêu Oan Na (tên vua thứ hai nước Xiêm) đem tướng sĩ vài vạn đi đánh Vạn Tượng. Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt trước được tin báo ngoài biên, đem việc tâu lên. Vua thấy thượng đạo Cam Lộ thông với nước Xiêm, sai Quản đạo Tống Văn Uyển đến ngay chỗ biên giới dò hỏi việc ấy, dặn sau có việc biên khẩn cấp cần báo ngay thì cho được làm tờ tâu đệ thẳng.
    Cấp áo quần cho biền binh cơ Định man đạo Cam Lộ. Sắc cho dinh thần Quảng Trị về sau cứ mỗi năm một lần chế áo quần cấp cho.
    Miễn cho biền binh các cơ ở Gia Định không phải thay lượt đến Kinh thao diễn.
    Gia hàm Thị lang Lễ bộ cho Từ tế đại sứ Từ tế ty là Tôn Thất Điêu, vẫn quyền biện việc Tôn Nhân phủ.
    Phó đốc học Quảng Trị là Trương Cam Triêm nghỉ tang. Lấy cựu Đốc học Thanh Hoa là Hồ Sĩ Lâm làm Đốc học Quảng Trị.
    Lấy Lang trung Công bộ là Hoàng Quýnh làm Thiêm sự Hình bộ, sung biện Hình tào Bắc Thành.
    Thượng bảo Thiếu khanh là Thân Văn Quyền tâu rằng Vũ Xuân Cẩn lĩnh Hình tào cùng Quýnh vốn không ăn ý với nhau, khó cùng làm việc. Bèn đổi Nguyễn Văn Mưu làm Thiêm sự Hình bộ sung biện Hình tào, đổi Quýnh làm Thiêm sự Hộ bộ sung biện Hộ tào.
    Đổi phong Ưng Hoà hầu Lệ Chung làm Thái Bình hầu. Bộ Lễ tâu rằng : “Tự xưa ân lễ ban ra vốn quá về hậu mà danh nghĩa thì không thể không nghiêm, cho nên thánh nhân bàn việc làm chính trị thì trước nhất là việc chính danh, bởi vì có danh thì mới nói được. Ưng Hoà là tước hiệu của Mỹ Đường được phong trước kia, tự lúc Mỹ Đường phải tội, việc thờ cúng ở nhà thờ Anh Duệ, Thái Bình công đã là chủ rồi. Thái Bình công không có con, cho nên Lệ Chung là con Mỹ Đường được tập tước. Nay Lệ Chung đã được chủ việc tế tự Anh Duệ thì nên làm người thừa kế Thái Bình công, còn đối với Mỹ Đường, dẫu con không có lẽ cắt đứt với bố, nhưng sau này, thứ tự chiêu mục(() Chiêu mục : là thứ tự bày thần vị ở miếu.) đã không cần đến, nếu cứ gọi là Ưng Hoà hầu thì hình như người có tội vẫn được truyền tước, mà Thái Bình công là thân phiên(() Thân phiên : anh em chú bác với vua được phong tước công, hầu là thân phiên.) lại đến mất danh hiệu. Vậy xin đổi phong làm Thái Bình hầu thì theo nghĩa mới chính”. Vua nói rằng phải. Sai Hữu ty chế lại sách và ấn ban cấp cho.
    Trấn thủ Lạng Sơn là Nguyễn Văn Biện chết ; lấy Vệ uý vệ Tráng võ Hậu dinh quân Thần sách là Hoàng Văn Tài là Trấn thủ Lạng Sơn.
    Định lệ các vệ kinh binh canh giữ những chỗ thành trì lâu đài ở Kinh thành : 10 vệ Thị trung cùng giữ kỳ đài, 2 vệ Hữu nhất, Hậu nhất quân Thị trung giữ đài Nam Hanh đến giáp đài Nam Xương, cùng lầu cửa Đông Nam ; 2 vệ Tả nhất, Tiền nhất quân Thị trung giữ đài Nam Xương đến giáp đài Nam Chính, cùng lầu cửa Thể Nguyên ; 2 đội Trung nhất, Trung nhị quân Thị trung giữ đài Nam Chính đến giáp đài Nam Thắng ; 2 vệ Tiền nhị, Tả nhị quân Thị trung giữ đài Nam Thắng đến giáp đài Nam Hưng, lại coi giữ lầu cửa Quảng Đức ; 2 vệ Hữu nhị, Hậu nhị quân Thị trung giữ đài Nam Hưng đến giáp đài Nam Minh, lại coi giữ lầu cửa Chính Nam ; 2 vệ Long võ trung, Long võ tiền quân Thị nội giữ đài Nam Minh đến giáp đài Tây Trinh ; 2 vệ Long võ tả, Long võ hữu quân Thị nội giữ đài Tây Trinh đến giáp đài Tây An, cùng lầu cửa Tây Nam ; 2 vệ Long võ hậu, Hổ oai trung quân Thị nội giữ đài Tây An đến giáp đài Tây Dực, cùng lầu cửa Thủy Quan ; 2 vệ Hổ oai tiền, Hổ oai tả quân Thị nội giữ đài Tây Dực đến giáp đài Tây Lĩnh ; 2 vệ Hổ oai hữu, Hổ oai hậu quân Thị nội giữ đài Tây Lĩnh đến giáp đài Tây Tuy cùng lầu cửa Chính Tây ;
  • Chia sẻ trang này