0059.063 - @da.nguyen (done Wiki)

22/1/16
0059.063 - @da.nguyen (done Wiki)
  • PDF
    GoogleDocs


    :rose::rose::rose:
    Vua nói : “Việc ấy không phải gấp mà sai dân đến 3.000 người chẳng cũng phiền ư ?”. Bèn bác tờ sớ, sai tính kỹ những việc nào nên làm trước thì tâu lên.
    Bãi việc nhà nước mua sa nhân ở Bình Định. Trước đây Bình Định gạo đắt, sai phát thóc công, đặt mua quả sa nhân 15.000 cân để giúp dân đói kém. Trấn thần mua không đủ số, tâu xin gia hạn và nói là khó mua.
    Vua dụ rằng : “Trẫm nghĩ sa nhân là thổ sản hạt ấy cho nên sai mua, nếu quả khó khăn thì can gì phải ép ! Về việc ấy bọn ngươi để ý săn sóc, sao bằng đem cái lòng ấy mà vỗ về nhân dân, gạn trừ lại tệ chẳng là hơn ư ?”.
    Xây lầu Minh Viễn (lầu ở phía bắc trong cung thành). Hơn một tháng làm xong ; thưởng quần áo cho bọn Đổng lý Trần Văn Tính, Nguyễn Văn Trọng, cùng các Vệ uý, Cai đội, lính và thợ thì thưởng 4.000 quan tiền.
    Nước Chân Lạp bắt được 3 tên gián điệp người Xiêm, giải sang Gia Định. Lê Văn Duyệt đem việc tâu lên.
    Vua dụ rằng : “Nước Xiêm đương có nội biến, chẳng khỏi ngờ vực, đó cũng là tự mưu việc nước họ thôi, không phải dòm ngó nước ta đâu. Nên tha ngay, tỏ ra mình không có ý gì khác”.
    Quốc trưởng nước Vạn Tượng là A Nỗ đánh nhau với nước Xiêm bị thua ; con là Chiêu Ba Thắc bị nước Xiêm bắt, quân và dân tan đi các nơi. A Nỗ thế cùng, chạy ra Ba Động, xin liệt làm dân ngoài biển của nước ta và giữ lễ cống để cầu quân cứu viện. Nghệ An đem việc tâu lên.
    Vua sai đình thần bàn cách xử trí, đều cho rằng : “Nước Vạn Tượng là thuộc quốc của ta, nay có nạn mà quy thuận ta, nghĩa không nên cự tuyệt. Xin chọn vị đại thần võ ban cho quyền lĩnh Trấn thủ Nghệ An, sai cùng với hiệp trấn và tham hiệp đem quân giữ bờ cõi, vẫn cho Vạn Tượng trú ở Ba Động ; nếu nước Xiêm đến đòi thì tỏ rõ nghĩa lý mà khước đi ; nếu họ xâm lấn bờ cõi ta, quấy rối dân man ngoài biên của ta, thì coi như cầm thú làm hại ruộng ta mà trừ đi. Như thế nước Xiêm sẽ sợ then máy của ta, mà nước Vạn Tượng cũng được nhờ ta che chở”.
    Vua xem lời tâu nói rằng : “Nước Vạn Tượng gây hấn trước, nước Xiêm cất quân lần này là cốt bắt cho được kẻ địch, quét sạch sào huyệt thì mới hả lòng, thế tất đến gần cõi ta, quấy thuộc man của ta ; nếu ta không phòng bị trước thì chưa khỏi khi lâm sự sẽ mất nhiều công trù tính”. Bèn sai điều động lính thú ở Thanh Nghệ đóng giữ nơi bờ cõi.
    Sai Đô thống chế dinh Long võ quân Thị nội là Phan Văn Thuý sung chức Kinh lược biên vụ đại thần, kiêm lĩnh Trấn thủ Nghệ An, Phó tướng Hữu quân là Nguyễn Văn Xuân sung Bang biện quân vụ đại thần, Phó đô thống chế Trung dinh quân Thần sách là Đoàn Văn Trường và Thống chế Tượng quân là Lê Văn Hoan, đều sung Bang biện quân vụ, Thượng thư Lại bộ là Trần Lợi Trinh sung Tham tán quân vụ đại thần, Tham tri Binh bộ là Nguyễn Công Tiệp sung Tham tán quân vụ, đem hơn 2.000 Kinh binh, 30 thớt voi, chọn ngày tiến quân. Đều thưởng cho quần áo và tiền lương một tháng. Lại phái thái y theo đi điều hộ.
    Nước Vạn Tượng sai thuộc hạ là bọn Xi Mân đem thư đến Nghệ An (A Nỗ mới đến Ba Động, chưa có quốc thư, đến nay mới làm thư đệ theo). Trấn thần lưu Xi Mân ở lại châu Quy Hợp đợi vua trả lời.
    Vua bảo bầy tôi rằng : “Vạn Tượng sai người đến tỏ lòng thành, nếu không cho về ngay thì chưa khỏi sinh lòng ngờ vực ; vậy dụ sai trấn thần bảo về, và báo cho A Nỗ biết là quân trấn đã đóng giữ ngoài cõi, hãy nên đóng đấy để đợi mệnh lệnh triều đình. Lại sai người đưa tặng phẩm vật cho họ yên lòng”.
    Nêu thưởng 4 người thọ dân ngũ đại đồng đường ở Nghệ An và Sơn Tây (Người Nghệ An là Hoàng Khắc Quýnh và Thái Doãn Hợp đều 100 tuổi, người ở trấn Sơn Tây là Vũ Thị Ngũ 100 tuổi, Kiều Thị Tường 87 tuổi).
    Vua bảo bộ Lễ rằng : “Thọ dân là điềm lành của thọ quốc, cho nên trẫm từ khi thân chính đến giờ gia ơn sâu rộng để mong hưởng tuổi thọ. Nay 4 người này là điềm tốt đời thăng bình, nên thưởng hậu để nêu lên”. Bèn sai cấp biển ngạch đề bốn chữ “Dịch diệp diễn tường”(() Dịch diệp diễn tường : đời đời hưởng phước lành.) mỗi người một cái, và sai quan làm nhà treo biển, lại gia thưởng cho bạc lụa theo thứ bậc. (Khắc Quýnh và Doãn Hợp mỗi người 10 lạng bạc, 1 tấm đoạn, 10 tấm lụa, 20 tấm vải ; Thị Ngũ, Thị Tường, mỗi người 5 lạng bạc, 1 tấm đoạn, 3 tấm lụa, 5 tấm vải).
    Lấy Vệ uý Thuỷ quân là Nguyễn Bá Tình làm Chánh quản cơ cơ Trung tiệp, Phó vệ uý Trương Văn Tín làm Vệ uý vệ Hậu thuỷ.
    Lấy Ký lục Quảng Nam là Trần Đăng Nghi làm Tả Thị lang Công bộ, Phủ thừa Thừa Thiên là Phan Huy Chú làm Ký lục Quảng Nam, Thiêm sự Lại bộ là Phan Bá Đạt làm Phủ thừa Thừa Thiên.
    Lấy Chánh quản cơ Tống Văn Uyển làm Vệ uý, trật Tòng tam phẩm, vẫn cai quản đạo Cam Lộ và cơ Định man.
    Lấy thự Thống chế dinh Hổ oai là Nguyễn Văn Trọng làm thự Tả thống chế quân Thị trung, Vệ uý vệ Tiền nhất quân Thị trung là Lê Văn Hiếu làm Vệ uý vệ Tiền nhị, Vệ uý vệ Hổ lược là Vũ Văn Từ làm Vệ uý vệ Tiền nhất, Phó vệ uý vệ Hổ oai tiền là Nguyễn Lương Huy làm Vệ uý vệ Hổ lược, Phó vệ uý vệ Trung nhị quân Thị trung là Phan Văn Tạo làm Vệ uý vệ Hổ oai tả, Phó vệ uý vệ Hữu nhất là Phạm Phú Chung làm Phó vệ uý vệ Trung nhị, Phó vệ uý vệ Hổ oai tả là Phan Văn Song làm Phó vệ uý vệ Hữu nhất, Phó vệ uý vệ Hộ lăng tiền là Nguyễn Văn Nghĩa làm Phó vệ uý vệ Hổ oai tả, Phó vệ uý vệ Hậu nhất quân Thị trung là Hồ Văn Khuê làm Vệ uý vệ Tiền phong tả, Cai đội viện Thượng trà là Vũ Văn Giải làm Phó vệ uý vệ Kiêu kỵ kiêm quản các đội Thượng thiện, Tân sài, vẫn làm hành tẩu ở xứ Ngân bài thị vệ.
    Thuộc man nước Xiêm là Xương Tinh, xin phụ theo Chân Lạp. Thành thần Gia Định đem việc tâu lên.
    Vua bảo rằng : “Nước Chân Lạp ở vào giữa hai nước lớn, nên hết lễ thờ nước lớn. Nước Vạn Tượng đánh nhau với nước Xiêm đã bị thua, đem gia quyến trốn chạy, gương ấy chẳng xa, nước Chân Lạp há nên lợi dụng Xương Tinh để cho nước Xiêm giận sao ?”. Bèn sai thành thần Gia Định truyền dụ cho phiên vương Chân Lạp nên giữ bờ cõi, chớ chứa chấp kẻ phản nước chạy trốn mà gây hấn ở biên thuỳ.
    Nêu thưởng nghĩa dân xã Tống Xá (thuộc huyện Phù Dung) trấn Sơn Nam. Trước đây thổ phỉ quấy rối, quyền sai Cai tổng là Lê Như Uy đem dân xã kháng cự, bị chết trận, dân ấy cũng nhiều người chết và bị thương. Đến nay Kinh lược sứ là bọn Nguyễn Văn Hiếu tâu xin nêu thưởng để khuyến khích nghĩa dân. Vua xem tờ tâu nói rằng : “Dân dẫu chết và bị thương mà không chịu khuất phục giặc dữ, cái nghĩa tôn thân há chẳng nên như thế sao !”. Truy tặng Như Uy chức Cai tổng, cho tiền tuất 30 lạng bạc và cho những người chết 200 quan tiền ; tô thuế thiếu của xã dân đều miễn.
    Dựng lại nhà sáu bộ. (ở bên tả trong Kinh thành, mỗi bộ làm một nhà thượng thư, nhà tả hữu tham tri, nhà tả hữu thị lang, mỗi chức một nhà ; phòng ty viên ở tả hữu nhà thượng thư). Chia sai biền binh ứng dịch mỗi bộ 700 người. Làm xong, cho quan sáu bộ từ thất phẩm trở lên ăn yến một bữa, miễn chầu hầu 3 ngày.
    Người hiếu tử ở Phú Yên là Nguyễn Văn Tựu xin đến cửa khuyết chiêm bái, bộ Lễ tâu dùm.
    Vua cho vào ra mắt, khen là người thành thực, muốn cho làm quan. Tựu cố từ. Bèn cho bạc và y phục, sai trạm đưa về làng.
    Lấy Lang trung Lại bộ là Thang Huy Thận làm Thiêm sự Lại bộ.
    chính biên
    đệ nhị kỷ - quyển XLVI
    Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế
    Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8 [1827], tháng 5 nhuận. Người Thừa Thiên là Hồ Quang dâng sách “Thiên nguyên bảo lịch”. Thưởng cho 10 lạng bạc.
    Trấn thần Bình Thuận tâu rằng sách man Trà Nương ở Thuận Thành mùa thu năm ngoái vì tật dịch nên xiêu tán dần, xin cho giảm thuế. (Lệ phải nộp thuế hơn 2.800 quan).
    Vua bảo bộ Hộ rằng : “Ân chiếu đầu xuân, thuế chính cung cả nước đều được giảm bớt, mà riêng dân man này nộp thuế tạp vật hạng đặc biệt nên không được dự, nay lại bị tật dịch, tình hình thực cũng đáng thương. Vả dân man này từ trước đến giờ hằng năm nộp cống phú, kính thuận không đổi lòng, vẫn được khen ngợi, nay nhà nước có lễ mừng, khắp cả đều được đội ơn, sao lại ngăn trừ một phương ấy không được thấm nhuần ơn trạch ? Vậy tha cho”.
    Quảng Nam và Quảng Trị giá gạo hơi cao. Cho thuế điền năm nay dân được nộp thay bằng tiền.
    Định lệ phu miếu và con hát ở các địa phương.
    Trước đây bộ Binh tâu rằng sổ đinh ở các thành dinh trấn, các phu miếu và con hát liệt vào hạng biệt tính số người phức tạp bất nhất, xin do quan Lễ bộ bàn định. Đến nay lời bàn dâng lên, lại sai đình thần bàn lại, cho rằng : Đế vương các đời chính thống nối nhau cùng là các chính thần có công đức rõ rệt, thì các đền miếu chỗ phát tích từ trước đã cấp dân phu coi giữ, thế là để tôn trọng các triều trước và tỏ ý yên ủi các thần. Nhưng trong ấy số phu có nơi hơn 200 người, có nơi hơn 30 người, nhiều ít khác nhau, cũng nên một phen sửa định cho vừa phải. Còn việc đặt con hát để hằng năm ngày khánh tiết lên hát chúc thọ và hát trong những lễ cầu, lễ tạ, theo lễ thì cũng nên thế ; nhưng số người nhiều quá, cũng nên rút bớt. Vâng mệnh bàn rằng : về miếu Lịch đại đế vương thì miếu Đinh Tiên Hoàng đế và miếu Lê Đại Hành Hoàng đế ở Ninh Bình, miếu Hùng vương ở Sơn Tây, miếu Lý Bát đế và miếu Thục An Dương vương ở Bắc Ninh, miếu nhà Trần ở Nam Định, miếu Lê Thái tổ ở Cao Bằng, đều xin theo lệ Văn Miếu ở Kinh, đặt phu miếu mỗi miếu 50 người. Miếu Xung Thiên Đổng thần vương và miếu Đổng Thiên vương ở Bắc Ninh, miếu Pháp Vũ, Pháp Vân, Pháp Lôi ở Sơn Nam, miếu Trấn Vũ ở Hoài Đức, miếu Tản Viên thiên sơn, miếu Hy Cương thiên vương, miếu Tam Giang đại vương, miếu Gia Thông thiên vương ở Sơn Tây, xin theo lệ miếu Hội đồng ở Kinh, phu miếu mỗi miếu 30 người. Đều chiếu ngạch cũ, thừa thì bớt đi, thiếu thì thêm vào. Miếu Công thần ở Bình Định thì 79 người phu miếu và miếu Công thần ở Phú Yên thì 48 phu miếu, là do nhà vua đặc cách cho, bởi vì các công thần ấy theo đòi từ lúc bắt đầu, hoặc có người liều chết giữ cô thành, hoặc có người bỏ mình ở nơi góc biển, những lúc gian nan không còn ai hơn, cho nên ân điển đặc biệt ưu hậu ; nhưng từ trước đến nay đã dựng đền thờ, lại cho tiền hương lửa hằng năm, ơn cho đặc cách cũng đã rất hậu, nay xin theo lệ miếu Công thần ở Kinh, cấp cho mỗi miếu 30 người phu miếu. Đến như con hát 200 người ở Gia Định (Phường Du Xuân đổi làm ca công, mỗi năm nộp tiền sai dịch 10 quan, lại mỗi người nộp riêng 2 tấm 15 thước vải), cùng với dân biệt nạp không khác, không bớt giảm. Con hát ở Bắc Thành (cũ gọi là Giáo phường) hơn 300 người thì nên để lại 100 người, con hát ở Thanh Hoa (cũ cũng gọi là Giáo phường) hơn 200 người thì nên để lại 50 người, còn cho về hết vào sổ dân để chịu sai dịch.
    Vua chuẩn y lời bàn, duy miếu Công thần ở Bình Định và Phú Yên số phu miếu vẫn theo ngạch cũ. Rồi lại định miếu Hội đồng các địa phương, mỗi miếu lấy số phu 20 phu miếu làm chuẩn.
    Quân Xiêm đóng ở Mục Đa Hán (tên đất man) phao nói trước lấy Vạn Tượng, sau lấy Lạc Hoàn. Trấn thần Nghệ An đem việc biên báo chạy tâu. Vua bảo bầy tôi rằng : “Người Xiêm hư trương thanh thế, chưa chắc dám đến quấy bờ cõi ; song nước Vạn Tượng sau khi điên đảo, nghe gió thổi hạc kêu cũng đủ sợ hãi, quân ta không đến thì bờ cõi không yên”. Bèn giục bọn Phan Văn Thuý tiến quân. Bọn Thuý vào bệ từ. Vua dụ rằng : “Các ngươi hãy đến gần biên giới, đóng quân lại và đưa thư cho nước Xiêm nói rằng họ cùng với nước Vạn Tượng đánh nhau không được vượt sang bờ cõi thuộc man của ta ; nếu không nghe, chỉ có đánh thôi”.
    Quân Xiêm chiếm cứ thành Viên Chăn nước Vạn Tượng. A Nỗ nghe tin, từ Tam Động chạy đến bản Triệu Sần. Trấn thần Nghệ An đem việc tâu lên.
    Vua nói : “A Nỗ chỉ một mực hoảng hốt, sợ quân Xiêm đuổi kịp, vội chạy cho xa. Từ trước đến giờ có gặp mặt người Xiêm bao giờ ! Vì hoảng hốt như thế nên tìm đường vội đến, hoặc giả làm cho dân ngoài biên náo động”. Bèn truyền bảo bọn Phan Văn Thuý đưa thư cho A Nỗ nói rằng quân quan kinh lược đã đến, phái thêm lính đóng giữ, cứ việc chọn đất ở yên chớ sợ.
    Sai bộ Binh đem tình hình ngoài biên ở Nghệ An chạy báo cho thành Gia Định.
    Lê Văn Duyệt dâng sớ cho rằng : Nước Vạn Tượng giữ lễ cống đã lâu, làm phiên phụ cho ta, thế cùng phải kêu van, nghĩa không thể cự tuyệt. Huống chi ta với nước Xiêm, tiếng là láng giềng, thực là nước đối địch, ngày nay giao hiếu nhưng chưa biết ngày khác thế nào. Nước Vạn Tượng nếu bị nước Xiêm kiêm tính thì ta cùng với nước Xiêm giáp giới nhau, thần sợ tiếng ngáy ở giường bên cạnh khó mà ngủ yên ; chẳng bằng tìm cách cho nước Vạn Tượng được yên, để làm phên giậu cho ta. Song le ta dung nạp người Vạn Tượng, người Xiêm đòi mà không cho, chẳng khỏi mất hoà. Thần nghĩ thà mất hoà với nước Xiêm, mà Vạn Tượng còn là phên giậu của ta, thì mối lo còn ít ; nếu tạm bợ giảng hoà thì nước Vạn Tượng hẳn mất, nước Vạn Tượng mất thì thế nước Xiêm càng to, mối lo ấy càng sâu. Cân nhắc nghĩa nặng nhẹ, bàn mối lo nông sâu, thì giúp Vạn Tượng mà chống nước Xiêm tưởng là hơn cả. Nếu Xiêm khai chiến thì ta thẳng mà nó cong, lo gì không có danh nghĩa. Thần lại nghĩ trấn Hà Tiên thuộc Gia Định cùng bờ cõi phía Nam nước Chân Lạp, liền tiếp địa giới nước Xiêm, nếu quân Xiêm phạm vào Nghệ An, thần xin đem quân Gia Định thẳng đến chỗ sơ hở, bóp vào cổ, đánh vào lưng, cái công toàn thắng tất là phải được”.
    Vua xuống dụ rằng : “Xem khanh tâu về thuyết bóp cổ đánh lưng, thực là yếu lĩnh của binh pháp ; nhưng nghĩ việc binh là dữ, chiến tranh là nguy, thánh nhân bất đắc dĩ mới dùng. Phen này người Xiêm, nếu biết lường tính thế lực, không dám theo đòi Vạn Tượng mà lấn bờ cõi ta thì việc êm người yên, hoà hảo lâu dài. Bấy giờ ta sẽ tính, dần thu lòng người Vạn Tượng, dựng lại nước Vạn Tượng, đã tỏ rõ nghĩa lớn, phục lại nước đã mất, nối lại mối đã dứt, mà thực ngầm cắt đứt cánh tay trái của người Xiêm. Nếu người Xiêm dám càn giỡ lấn lướt, cố đòi Vạn Tượng mà gây hiềm khích trước, thì trời sẽ giúp ta, lẽ phải là mạnh, quân ta chia đường tiến đánh, có thể mau chóng thành công. Hiện nay chưa biết hết lý thế nào, nên yên tĩnh để đợi. Lại như nước Chân Lạp, tính vốn hèn nhát, nay nghe người Xiêm độc ác với Vạn Tượng chẳng khỏi sinh lòng ngờ sợ, khanh nên yên ủi vỗ về, thường thường cổ vũ để họ phấn khởi chí khí, đợi ngày khác triều đình dùng đến”.
    Từ đó, những chương tấu dụ chỉ về việc biên giới đều sai bộ Binh trích những điều quan yếu, sao lục gửi cho [Lê Văn Duyệt].
    Tham tri Lại bộ là Hoàng Kim Hoán dâng sớ nói việc ngoài biên rằng : “Vương giả đối với nước láng giềng không nên bỏ hoà hiếu mà gây cừu thù, cũng không nên một mực tạm bợ, chỉ cân nhắc sự thế cho phải thôi. Nhà nước ta từ khi đại định đến giờ, nước Xiêm thì thông hiếu, nước Vạn Tượng thì nộp cống, giao thiệp nước láng giềng, bênh vực nước bé nhỏ, cũng đã lâu năm. Song trộm nghĩ : nước ta là nước văn vật mà láng giềng với nước rợ mọi cũng là bất đắc dĩ ; vả lại giống rợ mọi lòng tham không chán, chưa chắc nó không để ý nhòm mình mà nhấm nháp. Chỉ vì thế lực ngang nhau nên nó tạm đóng túi để cầu khỏi lỗi ; nếu nó đã đắc ý, biết đâu chẳng như người nước Mật(() Mật : một nước nhỏ ở cuối đời nhà Ân bị Chu Văn vương cho là có tội mà đánh.) khinh nhờn, người Yểm Doãn(() Yểm Doãn : một nước ở phía Tây Trung Quốc, vào lấn Trung Quốc, bị Chu Tuyên vương đánh.) cuồng dại ? Hiện nay nước Xiêm đem quân lấn đánh Vạn Tượng, đình thần bàn luận, muốn để việc được thua của nước Vạn Tượng ra ngoài bụng, đợi nó phạm đến bờ cõi ta rồi mới tiến đánh. Thần về nhà tự nghĩ : Nghệ An là xương sống của nước ta, bên ngoài Trà Lân tiếp ngay Vạn Tượng, thì Vạn Tượng là phên giậu của nước ta, không nên bỏ. Nước Xiêm tiến quân lần này, nếu chỉ cốt hả giận, cướp của cải và đàn bà mang về, thì không đủ nói ; nếu nó chiếm cứ thành ấp nhân dân nước Vạn Tượng thì khác gì nó dỡ phên giậu của ta đi ; dẫu nó không lấn thuộc man của ta, mà thuộc man của ta gần nó, tự nhiên phải làm tôi tớ nó ; thuộc man của ta đã làm tôi tớ nó thì Trà Lân của ta rồi cũng mất về nó. Xem như nhà Tống đối với một thành cô ở Thái Nguyên còn nói : Bên cạnh giường nằm há để người khác nằm ngáy khò khò. Huống hồ nước Xiêm là nước thế lực ngang nhau với mình, đến cơ hội này còn có thể tạm bợ được sao ? Đợi nó đến mà sau mới đánh thì khó ; đương lúc nó chưa đến mà đánh ngay thì dễ. Nay đã sai Kinh lược đại thần đóng quân ở Nghệ An nếu nước Xiêm lấy thế hung tợn mà chiếm giữ đô thành Vạn Tượng thì không nên giữ sự tin nhỏ về giao lân mà quên cái kế xa giữ nước. Nên đem quân tiến giữ Ba Động cho nước Vạn Tượng biết là có quân cứu viện, để tự họ hăng hái phục thù, mưu toan rửa hận ; rồi sau cho quân Vạn Tượng cùng quân Lạc Hoàn, Ba Động làm tiên phong, quân ta tiếp sau, trương to thanh thế, góp sức cùng đánh, thì nó không dám đương đầu. Phàm lấy Man di mà đánh Man di thì thế tiện mà việc cũng dễ. Vả lại đánh quân cường bạo là chính, giúp nước nhỏ bé là nghĩa, quân ta đã có chính và nghĩa thì đánh đâu chẳng vỡ. Sau khi dẹp xong, lại phong vương cho Vạn Tượng để tỏ rõ ý ràng buộc, chọn lấy quan giỏi nước ta cho làm bảo hộ. Chân Lạp và Vạn Tượng đều về ta cả thì người Xiêm như mất cả hai tay, thế suy sức yếu, sao có thể địch với ta được !”.
    Vua giao tờ sớ xuống cho đình thần duyệt tâu, đều cho rằng : “Lời bàn trước của bọn thần là muốn tạm dung mà an tháp người Vạn Tượng để theo trong ấy mà tính toán, đợi người Xiêm có làm trái lẽ thì mình sẽ có cớ mà nói, đâu phải là tạm bợ cầu yên, để việc được thua của Vạn Tượng ra ngoài bụng, như lời Kim Hoán nói. Phàm đánh trước để chế người cũng là việc thường của nhà binh ; nhưng xem cơ mà làm thì việc nào cũng xong. Việc đế vương làm là phải muôn phần được cả. Hoàng thượng ta sáng suốt sâu xa, đã cho đóng trọng binh ở Nghệ An, lại trao kế hoạch cho Gia Định, những cơ mưu để giúp đỡ Vạn Tượng, chế phục người Xiêm, tưởng không thiếu sót gì nữa. Còn Kim Hoán bàn việc quân trên tờ giấy, về lý, về thế, về địa hình, phần nhiều làm không được”.
    Vua nói : “Lời bàn của đình thần là phải, lời Kim Hoán bày tỏ cũng là lòng thành lo nghĩ, nhưng kiến thức một mình có hạn, nên không biết lời nói của mình không đúng khớp. Triều đình đương cần tìm lời nói hay, dẫu người kiếm củi cắt cỏ cũng còn đòi hỏi đến, lọ là quan ở triều đình. Từ nay phàm các quan đều phải thể tất ý trẫm, có việc nên nói thì nên hết ý nghĩ xa mà bày tỏ hết ra, chớ vì một lời nói không hợp mà nản lòng”.
    Khâm phái thanh tra Nội vụ là bọn Trương Minh Giảng thấy ở kho chứa có cái ấn “Kính thiên ngân bảo”, đem tâu lên.
    Vua bảo Phan Huy Thực rằng : “Bên cạnh cái ấn ấy có khắc chữ “Tân dậu mạnh thu tạo”, hoặc giả là của Ngụy Tây chăng ? Tục có kiêng kỵ về hành niên nên có chữ “mạnh thu”. Bèn sai tính thì đúng vào đời Nguyễn Quang Toản. Bèn huỷ đi.
    Trước kia người Phú Lãng Sa là Nguyễn Văn Chấn dâng 2 cái ống nhòm bằng đồng của Tây dương, gọi là ống nhòm mặt trời. Vua để một cái ở trong cung, một cái cho Khâm thiên giám, chưa có ai biết dùng. Vua từng khi rỗi đem xem biết được cách xem, gọi Phan Huy Thực và Nguyễn Danh Giáp bảo rằng : “Cái ống nhòm này, để bằng, để lệch, để cao, để thấp, độ số khác nhau, gần thì đo được núi non, xa thì xem được trời đất, rất là diệu”. Bèn chỉ vẽ cặn kẽ cho họ tự biết suy xét.
    Đặt binh Giáo dưỡng ở thành Gia Định. Thành thần tâu rằng hơn 300 người con quan võ trong hạt tình nguyện do thành chi lương để thao diễn, theo như lệ binh Giáo dưỡng ở Kinh sư. Vua nói rằng : “Triều đình lập pháp vốn muốn gây dựng nhân tài để ngày sau dùng. Nay bọn ấy nhà nghèo đường xa không thể đến Kinh được, dẫu không hợp lệ, tình cũng đáng thương, đặc cách cho làm binh Giáo dưỡng ở Gia Định (chia làm hai ban, những người được tập ấm vẫn theo lệ chi bổng, ngoài ra những người đương ban thì đều cấp cho mỗi tháng tiền 1 quan, gạo 1 phương). Sau này có ai xin nữa cũng đều cho”.
    Sai Thống chế Thuỷ quân là Nguyễn Tài Năng coi đóng một chiếc thuyền kim đĩnh [thuyền đồng], 4 chiếc thuyền mộc đĩnh [thuyền gỗ].
    Ty thuộc của Văn thư phòng bỏ ban không trực, giao xuống bộ Lại nghiêm bàn. Hoàng Kim Hoán và Lê Đăng Doanh xin chiếu luật “phải trực mà không trực” phạt 20 roi. Vua giận ném tờ tâu xuống đất nói rằng : “Bọn ngươi sợ Văn thư phòng à ! Nó ở bên tả hữu trẫm mà dám khinh nhờn trễ nải, nếu ở phủ huyện còn đến thế nào. Bọn ngươi là quan to trong nước, giữ lòng công trung dứt bỏ tư ý, sao lại có chỗ thiên vị ?”. Kim Hoán và Đăng Doanh rập đầu tạ. Vua nguôi giận, phạt Kim Hoán và Đăng Doanh mỗi người 2 tháng bổng, mà phạt người bỏ trực 60 trượng.
    Vua từng bảo Hoàng Kim Hoán, Lê Đăng Doanh, Bùi Đức Minh rằng : “Thưởng phạt là quyền lớn của vua, nếu có một việc không công thì sao gọi là chính trị được. Vừa rồi đình thần tâu về các đơn kiện, có người đáng phạt roi, đến khi bộ Công xét nghĩ tâu lại thì xoá bỏ đi, trẫm cho là việc chưa làm, tạm khoan tha cho, từ sau đều nên cẩn thận”.
    Lại bảo bọn Văn thư phòng Thân Văn Quyền, Phan Đình Sĩ rằng : “Từ sau đóng ấn vào chương sớ nên lấy bản thảo ngự tiền mà so sánh, có thấy sai khác thì xét tâu lên. (Đường quan các nha môn thường trước mặt vua thảo dụ chỉ, đọc lên rồi tuân hành).
    Lấy Cai đội thự Phó vệ uý là Nguyễn Văn Tình làm Cai cơ thự Phó vệ uý, vẫn quản lĩnh các đội Dực võ, kiêm quản ngư hộ và hành tẩu ở xứ Ngân bài thị vệ, Cai đội Trương Viết Suý làm Cai cơ thự Phó vệ uý vệ Giám thành, Nguyễn Văn Xuân làm Cai cơ thự Phó vệ ý vệ Võng thành.
    Lấy Thiêm sự Lại bộ là Hoàng Văn Đản làm thự Hiệp trấn Hưng Hoá, Tham hiệp Bắc Ninh là Hoàng Văn Tú làm thự Hiệp trấn Bắc Ninh, Thiêm sự Binh bộ là Nguyễn Tú làm thự Hiệp trấn Quảng Ngãi, Lang trung Hình bộ là Lê Hữu Đức làm Thiêm sự Hình bộ, sung biện Hình tào Gia Định.
    Tha giảm thuế ruộng vụ đông năm ngoái bị hạn cho các trấn Định Tường, Sơn Nam, Sơn Tây, Bắc Ninh và Hải Dương.
    Trước đây, các trấn tâu đệ án khám ruộng bị tai, bộ Hộ đương bàn tha giảm thì trấn Định Tường đã khiến dân nộp thuế xong. Bèn sai chiếu số thuế được giảm để trừ vào vụ thuế cuối năm, mà phạt bổng các trấn thần.
    Sai phủ Thừa Thiên mộ 30 người dân ngoại tịch làm thuộc lệ ở Quốc tử giám.
    Vua thấy sáu trấn ngoài ở Bắc Thành tiền thóc ở kho hiện số không có mấy, muốn chứa cho sẵn, nên dụ thành thần hết lòng trù biện, cho mỗi hạt thường chứa 10.000 hộc thóc và 20.000 quan tiền trở lên, bàn kỹ tâu lên. Đến bấy giờ lời bàn dâng lên, vua lại sai bộ Hộ bàn lại : Duy có Thái Nguyên kho chứa hơi dồi dào, còn 5 trấn Quảng Yên, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng và Hưng Hoá, thuế má thu trong một năm, đem chi tiêu trong một năm, thừa không được mấy, xin cho tiền thuế cửa quan, bến đò của các trấn lệ nộp ở thành thì nộp ở trấn, và thóc nộp với thuế vụ đông, nếu vẫn chưa đủ thì dời tiền thóc ở những hạt phụ cận đến mà chứa ; sau khi kho chứa đã đầy đủ thì lại theo lệ trước. Nếu có khi chi phí rộng, mà kho chứa thóc không đủ 10.000 hộc, tiền không đủ 20.000 quan thì lại chiếu nghị mà làm.
    Vua theo lời bàn ấy.
    Đúc lại ấn trường thi Bắc Thành. (ấn trước hơi to, đổi lại cho bằng các trường khác).
    Lấy Thượng thư Hộ bộ là Lương Tiến Tường quyền kiêm ấn triện Binh bộ.
    Lấy Lang trung Vũ Khố là Đoàn Văn Kiệt thăng thự Thiêm sự biện lý cục Tạo tác Bắc Thành, Lang trung Lại bộ là Mai Phước Nhuận thăng thự Thiêm sự Hộ bộ lĩnh cục Bảo tuyền.
    Ban the lụa cho các Hoàng tử tước công, Trưởng công chúa và các công tử, công nữ, theo thứ bậc.
    Ác man ở nguồn Hà Duy trấn Phú Yên cướp giết dân ngoài biên ; Bát phẩm bá hộ ở bảo Thạch Lĩnh là Lê Văn Nhật bắt được hơn 10 người. Việc tâu lên. Cho Nhật làm Chánh thất phẩm thiên hộ, và thưởng 200 quan tiền. Trấn thần là bọn Phan Văn Thể vì phái uỷ được người đều được thưởng kỷ lục một thứ.
    Vệ uý vệ Gia võ ở Gia Định là Vũ Văn Chinh coi chở bè gỗ từ Gia Định đến Kinh, lại sai chở 150.000 quan tiền ở kho Kinh đem về Gia Định. Có Chánh quản cơ Thuỷ quân là Nguyễn Văn Vân nhận cho bọn tiểu sai gửi chở nhờ gỗ ván, việc phát ra, vua bảo bộ Hình rằng : “Việc vận tải đường biển, sóng gió nguy hiểm, khó nhọc rất mực, chỉ vì gỗ ván nhà nước cần dùng bất đắc dĩ phải chở, người vâng làm phải thận trọng, sao lại có thể mưu lợi riêng ! Nếu không nghiêm phạt thì lấy gì răn bảo ?”. Bèn giáng Vân làm Đội trưởng, tiểu sai là Nguyễn Văn Pháp, Mai Đức Hiến thì phạt mỗi người 100 trượng, phát đi làm binh ở cơ Định man đạo Cam Lộ.
    Thống chế Thuỷ quân là Nguyễn Văn Hạnh coi chở 150.000 quan tiền ngụy ra Bắc Thành, rồi chở vật hạng về, thuyền qua phần biển Vũng Chùa (thuộc tỉnh Quảng Bình), bị bão chìm mất 16 chiếc. Hạnh phải giáng một cấp, không cho xét trừ, những Vệ uý phân quản thì Phan Văn Huân giáng làm Đội trưởng, giao cho Nghệ An sai phái, Nguyễn Bá Tình cách chức, giao cho Thuỷ quân để gắng sức chuộc tội. Hộ bộ và Tào chính nhân tâu rằng : “Lệ từ trước thuyền vận tải Bắc được cấp gạo thuê mướn, sai đổi cấp bằng thóc, cho lĩnh trước ở chỗ phát tải mà đem bán lấy lời ; nhưng đến kỳ vận tải nhiều thuyền bị đắm vỡ, có người lại nhân gió bão mà làm bậy, nếu cứ vì gió bão mà tha cho thì không những kẻ ranh mãnh được thi thố mánh khoé, mà của nhà nước cũng không nên hư phí như thế. Từ nay đi biển nếu gặp bão to mưa dữ kéo dài, thực sức người không thể chống được, thì phải có quan sở tại khám xét tâu lên để đợi chỉ. Còn mưa gió mạnh tầm thường mà không chịu
  • Chia sẻ trang này