0059.061 - @da.nguyen TEAM S03 (done)

28/12/15
0059.061 - @da.nguyen TEAM S03 (done)
  • PDF
    GoogleDocs


    :rose::rose::rose:
    2 vệ Ban trực trung, Ban trực tiền quân Thần sách giữ đài Tây Tuy đến giáp đài Tây Thành ; 2 vệ Ban trực tả, Ban trực hữu quân Thần sách giữ đài Tây Thành đến giáp đài Bắc Điện ; 2 vệ Ban trực hậu quân Thần sách và Hữu bảo nhất Hữu quân giữ đài Bắc Điện đến giáp đài Bắc Thuận, cùng lầu cửa Tây Bắc ; 2 vệ Hữu bảo nhị Hữu quân và Tiền bảo nhất Tiền quân giữ đài Bắc Thuận đến giáp đài Bắc Trung ; 2 vệ Tiền bảo nhị Tiền quân và Tả bảo nhất Tả quân giữ đài Bắc Trung đến giáp đài Bắc Thanh ; 2 vệ Tả bảo nhị Tả quân và Trung bảo nhất Trung quân giữ đài Bắc Thanh đến giáp đài Bắc Hoà, cùng lầu cửa Chính Bắc ; 2 vệ Trung bảo nhị Trung quân và Hậu bảo nhất Hậu quân giữ đài Bắc Hoà đến giáp đài Định Bắc ; 2 vệ Hậu bảo nhị Hậu quân và Hùng cự nhất Tượng quân giữ đài Định Bắc đến giáp đài Đông Bình, cùng lầu cửa Thái Bình ; vệ Hùng cự nhị Tượng quân và hai vệ Nội hầu giữ đài Đông Bình đến giáp đài Đông Vĩnh, cùng lầu cửa Đông Bắc ; 2 vệ Long thao, Hổ lược giữ đài Đông Vĩnh đến giáp đài Đông Phu, cùng cầu Thanh Long ; vệ Thành võ quân Thị nội giữ đài Đông Phu đến giáp đài Đông Gia ; 2 vệ Tiền phong hữu, Kỳ võ quân Thị nội giữ đài Đông Gia đến giáp đài Đông Trường, cùng lầu cửa Chính Đông ; 2 vệ Tiền phong tả, Tiền phong hậu quân Thị nội giữ đài Đông Trường đến giáp đài Đông Thái ; 2 vệ Tiền phong trung, Tiền phong tiền quân Thị nội giữ đài Đông Thái đến giáp đài Nam Hanh ; vệ Võng thành giữ đài Thái Bình cùng cửa Trường Định.
    Bắt đầu đặt kho Thường bình ở ba huyện phủ Thừa Thiên. Vua dụ rằng : “Kho Thường bình là phép tốt đời xưa, trẫm muốn thử làm ở huyện Kinh, đợi có hiệu nghiệm rồi sau mới thi hành ở các địa phương để cho nhân dân đều được lợi”. Lại sai Phủ doãn bàn định chương trình tâu lên. Bọn Nguyễn Văn Phượng bàn tâu, cho rằng chế độ thường bình lúc thóc đắt thì bán ra, lúc thóc rẻ thì mua vào, cốt muốn cho nhân dân được lợi. Duy lúc xuất kho, vào kho, nếu phải người bậy thì lại sinh tệ, tình dân không thích. Từ xưa đã có lời than về tệ lấn bớt trăm họ. Bọn chúng thần hai ba lần suy nghĩ, cái lợi lâu dài khó định trước được, mà khi mới đặt ra thì phải châm chước cho được ổn đáng. Xin hạ lệnh cho ba huyện đều chọn đất làm 9 gian kho, đến vụ thuế mùa hè thì khiến dân nộp thóc vào kho mỗi huyện 5.000 hộc. Lại uỷ cho huyện thần quản lĩnh, người làm chủ thủ. Miễn dao dịch cho 20 người dân xã gần đấy để sung vào việc coi giữ. Phàm có thu thóc, phát thóc thì huyện lại biên số thóc vào sổ. Gặp thóc đắt thì giảm giá mà bán cho dân được lợi ; gặp thóc rẻ thì tăng giá mà mua để lợi cho nhà nông, do phủ tư bộ tâu xin phái người đến xem. Gặp năm nên phát chẩn thì tâu xin chi phát. Nhiều năm liền được mùa thì đem thóc ấy phát lương, ra thóc cũ, vào thóc mới, cho thóc khỏi mọt nát. Cứ đến cuối năm thì làm sách tâu lên ; 3 năm thì thanh tra xét thực mà đong lường lại để ngăn mối gian. Như thế thì phép tốt ngõ hầu làm được.
    Vua xem tờ tâu, nói rằng : “ Lời bàn này dẫu chưa thỏa ý ta, nhưng chẳng hại gì, cho chiếu khoản thử làm”. Rồi thì Phủ doãn tâu xin cho dân ba huyện mùa đông năm nay vay thóc của kho Thường bình đến mùa hạ sang năm nộp trả, cứ một trăm hộc phụ nộp 5 hộc. Vua y cho. Lại hạ lệnh rằng từ sau có phát thu thì đến cuối năm làm sách trình bộ, không phải tâu.
    Lấy hai nguồn Đồng Hương và Đồng Nãi trấn Bình Hoà cho lệ theo thủ Bình Nguyên quản nhiếp. Trước đây về thuế người man 7 sách ở hai nguồn ấy thì đặt riêng công trường sáp vàng, thủ ngự và nguyên lại ngồi thu, thủ Bình Nguyên không dự đến. Đến bấy giờ trấn thần tâu rằng thủ Bình Nguyên đã có công trường trao đổi làm chỗ cho người Man tụ họp buôn bán, công việc hai nguồn nên cho thuộc về Bình Nguyên để bớt phiền nhũng. Xin chọn ở hai nguồn lấy 9 người làm nổi việc đặt làm thuộc lại thủ Bình Nguyên mà coi thu thuế lệ 7 sách cùng thuế vườn trầu của người Man Đê hạ. Còn các danh sắc thủ ngự công trường Sáp Vàng và cai thu, giang quan, tuần ty, thủ hợp, ký thuộc đều bãi cả. Lại lấy dân ở nguồn Đồng Hương và mộ thêm 50 người làm dân thuộc lệ, theo thủ ngự và hiệp thủ quản suất.
    chính biên
    đệ nhị kỷ - quyển XLV
    Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế
    Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8 [1827], mùa hạ, tháng 4, ngày mồng 1.
    Tế hạ hưởng.
    Sai Hữu ty kiểm xét đồ dùng về hình ngục.
    Vua dụ bộ Hình rằng : “Hình phạt thi hành với bọn tiểu nhân, ở trong luật các đồ dùng về hình ngục đều có vẽ cách thức. Gần đây nghe nói các nha dùng những gông khoá hoặc có cái lấy ở nhà người phạm, hoặc có cái bắt ở xã dân, dài ngắn, nặng nhẹ phần nhiều không đúng thức. Đề lao ngục tốt nhân thế làm gian, người có tội thỉnh thoảng trốn thoát cũng bởi cớ ấy. Nên truyền dụ cho các nha môn xét hình, tự nay bắt giam người có tội thì gông cùm, xích khoá, đều tự quan chế ra, Hữu ty bất thần kiểm xét để ngăn tệ gian”.
    Quảng Trị mất mùa đôi chút. Dinh thần cho là thuế ruộng năm nay đã được ân tha, xin thôi không khám. Vua quở rằng : “Đầu xuân ban ân chiếu, thi ân khắp nơi. Phương này hại mất mùa riêng, khám để giảm thuế đã có lệ thường, sao lại vì có ân chiếu mà thôi không khám ?”. Bèn sai khám ngay tâu lên.
    Kinh lược sứ là bọn Nguyễn Văn Hiếu, Hoàng Kim Xán đến Nam Định, đi thăm các huyện ấp, xét hỏi nỗi đau khổ của dân, tâu xin phàm các xã dân bị giặc đốt phá thì cấp cho mỗi nhà 2 quan tiền 1 hộc thóc ; nhà nào phái viên ở thành đã phát chẩn thóc rồi thì cấp cho 2 quan tiền ; người nào có nhà cửa mà của cải mất hết thì cấp 1 hộc thóc ; người nào đánh nhau với giặc bị giết chết thì lượng cấp tiền tuất. Sơn Nam cũng theo như thế mà làm”. Vua y theo lời tâu. Tất cả chi hết hơn 5.700 quan tiền, hơn 1.980 hộc thóc.
    Bọn Hiếu đến đâu, xử kiện tụng, xét gian tang, quan lại ai cũng sợ hãi nín hơi. Cai án Nam Định là Phạm Thanh, Thư ký là Bùi Khắc Kham, rất tham lam, giảo quyệt, địa phương cho là người hung ác. Thanh đương quyền huyện Mỹ Lộc, bỏ ấn trốn đi trước. Việc đến tai vua. Vua dụ bọn Hiếu rằng : “Trước kia đã bảo tận mặt những việc gì, sao không để ý, để cho Phạm Thanh trốn thoát, như thế thì cái việc trừng trị kẻ gian tựa hồ chỉ là hư văn. Nhưng nó chẳng qua tìm chỗ kín tạm tránh thôi, không thể mọc cánh bay lên trời được. Bọn ngươi nên tìm cách bắt cho được, cũng có thể bù được lỗi trước. Nếu cuối cùng để nó đi xa mất thì luật có điều “cố thả”, các ngươi chối sao được”.
    Lại dụ quở trấn thần Nam Định rằng : “Thuộc viên hạt ngươi nhiều kẻ tham lam hại dân, trẫm xét hỏi đích xác, đã nhân việc phê bảo, hai ba lần nghiêm dụ, mà bọn ngươi nhất vị che chở kẻ gian, dám tâu rằng không xét thấy việc tham bỉ, thế là cam lòng vì kẻ thuộc lại mà nói dối trẫm. Thậm chí như Phạm Thanh mà cho là giỏi, sai đi quyền huyện, đến ngày kinh lược đến nơi thì sợ việc vỡ lở nên lọt tin ra cho nó trốn được. Thế thì bụng dạ các ngươi còn nên hỏi đến không ? Trị dân thì vỗ nuôi sai pháp, giặc nổi như ong, xét quan thì không biết phân biệt, dung túng thiên vị, khép vào tội nịch chức cũng là chưa đủ. Bọn Đỗ Văn Thịnh, Trần Chính Đức, Vũ Đức Khuê đều cách lưu, đeo tội gắng sức làm việc, lại bắt hạn 3 tháng phải bắt cho được kẻ phạm tội”.
    Sau đó Khắc Kham cũng trốn, rồi cùng với Thanh bị bắt. Nhân dân đem các việc gian tệ kiện thêm. Sai giải đến chợ trấn chém ngang lưng, tịch thu gia tài chia cho dân nghèo.
    Vua bảo bộ Hình rằng : “Giết bọn lại mọt ấy dẫu là việc nhỏ, mà quan hệ đến việc khuyên răn rất lớn”.
    Bọn Hiếu lại tham tâu. Tri phủ Kiến Xương Nguyễn Công Tuy tham tang phải tội chết, Đồng tri phủ ứng Hoà Phan Thọ Vực và Tri huyện Đại An Nguyễn Văn Nghiêm cố ý dung túng nha lại nhũng nhiễu hại dân, đều phải cách chức. Còn quan phủ huyện khác không xứng chức đều bãi. Những lại dịch ở Thừa ty hai trấn cùng ở phủ huyện bị kiện bị bắt hỏi và trốn đi có hàng trăm người. Bọn Hiếu xin chọn trong hạt lấy những học trò dự trúng các khoa để sung bổ. Lại dâng sớ cử Vũ Đức Quyền người Nam Định có văn học, Vũ Huy Trinh người Hải Dương có tài khéo. Vua đều hạ lệnh dẫn về Kinh để tuỳ tài bổ dùng.
    Định lệ thuế biệt nạp đệm buồm ở Bình Thuận, lấy 4 năm làm suất, cứ 3 năm thay nộp bằng tiền (đinh tráng mỗi người 8 quan tiền, lão tật một nửa) thì 1 năm nộp hiện vật (mỗi người 50 bó đệm buồm).
    Đốc học Bắc Ninh là Dương Đức Tuy tuổi già về hưu trí ; lấy cựu Phó đốc học Quốc tử giám Nguyễn Huy Tá lĩnh Đốc học Bắc Ninh.
    Vua ra cửa biển Thuận An xem thuỷ sư thao diễn. Đến khi về gặp mưa, đỗ thuyền ở bờ sông Thuỷ Tú. Thuyền Trung thuỷ có người tránh mưa không ở hàng tiền đạo. Vua giận lắm, sai lính Cẩm y bắt hết cả biền binh trong thuyền, thét đem chém đi. Phan Văn Thuý tâu rằng : “Đấy là lỗi ở người quản suất, binh lính ngu muội sao đủ trách mắng !”. Vua đỡ giận. Bèn sai đánh người quản suất 100 roi, đánh binh lính 50 roi, rồi tha cả.
    Đổi định điều luật phạm gian.
    Vua bảo bộ Hình rằng : “Đặt ra hình luật là để trị kẻ ác, răn kẻ gian, cốt cho tình lý đều đủ, nặng nhẹ vừa phải, để tỏ cho dân biết cái điển hình phạt sáng tỏ, phép tắc nghiêm trang. Trẫm từ khi thân chinh đến nay chỉ để bụng thương xót việc hình, mỗi khi gặp pháp ty tâu án, tất xét nghĩ hai ba lần, chỉ sợ có chỗ chưa đúng. Như luật cường đạo, dẫu có điều riêng mà tình có nặng nhẹ, không phân biệt thì phép chưa công bằng. Năm Minh Mệnh thứ 5 đã xuống dụ rằng phàm kẻ đi theo đứng ngoài trông coi và chưa vào nhà lấy của cùng là kẻ bị dỗ hay bị hiếp đi theo, hoặc mới ăn cướp lần đầu, tang số không nhiều, xét ra không phải tình trạng hung ác, thì cho được làm tập tâu riêng xin xét. Từ trước đến nay, các thành dinh trấn dâng lên các án ăn cướp, phàm kẻ tội tòng phạm tình có đáng thương như những trường hợp ấy thì đều cho giảm tội chết, phát đi sung quân. Đấy là trẫm đặt nhân dân vào chỗ hình pháp rộng có chừng mà không buông thả. Tự đó gặp những án như thế thì đã biết tuân theo mà làm. Duy luật phạm gian mà hoà gian((1) hoà gian : đôi bên đều bằng lòng thông gian. 1) và điêu gian((2) Điêu gian : người lấy trá thuật dỗ dành để thông gian. 2) chỉ xử tội đánh trượng thì nhẹ quá. Nghĩ vợ chồng là gốc nhân luân, là đầu phong hoá, gian phu, gian phụ hại phong hoá nhân luân, nếu theo luật nhẹ thì lấy gì mà cổ lệ liêm sỉ, sửa chữa phong tục ? Vừa rồi cái án gian phụ ở Gia Định đổi kết tội giảo giam hậu, đó là lâm thời xử định, chưa đủ xử hết điều luật. Nay sách luật hiệu chính còn phải chờ nhiều năm tháng, mà điều luật ấy nhẹ quá, người xử án chưa biết theo đâu. Các ngươi nên đem điều luật ấy châm chước so sánh cho được vừa phải”. Bấy giờ đình thần bàn xin đặt luật nặng thêm, định 9 điều luật phạm gian. Vua cho thi hành, lấy tháng 7 năm nay bắt đầu.
    Xét 9 điều mới định là :++++++++++++++++++++
    1. Điều phạm gian. Phàm hoà gian với đàn bà không có chồng thì gian phu, gian phụ đều phạt đóng gông 1 tháng, đánh 100 trượng. Điêu gian với đàn bà không chồng thì gian phu, gian phụ đều đóng gông 2 tháng, đánh 100 trượng. Hoà gian hay điêu gian với đàn bà có chồng không con thì gian phu, gian phụ đều phải tội giảo hậu, với người đàn bà có chồng có con thì gian phu, gian phụ đều phải tội giảo quyết. Nếu có người mối lái chứa chấp người ở nhà để thông gian thì người mối lái xử nhẹ hơn gian phu, gian phụ một bậc. Cưỡng gian(() Cưỡng gian : không bằng lòng, mà lấy sức khoẻ, hay quyền thế doạ nạt người ta để thông gian.) đã xong thì gian phu trảm quyết ; cưỡng gian chưa xong thì gian phu xử tội mãn trượng(() Mãn trượng : trượng đến 100.) và lưu ; phụ nữ không phải tội. Gian với con gái 12 tuổi trở xuống, dẫu hoà cũng cho là cưỡng mà xử. Nhân thế mà đến chết thì xử chém bêu đầu. Phàm quan chức cùng quân dân thông gian với vợ quan chức, thì gian phu, gian phụ đều phải tội giảo quyết. Quan chức thông gian với vợ quân dân cũng xử giảo quyết, gian phụ thì giảo hậu. Quân dân thông gian với nhau, nô tỳ thông gian với nhau thì chiểu luật thông gian thường mà xét xử. Những người lần lượt thông gian với phụ nữ con nhà lương dân, thì người bắt đầu xử trảm quyết, người tòng phạm đồng gian xử giảo hậu. Nếu lần lượt gian dâm với phụ nữ đã phạm gian trước rồi thì người bắt đầu xử giảo hậu, người tòng phạm đồng gian xử mãn trượng và lưu ; những người đồng mưu khác chưa đồng gian thì xử nhẹ hơn kẻ tòng phạm đồng gian một bậc. Nếu lần lượt thông gian mà người phụ nữ chết thì không cứ đã xong hay không, đều chém bêu đầu.
    2. Điều dung túng thê thiếp phạm gian. Người chồng dung túng thê thiếp thông gian với người, thì người chồng cùng gian phu đều xử 100 trượng, lưu 2.000 dặm, gian phụ thì xử 100 trượng, tính đất an trí. Nếu bắt ép thê thiếp cùng con gái nuôi thông gian với người, thì người chồng xử 100 trượng, lưu 2.500 dặm, gian phu xử 100 trượng lưu 2.000 dặm ; người bố nuôi bắt ép con gái nuôi không chồng (thông gian với người) thì xử 60 trượng, đồ một năm ; gian phu xử 100 trượng, phụ nữ không phải tội.
    3. Điều thân thuộc cùng gian dâm. Thông gian với người đàn bà đồng tông không phải để tang và vợ người họ đồng tông không phải để tang cùng thông gian với đàn bà bên nội, bên ngoại phải để tang 3 tháng và vợ người họ phải để tang 3 tháng trở lên, thông gian với con chồng trước của vợ mình, hay là với chị em cùng mẹ khác cha, thì gian phu, gian phụ đều xử giảo quyết ; nếu cưỡng gian thì gian phu xử trảm quyết. Nếu thông gian với bà tổ họ, bà cô, bà bác, bà thím, bà cô chú bác họ, chị em của chú bác, chị em của mẹ, cùng vợ anh, vợ em, vợ của con anh con em, thì gian phu, gian phụ đều trảm quyết ; nếu cưỡng gian thì gian phu xử chém bêu đầu. Thông gian với thiếp của cha, thiếp của ông, bác, thím, cô, chị, em, cùng vợ của con cháu, con gái của anh em, thì gian phu, gian phụ đều chém bêu đầu ; nếu cưỡng gian thì gian phu xử tử lăng trì(() Lăng trì xử tử : xẻo dần từng miếng thịt cho đến chết.).
    4. Điều vu cho bố chồng gian dâm. Phàm con dâu vu cho bố chồng gian dâm, và em dâu vu cho anh chồng lừa để thông gian, thì người vu xử trảm quyết. Nếu bố chồng cưỡng gian con dâu chưa thành mà con dâu tự tử, thì gian phu xử giảo quyết, gian đã thành thì gian phu xử chém bêu đầu. Con gái vu cho bố nuôi lừa để gian dâm, thì theo như lệ người làm thuê vu cho chủ nhà mà xét xử. Chị dâu vu cho em chồng cùng người họ hàng để tang 3 tháng, thì đều theo luật vu cáo mà xét xử.
    5. Điều đầy tớ cùng người làm thuê thông gian với vợ người chủ nhà. Đầy tớ và người làm thuê thông gian với vợ chủ nhà, thì gian phu, gian phụ đều phải xử chém bêu đầu. Đầy tớ và người làm thuê thông gian với con gái không chồng con chủ nhà, cùng thiếp của chủ nhà, đều phải tội giảo hậu. Nếu thông gian với vợ người bà con để tang một năm của chủ nhà và với người để tang một năm của chủ nhà mà có chồng thì gian phu xử trảm quyết ; nếu người bà con để tang một năm ấy không chồng thì đều xử tội mãn trượng và lưu, người gian phụ thì tính đất an trí. Nếu thông gian với vợ người bà con để tang 3 tháng trở lên của chủ nhà, cùng người bà con để tang 3 tháng trở lên của chủ nhà mà có chồng, thì đều xử giảo quyết ; nếu người bà con không có chồng, thì gian phu phải xử mãn trượng và đồ, gian phụ thì phát đi làm khổ sai ở chỗ lính trú phòng, 3 năm tha về ; nếu cưỡng gian thì gian phu xử trảm quyết.
    6. Điều quan lại thông gian với vợ và con gái dân trong bộ hạt. Quan lại cai quản thông gian với vợ người quân dân mình cai quản thì xử giảo quyết. Nếu thông gian với con gái thì xử 100 trượng và bãi chức dịch không được bổ dụng nữa. Phụ nữ thì vẫn chiếu luật thông gian thường mà xử ; nếu cưỡng gian thì gian phu xử trảm quyết.
    7. Điều người cư tang cùng tăng nhân đạo sĩ phạm gian. Người đương có tang cha mẹ và đạo sĩ hoà gian hay điêu gian với người phụ nữ không chồng, và đàn bà đang tang chồng cùng ni cô và nữ quan(() Nữ quan là nữ đạo sĩ.) phạm gian thì đều kết tội nặng hơn thông gian thường 2 bậc, duy tăng nhân phạm gian thì xử 100 trượng lưu 2.000 dặm, người thông gian với tăng nhân thì theo luật thông gian thường mà xử. Thông gian với đàn bà có chồng có con đều xử tội giảo quyết ; thông gian với đàn bà có chồng không con thì xử giảo hậu ; cưỡng gian thì gian phu đều xử trảm quyết.
    8. Điều lương nhân cùng kẻ hạ tiện thông gian với nhau. Đầy tớ thông gian với phụ nữ lương nhân không chồng, thì gian phu, gian phụ đều xử tội nặng hơn thông gian thường một bậc. Đầy tớ thông gian với phụ nữ lương nhân có chồng, thì gian phu, gian phụ đều xử giảo quyết. Cưỡng gian thì gian phu xử trảm quyết. Người lương nhân thông gian với tỳ nữ người khác thì gian phu, gian phụ đều xử tội nhẹ hơn việc thông gian thường một bậc. Cưỡng gian thì gian phu xử giảo quyết.
    9. Điều quan lại ngủ nhà đĩ. Quan lại ngủ nhà đĩ thì xử 80 trượng, người mối lái xử nhẹ hơn 2 bậc. ấm tử, ấm tôn ngủ nhà đĩ đều xử nhẹ hơn quan lại 2 bậc. Giám sinh sinh viên ngủ nhà đĩ thì đều xử bắt về làm dân.
    Cho Trung hưng công thần là Thái phó Nguyễn Đức Xuyên được tòng tự ở Thế miếu, thần vị bày ở dưới Nguyễn Hoàng Đức.
    Phái viên bộ Hộ đong lại gạo kho Kinh thấy hao thiếu nhiều, bộ thần tâu lên. Vua sai đem người chủ thủ cùng lính coi kho giao cho bộ Hình nghiêm xét ; lại sai bộ Binh ngay ngày hôm ấy phái biền binh 2 đội đến thay.
    Chưởng cơ Nguyễn Văn Toàn tuổi già về hưu trí ; cho 100 lạng bạc.
    Lấy Phó vệ uý Hồ Văn Đa làm Vệ úy trật Chánh tam phẩm, chuyên quản 5 tượng cơ An, Đinh, Kiên, Bình và Trung ; Chánh quản cơ Lê Phục Tấn làm Phó vệ uý trật Tòng tam phẩm, chuyên quản 4 tượng cơ Tri, Tiền, Tả, Hữu.
    Hải Dương tâu báo giá gạo, nói thêm rằng gần đây tạnh nắng, lúa ruộng hơi tốt. Vua dụ rằng : “Xem tờ tâu thực không hiểu được, có lẽ nào việc làm ruộng ở hạt ấy lại khác, chỉ thích nắng không cần mưa ? Tóm lại là bọn ngươi không quan tâm đến việc làm ruộng, nói hão cho xong việc, không ngờ lời nói trái sai như thế”. Trấn thần làm sớ xin chịu tội. Vua miễn cho.
    Triệu Thống chế lĩnh thập cơ Kính tiệp của Tiền quân là Phạm Văn Lý, và Tả thị lang Hình bộ quyền lĩnh Hình tào Bắc Thành là Nguyễn Công Trứ cùng Tả thị lang Binh bộ quyền lĩnh Binh tào Bắc Thành là Nguyễn Đức Nhuận về Kinh.
    Vua thấy việc dẹp giặc ở Bắc Thành hơi thư, lại gần đến tiết Vạn thọ, cho nên gọi về. Bọn Lý vào ra mắt, vua thong dong yên ủi, thân hỏi sự thể dẹp giặc khó dễ thế nào ? Lý tâu rằng : “Biết rõ thế thì dễ, không biết rõ thế thì khó. Giặc lấy quân ô hợp liều mình, khi lâm trận thì dẫu đàn bà con gái cũng cầm giáo, cầm mác mà đánh, quân ta hơi lui thì nó thừa dịp ngay, vì thế nên đánh nhau với giặc, nếu binh sĩ cứ liều chết mà đánh thì hẳn được. Thần nhờ oai trời đánh thắng nhiều trận là bởi cớ ấy”. Vua khen và rất vui lòng, cho cái quạt ngự.
    Lại hỏi Đức Nhuận các toán giặc có thông đồng với nhau không ? Nhuận tâu rằng các toán giặc như tổ ong, hang kiến, toán nào riêng toán ấy.
    Vua lại hỏi sổ ngụy gọi là Lê Hoàng là thế nào ? Nhuận tâu rằng : “Thần đã hỏi những đứa giặc bắt được thì đều nói rằng chữ Lê là dân chúng, chữ Hoàng là to lớn, lấy nghĩa ấy mà đặt tên chứ không phải là con cháu nhà Lê. Trộm nghĩ sổ ngụy là bọn giặc dỗ hiếp bình dân khiến phải theo, trong ấy gây tội oan cũng không ít. Xin thánh thượng sáng suốt soi xét khiến người lương thiện được sống yên thì may cho thiên hạ lắm”.
    Vua nói : “ Ở trận tiền bắt được mà giết còn không nỡ nữa là sổ ngụy ! Người xưa đốt văn thư để cho kẻ giáo dở yên lòng cũng là vì thế”.
    Thự Hiệp trấn Hà Tiên là Vũ Du vào chầu. Vua hỏi việc biên thuỳ. Du tâu : “Thần đã từng sai người sang nước Xiêm do thám. Người Xiêm đang đánh nhau với Vạn Tượng, nó không báo cho ta biết, hẳn là nó sợ ta thừa cơ đấy thôi”. Vua cho là phải.
    Chuẩn định từ nay về sau thuyền chở Nam Bắc mà vào cửa Thuận An, khi mới đến thì đài Trấn Hải bắn 3 phát súng hiệu, vào xong cũng bắn 3 phát súng hiệu. Như Gia Định giải bè gỗ đến, khi mới đến và khi xét đã đủ ngạch cũng đều bắn 3 phát súng. Ghi làm lệnh.
    Thuộc man của nước Xiêm tên là Hân Ma Lạt bị Chiêu Ba Thắc (con A Nỗ) nước Vạn Tượng đánh, đem bộ lạc hơn 200 người đến đất biên giới của ta, dâng voi xin để phụ thuộc. Quản đạo Cam Lộ là Tống Văn Uyển đem việc tâu lên.
    Vua bảo bầy tôi rằng : “Hân Ma Lạt thế cùng mà quy phụ triều đình, há nỡ cự tuyệt ! Nên tuỳ nghi xử trí để cho cống man 7 động cũng nhờ được yên ổn”.
    Bèn sai Tống Văn Uyển đem binh Định man đến sách Na Bôn, chọn đất trống cho chúng ở rồi về, mà trả lại đồ dâng. Lại sai Thị độc Văn thư phòng là Vương Hưng Văn hiệp đồng với Tống Văn Uyển giúp việc ngoài biên. Dụ rằng : “Uyển vốn quen tình hình ngoài biên, chỉ sợ nói quá sự thực. Nay ngươi đi nên cùng hắn tỏ rõ oai đức triều đình, vỗ về các sách man khiến cho họ quy thuận. Đến như Hân Ma Lạt là tên Lão bị nạn, thì lấy đất cho ở, vẫn cho muốn ở thì ở, muốn đi thì đi”. Nhân sai mang vóc sa 100 tấm chia cấp cho các man.
    Người nước Xiêm là Khúc Lịch Bạn cũng đem bộ lạc hơn 100 người đến phụ vào sách Làng Thìn và nộp cống. Vua nhận cho (Khúc Lịch Bạn trước thuộc Làng Thìn, sau bị thuộc man nước Xiêm là Ma Lạt, Khúc Lịch Bạn lại về Làng Thìn, xin hợp làm một). Đến lúc quân Vạn Tượng thua, Hân Ma Lạt lại xin về đất cũ. Hạ lệnh thả cho về.
    Vua thấy dọc biên giới Cam Lộ có việc, hạ lệnh họp cả binh cơ Định man ở thú sở để sẵn sàng sai phái, cấp thêm tiền lương tháng (Lệ chi 5 tiền, cấp cho đủ 1 quan). Đợi việc xong, lại chia ban chi lương như lệ.
    Cho Trương Đăng Quế làm Hàn lâm viện Thị độc, vẫn sung chức Tán thiện Tập thiện đường.
    Hiệp trấn Hải Dương là Trần Văn Toản và Tham hiệp là Nguyễn Hựu Nhân vì việc dễ dàng uỷ cho lại ty tra tấn người đến chết, án ở Bắc Thành nghĩ xử giáng điệu, lại can án khác bị giáng nhiều cấp, đều bị cách chức. Sai Thiêm sự Hình bộ sung biện Hình tào Bắc Thành là Nguyễn Văn Mưu quyền làm Tham hiệp Hải Dương.
    Đổi cơ Ngũ thủy làm vệ Ngũ thuỷ. Vua bảo bộ Binh rằng : “Lính Kinh đều gọi là vệ mà Ngũ thuỷ còn là cơ thì không khác gì với thành trấn ở ngoài”. Bèn sai đổi làm vệ ; Chánh phó quản cơ đổi làm Chánh phó vệ uý, phẩm trật cho đồng với các quân mà đứng dưới. Lại dụ rằng : “Thủy binh kỹ nghệ phần nhiều sơ sài, không hiểu kỷ luật, thậm chí không biết bơi lội, xuống nước là chìm, bơi chèo thuyền ghe hình như người gỗ, đều là bởi thống lĩnh cùng quản viên không chịu gia tâm huấn luyện nên đến thế. Vậy chuẩn định từ nay về sau hằng ngày phải thay ban thao diễn, không kể mùa rét, mùa nực. Cốt sao cho lính mạnh nghề tinh, để sẵn có lúc dùng. Nếu còn theo thói cũ lười biếng, để binh lính vẫn cứ như trước, thì theo phép nghiêm trị. Viên Thống quản cũng giao bộ trị nặng”.
    Sai trấn Bình Định chiếu số tiền thóc được ân miễn năm nay cho về tự đinh, tự điền của Lễ bộ Ngô Tòng Chu mà cấp cho để chi việc thờ cúng.
    Trong Kinh kỳ mưa đêm. Vua ở trong cung sai lấy vại sành hứng nước, tự giờ Tý đến giờ Sửu được nước 1 tấc 6, 7 phân. Đến sáng ngày, Khâm thiên giám đệ tờ tâu việc mưa, thời khắc phân tấc đều sai. Vua bảo Văn thư phòng rằng : “Trẫm thường xét ngày tạnh so ngày mưa để nghiệm xét việc làm ruộng. Bọn kia chức trách là chiêm nghiệm khí tiết mà vẫn giữ tính lười biếng, không một khắc nào để bụng. Đã nhiều lần dạy bảo, đến nay vẫn chểnh mảng như thế, tội dẫu nhẹ mà tình là cố ý, nếu cứ rộng tha thì lấy gì mà răn về sau ?”. Bèn sai đóng gông Chiêm hậu ty là Hoàng Văn Thông ở đài Quan Tượng, đánh cho 100 côn son ; Nguyễn Danh Giáp, Hoàng Công Dương cùng thuộc ty 26 người đều phân biệt đánh roi, đánh trượng. Sai biên những chỉ dụ trước sau đem dán ở Khâm thiên giám để răn.
    Sai Hữu tham tri Lễ bộ là Phan Huy Thực quản lý Khâm thiên giám. Trước đây Thực đã quyền lĩnh việc Khâm thiên giám, từng nói với vua là thuộc ty lười biếng. Đến bấy giờ bọn Nguyễn Danh Giáp bị quở trách, vua đặc cách tha tội cho Thực, vẫn sai quản lý cho có chuyên trách.
    Vua nghĩ đường trạm Gia Định xa xôi, muốn bớt khó nhọc cho lính trạm, cho tự nay việc báo giá gạo mỗi tháng một kỳ thôi (Lệ trước mỗi tháng 2 kỳ báo).
    Sai Binh mã phó sứ là Đỗ Phúc Thịnh đem binh Giám thành đi đo đường bộ đến hai cửa biển Thuận An và Tư Dung. Dụ rằng : “Hai cửa biển ấy là chỗ quan yếu mà đường bộ quanh co khuất khúc không được thẳng, ngươi nên xem đo địa thế, chọn lấy một đường thẳng để có việc khẩn cấp đi lại cho tiện. Bây giờ là lúc vô sự nên dự bị sẵn là phải”.
  • Chia sẻ trang này