0059.064 - @da.nguyen (done Wiki)

6/2/16
0059.064 - @da.nguyen (done Wiki)
  • chống chọi, cùng là đi đỗ trái thời mà đến hỏng việc, thì của công bị mất phải chiếu số đền bồi, mà vẫn chiếu luật trị tội. Số phải đền bồi thì trước bắt ở người trong thuyền, nếu không đủ thì bắt ở người trong bang, nếu lại không đủ thì bắt ở các bang, đều cứ giá thuê mướn mà trừ đền, hết số ấy vẫn không đủ thì phải tịch thu để trừ cho đủ. Như thế thì việc vận tải đường biển sẽ thận trọng thêm mà bọn kia cũng biết răn sợ”.
    Vua khen phải, sai ghi làm lệ.
    Sông Vĩnh An ở trấn Vĩnh Thanh vỡ bờ, nhà dân bị ngập đổ 20 nhà, có người chết đuối. Trấn thần cho là không có lệ phát chẩn, sai quan huyện bỏ tiền gạo riêng cấp cho dân. Thành thần đem việc tâu lên. Vua dụ rằng : “Đấy tuy không phải là việc mưa lụt bất thường, nhưng cũng vì nước sông xói dữ mà thành tai hại. Trấn thần mắt trông thấy tình trạng dân bị tai nạn, nếu có thể tự bỏ lương của mình để giúp cho dân thì cũng là tốt, sao lại bắt người chức thấp lộc ít làm việc ấy ? Vậy truyền chỉ quở, lại cấp cho mỗi nhà 2 quan tiền 1 phương gạo, cho người chết 3 quan tiền, những tiền gạo của quan huyện phát ra thì trả lại”.
    Bọn Kinh lược biên vụ Phan Văn Thuý mới đến Nghệ An, cho là tin tức quân Xiêm còn xa, quân ta chưa nên khinh động, sai Cai đội vệ Phấn võ là Nguyễn Trọng Thai đi đến bản Triệu Sần hỏi thăm và yên uỷ người Vạn Tượng. A Nỗ thấy Thai đến rất mừng, phước thư nói quân Xiêm sắp đến Lạc Hoàn, xin cho đem quân đến bảo hộ. Bọn Thuý bèn bàn chia phát binh và voi, sai Nguyễn Văn Xuân và Lê Văn Hoan tiến đóng ở Kỳ Sơn, Đoàn Văn Trường tiến đóng ở Quy Hợp, Nguyễn Công Tiệp biện lý quân lương. Thuý cùng Trần Lợi Trinh ở lại trấn Nghệ An đợi báo tin và đem việc tâu lên.
    Vua dụ rằng : “Vạn Tượng hèn nhát như thế, đã là uỷ mị không hăng hái được, nhưng không biết người nước ấy còn có lòng suy tôn không ; những bầy tôi đi theo còn có mưu thần mãnh tướng hăng hái khảng khái có thể giúp việc không ? Ấy đều là những điều rất quan trọng ngày nay, kíp nên xét thực tâu ngay để trẫm trù liệu”. Bọn Thuý liền tâu rằng : “Dân Vạn Tượng phần nhiều vui theo nước Xiêm, các bề tôi đi theo không có ai cùng bàn tính được”. Vua nói : “Lòng người đã tan rã, không phục hưng được”.
    Phan Văn Thuý, Trần Lợi Trinh, Nguyễn Công Tiệp tiến quân đến đóng ở Quy Hợp. Thám tử về nói rằng quân Xiêm đã qua sông Khung Giang sang phía Bắc, đóng quân ở Lạc Hoàn, lùa dân về Mục Đa Hán. Bọn Thuý bèn dẫn binh tiến nữa, đem việc tâu lên.
    Vua dụ rằng : “Lạc Hoàn là cống Man của ta, sao để cho người ngoài xâm nhiễu được ; nhưng nay tin tức cõi biên chưa được xác đáng, bọn ngươi nên sai người đến Lạc Hoàn đưa thư cho tướng Xiêm, bảo cho họ biết lẽ phải trái, khiến họ tự lui quân ; nếu họ bắt sứ của ta, càn rỡ gây chiến, thì chạy tâu ngay. Điều quan trọng đạo hành quân là nên cẩn thận, mà tự ta không gây hấn trước, đó là thượng sách”. Bọn Thuý sai thám tử đến thì quân Xiêm đã đi rồi. Thám tử bèn đến thành Vạn Tượng, đưa thư rồi về. Tướng Xiêm cũng phước thư không dám cãi biện.
    Đoàn Văn Trường từ Quy Hợp tiến đến Ba Động. A Nỗ nghe quan quân đến, lại về ở Ba Động.
    Ở 5 trấn nội của Bắc Thành cùng phủ Hoài Đức gạo đắt ; cho hoãn thuế vụ chiêm cùng thuế thiếu năm trước đến vụ mùa sẽ thu.
    Thự Hiệp trấn Tuyên Quang là Phạm Gia Tứ là người hèn kém, công việc nhiều khi trễ hỏng, trước vâng lệnh gọi về Kinh, đến nơi vua sai đình thần xét nghiệm, bèn cho Tứ lấy nguyên hàm giáng hai cấp về làng hưu trí.
    Đặt một Chủ bạ và mười thuộc lại ở đạo Cam Lộ trấn Quảng Trị, theo viên Quản đạo để thu cống thuế các sách man thuộc đạo ấy. Trước kia lệ đặt cai hợp, thủ hợp, châu quan, cai quan, chuyên giữ việc ấy. Tự năm Minh Mệnh thứ 3 [1822] dồn bổ lính cơ Định man, hằng năm tạm phái đi thu thuế mà thôi. Đến nay mới sai dinh thần chọn trong cơ lấy những người làm việc được mà đặt làm Chủ bạ và thuộc lại mà xoá tên trong sổ lính.
    Sai bọn Văn thư phòng là Lê Nguyên Đán đi thuyền hiệu Thanh ba sang
    Quảng Đông làm việc công.
    Tham hiệp Cao Bằng là Hoàng Đa Trợ tuổi già về hưu ; lấy Thiêm sự Hộ bộ là Trần Văn Chiêu làm Tham hiệp Cao Bằng.
    Cho Hữu Thị lang Hình bộ là Lê Đại Cương làm thự Hữu Tham tri Hình bộ, Hữu Thị lang Binh bộ là Lê Văn Đức làm Tả Thị lang Binh bộ.
    Cho Nguyễn Kim Bảng làm Tả Tham tri Hình bộ, vẫn kiêm quản Tào chính, Nguyễn Khoa Minh làm Hữu Thị lang Hộ bộ, vẫn quyền biện Hộ tào Bắc Thành, Vũ Xuân Cẩn làm Hữu Thị lang Hình bộ, vẫn lĩnh Hình tào Bắc Thành, Trương Minh Giảng làm Hữu Thị lang Binh bộ, Trần Danh Bưu và Vũ Quýnh làm Thiêm sự Hình bộ.
    Sai bộ Binh truyền dụ rằng phàm người huyện Tống Sơn trú ngụ ở các địa phương, hằng năm đến kỳ tháng 4 đều cứ thực số báo cáo quan sở tại làm sổ để sẵn mà chọn bổ vào các vệ đội.
    Thăng Tri huyện Kim Động là Nguyễn Nhân Lý làm Tri phủ Thiên Trường. Lý làm quan thanh liêm siêng năng, lại dân tin phục, bọn Kinh lược Nguyễn Văn Hiếu hỏi thăm được sự trạng tâu lên. Vua khen, nên có mệnh ấy. Đến lúc Nhân Lý đến Kinh, được dẫn vào ra mắt, vua hỏi rằng : “Người ta khen ngươi thanh liêm, cần mẫn, ngươi có biết không ?”. Lý tâu rằng : “Thần ở huyện lỵ vẫn sợ tội, nên ngày đêm chỉ sợ không làm nổi việc, người ngoài khen ngợi thế nào thần không biết”. Vua nói rằng : “Kinh lược sứ nói ngươi giỏi, trẫm cho thăng để nên người lương lại. Ngươi biết giữ phép theo công, một lòng trong sạch, thì khuyên người có công nêu người tài giỏi đã có phép thường, nếu không được như thế thì phép triều đình không có riêng ai, ngươi nên cố gắng và cẩn thận”.
    Quan Bắc Thành tâu xin trích ra hơn 60 thớt voi đóng thú chia đi đóng ở các trấn Sơn Nam, Nam Định, Hải Dương, Sơn Tây, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Hưng Hoá, cùng ở đồn bảo các phủ, để sai phái bắt giặc. Vua y cho.
    Lấy Phó vệ uý vệ Diệu võ quân Thần sách là Nguyễn Văn Chi làm Vệ uý vệ Tráng võ.
    Dựng lại mộc xưởng (24 toà 316 gian).
    Bọn Kinh lược sứ Nguyễn Văn Hiếu tâu rằng : “Dân hai trấn Sơn Nam, Nam Định trước bị giặc tàn phá, trong đó có 35 xã thôn trang trại thuộc các huyện Thiên Thi, Phù Dung, Hoài An, Chương Đức, Giao Thuỷ, Vũ Tiên, Thư Trì, Thụy Anh, Phụ Dực, Quỳnh Côi và Diên Hà tàn hại rất dữ, dẫu ruộng chưa bỏ hoang hết, dân chưa xiêu tán hết, mà túng đói quẫn bách, không thể chịu nổi, nếu đợi đến xiêu tán mới bàn rộng hoãn thì ngày sau vỗ về chiêu tập khó có hiệu quả. Sao bằng cứu chữa trước cho dân được yên ở làm ăn, không phải xiêu tán, thì việc làm một nửa mà công gấp đôi”.
    Vua cho lời tâu là phải, sai tha thuế năm ấy, và những binh dao tạp dịch bỏ thiếu từ năm trước đều cho hoãn cả.
    Sai Hữu thống chế Thị trung là Trần Văn Cường kiêm quản Ngân bài thị vệ, cùng các đội Trung hầu, Nội hầu, Tả Hữu hầu, Trung hầu nhất, Chưởng cơ Nguyễn Tăng Minh kiêm quản hai đội Ngân thương và kiêm lĩnh các đội Tiểu sai, Dực cường, Dực nhuệ, ứng sai, Phó vệ uý Nguyễn Đắc Suý kiêm quản ty Hành nhân.
    Lấy Phó vệ uý vệ Long võ hậu là Lê Thuận Tĩnh làm Viện sứ viện Thượng trà, vẫn kiêm quản vệ Long võ và các đội Tài hoa, Việt tường.
    Quan Bắc Thành tâu rằng : Sở Dưỡng tế ở các trấn và phủ Hoài Đức trong hạt thành, phàm có những người goá vợ, goá chồng, mồ côi, không con và tàn tật không chỗ nhờ ở đấy thì đã cấp tiền gạo đầy đủ (mỗi người mỗi ngày cấp cho 20 đồng tiền và nửa bát gạo), người không ở luôn đấy thì thôi không cấp ; có người ốm chết thì xin chiếu lệ quân lính và người đi đường mà cấp tiền vải để chôn. Vua y cho.
    Ngoài biển Thừa Thiên có một chiếc thuyền giặc đón cướp thuyền buôn rồi kéo buồm đi thẳng.
    Vua nghe tin ngạc nhiên, sai bọn Phó vệ uý Đoàn Dưỡng đem binh thuyền đuổi bắt. Lại cấp cho các trấn thủ Thuận An, Tư Dung, Chu Mãi, Vân Quan, mỗi nơi một chiếc thuyền sai tuần dương.
    Triệu bọn Kinh lược sứ Nguyễn Văn Hiếu, Hoàng Kim Xán, Thân Văn Duy về Kinh phục mệnh. Lại dụ rằng : “Bọn ngươi kinh lược hai trấn Sơn Nam, Nam Định, công việc vỗ yên dần đã đâu vào đấy, cũng toan sai đi khắp Bắc Thành xét hỏi những điều đau khổ của dân để tỏ ý thương yêu tất cả, nhưng nghĩ tình hình đau khổ của các địa phương không đến nỗi như Sơn Nam, Nam Định, trước đã sắc bảo các địa phương để lòng vỗ nuôi, chắc đã được chu đáo, nếu còn mối khổ cũ chưa khỏi, điều u ẩn chưa rõ thì đã có quan thành, không phải triều đình coi chỗ nọ chỗ kia hơn kém nhau đâu”.
    Bọn Hiếu đã đến Kinh. Vua thấy việc kinh lược được nhiều điều đúng khớp, yên ủi hồi lâu, sai bộ Lại bàn thưởng hậu. Rồi thăng Nguyễn Văn Hiếu làm Đô thống chế Tả dinh quân Thần sách, vẫn lĩnh Trấn thủ Nghệ An, Hoàng Kim Xán làm Thượng thư Hình bộ, Thân Văn Duy làm Hữu thị lang Hình bộ, đều thưởng gia 1 cấp ; các quan thuộc theo làm việc đều thưởng cho bạc tiền theo thứ bậc.
    Tháng 6, vua ban sâm quế cho các quan văn võ từ ngũ phẩm trở lên.
    Cấp tiền thờ cúng cho miếu nhà Lý.
    Vua dụ rằng : “Đế vương các đời nước ta, chính thống cùng nối nhau, đời nào cũng đặt phép tắc, cho nên việc tôn kính sùng tự của nhà nước rất là long trọng, chi phí cỗ bàn hằng năm đã có lệ nhất định. Vừa đây chuẩn theo lời đình thần bàn thêm bớt phu miếu, đó là cân nhắc theo nghĩa lý nên làm thế, không phải có hậu bạc đâu. Duy nghĩ miếu nhà Lý thờ cả tám vua, không giống miếu thờ riêng một vị, vậy mỗi năm cấp cho 100 quan tiền thờ cúng, lấy năm Minh Mệnh thứ 9 [1828] bắt đầu”.
    Đặt thêm lại dịch ở kho Kinh (trước đặt Bát cửu phẩm thư lại mỗi chức 2 người, nay thêm 4 Bát phẩm, 6 Cửu phẩm). Bộ Hộ cho là kho Kinh lắm việc, thiếu người làm việc nên xin thêm.
    Vua nói : “Chức Chủ thủ kho Kinh từ trước đến giờ tuỳ việc mà đặt, vốn không có người nhất định, cho nên cẩu thả tắc trách, nhiều tệ sinh ra. Vả lại người và việc xứng nhau mới không bỏ việc, không phải là so tính số người nhiều ít đâu”. Bèn cho đặt thêm.
    Truy tặng chức hàm Chánh tam phẩm cho công thần Vọng Các là Khâm sai thuộc nội Cai đội Nguyễn Văn Trị. (Trị là người Bình Dương trấn Phiên An).
    Quân thứ kinh lược ở Nghệ An nhiều người ốm.
    Vua nghe tin bảo bộ Hộ rằng : “Nghệ An là nơi lam chướng, hành quân vào tháng nắng, lòng trẫm rất thương. Nên truyền dụ cho trấn thần mua nhiều thuốc men và phái thầy thuốc đến điều trị ngay". Lại phát 10 lạng kỳ nam, 2 cân bạch đậu khấu, dầu bạc hà, đinh hương và quế, thuốc viên tô hạp, thuốc bánh “Vạn bệnh giải độc” ở kho nội đem gấp ra cho. Lại thấy đường sá xa xôi, lương quân cần mang nhẹ, phát 10.000 lạng bạc ở kho Kinh sai quân đưa đến để chi cho quân (cứ 3 người mỗi tháng chi 1 lạng bạc).
    Tù trưởng Trấn Ninh là Chiêu Nội quy phục. Trấn Ninh nguyên trước thuộc bản đồ nước ta, đời Gia Long mới đem đất ấy cho nước Vạn Tượng. Đến nay Quốc trưởng Vạn Tượng chạy ra ngoài, nước Nam Chưởng nhờ thanh thế quân Xiêm, thừa cơ đến lấn, dân Man rối loạn. Gặp thám tử của ta đến, Chiêu Nội muốn mưu trở về, nhân xin tiến quân để ngăn xâm lược. Phan Văn Thuý sai Trần Lợi Trinh đến Kỳ Sơn họp cùng bọn Nguyễn Văn Xuân và Lê Văn Hoan mà tuỳ nghi điều độ. Tờ tâu vào. Vua bảo bầy tôi rằng : “Trấn Ninh đã cáo cấp, nếu quân ta không đến sớm, chúng nó nghe gió thổi hạc kêu cũng đã sợ, thế tất chạy đến Kỳ Sơn, lại tốn công một phen xếp đặt ; chi bằng nhân thế mà giữ đất vỗ dân, vừa để yên lòng dân mới phụ, vừa để át khí thế người Xiêm”. Bèn dụ bọn Nguyễn Văn Xuân, Trần Lợi Trinh, Nguyễn Văn Hoan, đem biền binh đến đóng giữ ngay Trấn Ninh. Bọn Xuân sai Vệ uý vệ Nghiêm võ là Tạ Quang Cự và Phó vệ uý vệ Tuyển phong trung là Nguyễn Văn Linh đem 600 quân đi trước, và tâu rằng từ Kỳ Sơn đến Trấn Ninh núi khe hiểm trở, vận tải không tiện.
    Vua dụ rằng : “Trấn Ninh đã thực lòng quy phục, triều đình nhân đó mà nhận, danh nghĩa rất chính ; vả lại có thể mở bờ cõi, mạnh phên giậu của ta, cơ hội không thể bỏ lỡ, há có thể vì tính việc hơi khó mà vội giữa chừng bỏ dở à ? Vả nay bảo Lãng Điền hiện chứa muối gạo hơn 3.000 phương, chở đến quân thứ cũng tiếp tế được. Ngày dụ này đến nơi, bọn ngươi phải trước sai người bảo Chiêu Nội chuẩn bị nhiều lương thực ; Lê Văn Hoan ngươi thì quản binh tượng đóng lại ở Kỳ Sơn, Nguyễn Văn Xuân, Trần Lợi Trinh các ngươi thì chọn ngay 300 tinh binh cùng một loạt tiến lên, người nào cũng mang lương và bạc mà đi ; ngày đến Trấn Ninh, trù lương ăn, sửa thành luỹ, chiêu dụ dân Kinh và người Di sở tại, hỏi rõ các sổ sách về đất đai, hộ khẩu, thuế khoá, cùng hết thảy công việc thiện hậu cho theo thứ tự mà làm, rồi tuỳ việc tâu lên”.
    Vua từng cùng bầy tôi bàn việc ngoài biên. Dụ rằng : “Trấn Ninh vốn là bờ cõi cũ của ta, xưa đức Tiên đế đem cho Vạn Tượng, không tính đến tiết nhỏ. Nay A Nỗ xiêu dạt, tù trưởng đất ấy không chỗ nương tựa, lại đem đất ấy dâng ta, thế là ta không mất một mũi tên mà được người xa thần phục, kinh lược như thế là có tiếng giỏi. Vả lại đất ấy hiểm yếu, đời Lê trước Lê Duy Mật chiếm giữ hơn 30 năm, nhà Lê không làm gì được, hình thế vững chắc như thế đấy. Nay lại về ta, thực đủ san phẳng sào huyệt của kẻ gian mà thêm phên giậu mạnh cho nước nhà”. Bầy tôi đều chúc mừng.
    Vua lại nói : “Trấn Ninh quy phục, cố nhiên là đáng mừng ; nhưng Vạn Tượng thực là khó xử. A Nỗ cùng khốn mà chạy về với ta, từ trước đến giờ giao cả cho quan ngoài biên xếp đặt, triều đình chưa có một mảnh giấy nào, nếu A Nỗ biết nghĩ, tất phải ngờ sợ. Nay trẫm muốn đưa thư yên ủi mà thực khó nói ; vả lại hiềm không đưa thư sớm nên vẫn canh cánh bên lòng. Gần đây lại nghe A Nỗ muốn theo quân ta về thành cũ, ta khước thì vô tình, mà theo ý họ đưa họ về, thì rừng núi gập ghềnh, hành quân nghìn dặm, không khỏi có sự lo ngại bất kỳ. Kế ngày nay chẳng gì bằng cứ để A Nỗ ở đấy mà tính dần, đưa thư cho Xiêm rồi sau sẽ liệu xếp đặt thì phải”.
    Phó đô thống chế Trần Đăng Long tâu rằng : “Nước Xiêm là láng giềng với ta, nay dụng binh mà không báo cho ta biết là giấu ta ; chẳng gì bằng đem kế của họ làm kế của mình, giả làm không biết, cho đưa A Nỗ về nước, quân ta đã có tiết chế, nếu gặp quân mai phục thì úp đánh mà giết đi, không chỗ nào là không lợi, can gì phải đưa quốc thư”.
    Thự Trung quân Tống Phước Lương tâu rằng : “Nước Xiêm cùng ta giao hiếu đã lâu, bây giờ đưa A Nỗ về mà không gửi thư cho họ, được đường nọ mất đường kia, không phải là kế vạn toàn, xin nghĩ kỹ lại”.
    Vệ uý vệ Phấn võ là Lê Văn Giai, Cai án Nghệ An là Nguyễn Huy Lệ, Án thủ châu Quy Hợp là Trần Văn Giá, nhân đi việc công, sách nhiễu tiền của người Man Ba Động, Phan Văn Thuý xét được thực trạng tâu lên. Bọn Giai đều phải cách chức. Sai chiếu số tang vật, tính thành bạc lạng trả cho dân Man.
    Mấy nghìn dân đói của các Man Sô Liên, Song Khả và Cổ Khẳng thuộc nước Xiêm xiêu tán đến ở phủ Bông Xuy nước Chân Lạp, hái lá cây và nấu bèo để ăn, nhiều người chết đói. Thành thần Gia Định đem việc tâu lên. Vua động lòng thương nói rằng : “Dân nước Xiêm xiêu tán đông như thế, nước Chân Lạp chứa thóc không được mấy, lấy gì giúp đỡ nhau. Trẫm thương dân như một, sao nỡ ngồi trông mà không cứu”. Bèn sai phát 4.000 phương gạo và 200 phương muối phát chẩn cho.
    Sai phủ Thừa Thiên xem dân ba huyện (Phong Điền, Hương Thuỷ, Phú Lộc) có nơi nào gọi là phường thì đổi làm ấp, để phân biệt với phố phường ở Kinh thành.
    Trong Kinh kỳ ít mưa. Sai Thị lang Hoàng Văn Diễn cầu đảo ở miếu Vũ Sư. Ngay ngày hôm ấy mưa to.
    Vua mừng bảo bộ Lễ rằng : “Đấy là việc sai phái tầm thường, không gọi là công được ; nhưng đương lúc nắng dữ mà cầu ứng ngay, có phải là ngẫu nhiên đâu”. Bèn thưởng cho Diễn kỷ lục 1 thứ.
    Đặt thêm Phủ đồng tri và Huyện thừa ở các địa phương.
    Vua thấy các phủ huyện, đinh điền có chỗ nhiều chỗ ít, công việc có chỗ phiền chỗ giản, sai hai bộ Lại, Hộ bàn kỹ, nơi nào nên đặt thêm Phủ đồng tri hay Huyện thừa thì tâu lên. Hai bộ tâu : “Cả nước có 61 phủ, 244 huyện châu ; những phủ số đinh chưa đến 20.000 người, số điền chưa đến 40.000 mẫu, những huyện số đinh chưa đến 5.000 người, số ruộng chưa đến 10.000 mẫu, công việc còn giản, thì một Tri phủ, một Tri huyện cũng đủ. Như phủ nào dẫu số đinh chưa đến 10.000, mà số điền nhiều đến 70.000 mẫu trở lên, huyện nào số đinh chưa đến 3.000, mà số điền nhiều đến 20.000 mẫu trở lên, binh dao kiện cáo, công việc rườm rà thì xin đặt thêm Phủ đồng tri và Huyện thừa để giúp việc”. Bèn chuẩn định 7 phủ là Quy Nhơn, Anh Sơn, Hà Trung, Thiệu Hoá, Thuận An, Từ Sơn và Lạng Giang đều đặt thêm Phủ đồng tri, 23 huyện là Đăng Xương, Minh Linh, Duy Xuyên, Lễ Dương, Hà Đông, Diên Phước, Bình Sơn, Mộ Hoa, Bồng Sơn, Tuy Viễn, Thạch Hà, Hoằng Hoá, Đông Sơn, Yên Định, Yên Khánh, Yên Mô, Thanh Trì, Phú Xuyên, Nam Chân, Chân Định, Thư Trì, Yên Lạc, Tứ Kỳ, đều đặt thêm Huyện thừa.
    Vua sai đình thần chọn người để bổ. Đến lúc tờ tâu dâng lên, vua bảo Văn thư phòng rằng : “Đình thần là chân tay tai mắt của trẫm, đã uỷ cho tuyển cử, nếu lại chuyên giữ việc định đoạt thì hoá ra độc đoán à !”. Đều theo như tâu.
    Người An Phước trấn Bình Thuận là Nguyễn Văn Liễu bé mồ côi cha, thờ mẹ đủ lễ, ăn uống đều quỳ xuống để dâng, mẹ chết, làm nhà ở mả ba năm, làng xóm đều khen người có hiếu. Trấn thần cứ thực tâu lên. Vua theo lời bộ Lễ bàn, thưởng cho 30 lạng bạc, đoạn lần trong lần ngoài đều 2 tấm, cấp cho biển “Hiếu thuận khả phong” để nêu khen.
    Đô thống chế Tiền dinh quân Thần sách là Nguyễn Văn Trí chết. Trí trải theo việc đánh dẹp, tài giỏi công lao rõ rệt. Vua tiếc lắm, nghỉ chầu 1 ngày, tặng chức Chưởng dinh, cho thụy là Nghị Võ, sai quan đến tế, cho thêm 1.000 quan tiền, 3 cây gấm Tống, 10 tấm lụa, 30 tấm vải, 50 cân sáp, 50 cân dầu.
    Sai thự Tiền quân Trần Văn Năng quyền quản ấn triện Tiền dinh quân Thần sách, Phó đô thống chế Hậu dinh quân Thần sách là Trần Đăng Long hiệp đồng với Nguyễn Kim Bảng kiêm quản Tào chính.
    Lấy Trấn thủ Quảng Yên là Nguyễn Đăng Khánh làm Trấn thủ Sơn Nam, nguyên thự Trấn thủ Tuyên Quang là Lê Huy Tích làm Trấn thủ Quảng Yên, Chưởng cơ Thống quản thập cơ Uy thắng của Hậu quân quyền lĩnh Trấn thủ Sơn Nam là Đặng Hữu Chất về thành cung chức.
    Triệu Chưởng cơ lĩnh Trấn thủ Định Tường là Đỗ Quý về Kinh. Lấy Trấn thủ Phú Yên là Phan Văn Thể làm Trấn thủ Định Tường, Vệ uý vệ Tiền bảo nhất Tiền quân là Nguyễn Văn Hợp làm Trấn thủ Phú Yên.
    Quan thành Gia Định tâu rằng có người nước Thanh ở hạt thành đóng thuyền vượt biển và thuê mướn đại dịch(() Đại dịch : thuyền tư nhà nước dùng về việc vận tải để thay dao dịch, gọi là thuyền đại dịch.) thuộc thành xin chở gạo và hàng hoá đến bán từ Bình Thuận trở ra Bắc, lại xin theo lệ thuế thuyền buôn nước Thanh mà chở hàng hoá sang nước Thanh.
    Vua sai Tào chính và Thương bạc bàn tâu, cho là : “Đã có điều nghiêm cấm thuyền buôn nước ta chở trộm thóc gạo đi bán mà bọn buôn gian mưu lợi còn gian lậu ngoài pháp luật, huống là người Thanh giảo hoạt nhiều cách, hoặc bề ngoài mượn cớ thông thương với nước ta mà thầm ước bọn lái buôn người Thanh ở chỗ đầm sâu đảo vắng, cùng đổi chác với nhau, hoặc đi thẳng về nước Thanh, ai biết đâu mà tố giác, không thể không nghiêm phòng được. Vậy xin phàm những người Thanh ở Gia Định muốn thông thương từ Bình Thuận trở ra Bắc thì chỉ cho chở hàng hoá, cấm không được chở gạo ; nếu có chở trộm gạo mà quan địa phương và tấn thủ bắt được, thì thu những gạo và hàng hoá của chủ thuyền để thưởng ; người địa phương bắt được, hoặc tố cáo ra cũng thưởng như thế ; kẻ phạm tội phạt 100 trượng, đóng gông 2 tháng. Ai biết mà cố ý tha cũng phải tội như người phạm. Nếu địa phương sở tại không khám bắt được mà để người khác bắt được, thì quan địa phương phải giáng 1 cấp lưu, viên thủ ngự phải giáng 4 cấp điệu. Ai ăn của đút mà cố ý tha thì chiếu luật uổng pháp mà xử nặng. Người bắt đó được thưởng như lệ. Còn như việc chở hàng hoá sang nước Thanh thì xin cấm không cho”.
    Vua cho lời bàn là phải.
    Cho Lê Thuận Tĩnh làm Vệ uý vệ Long võ hậu lĩnh Viện sứ viện Thượng trà, vẫn kiêm quản các đội Tài hoa, Việt tường.
    Triệu Đô thống chế Hữu dinh quân Thần sách lĩnh án trấn Thanh Hoa là Tôn Thất Dịch về Kinh ; lấy thự Phó tướng Hậu quân Ngô Văn Vĩnh lĩnh Trấn thủ Thanh Hoa.
    Đổi bổ Tri bạ Tiền tiệp của Tả quân là Dương Tiến Tại làm Cai đội. Tại trước có chỉ do bộ dẫn vào ra mắt, lúc vào chầu, vua hỏi nhiều điều không trả lời được, vua bảo Lê Đăng Doanh rằng : “Vương giả dùng người như dùng đồ vật, đều lấy theo sở trường, thì ở dưới không có tài nào bị bỏ. Tại học ít, cho làm giấy tờ chưa hẳn làm nổi. Hắn trước ở Hải Dương đã theo Phạm Văn Lý đi đánh giặc, chắc đã thạo việc quân, nên đổi làm Chánh ngũ phẩm Cai đội, đợi khuyết Vệ uý sẽ bổ thì phải”.
    Vua thích xem sách, một hôm xem khánh điển Bát tuần vạn thọ của vua Càn Long nhà Thanh, thấy các bài thơ “Tinh thần” và “ít ngủ” của vua Cao tông ngự chế có nhiều ngụ ý kính trời chăm dân, nhân sai Văn thư phòng chép ra để bên cạnh chỗ ngồi.
    Làm trại lính cho hai vệ Long thao, Hổ lược. Vua nghĩ hai vệ ấy đi xa làm việc khó nhọc, sai chiếu lệ thưởng Kinh binh mà cấp cho gấp đôi.
    Khởi phục Nguyễn Văn Lượng làm Hiệu uý vệ Cẩm y, hiệp cùng Phó vệ uý vệ Tín trực là Đào Văn Nghị giữ đài Điện Hải, kiêm quản pháo đài Định Hải ; Nguyễn Văn Hưng thì đổi ra Bắc Thành, theo Hình tào ra sức chuộc tội (Lượng trước làm Trấn thủ Hoà Bình, Hưng làm Hiệp lý, vì vỗ yên chống giữ ác man không có kết quả, đều phải phát đi làm binh ở cơ Định man đạo Cam Lộ).
    Đổi đúc ấn bạc và kiếm ngà cho sáu bộ. (Trước dùng ấn bằng đồng, khắc chữ “Mỗ bộ đường chi ấn” và triện nhỏ “Khâm ty”), đến nay đúc lại ấn khắc chữ “Mỗ bộ chi ấn”, kiềm thì khắc chữ “Mỗ bộ”. Cho lấy mồng 1 tháng 8 ban hành.
    Thự Hiệp trấn Vĩnh Thanh là Vũ Huy Đạt có tội phải miễn chức. Đạt uổng pháp tham tang, bị thuộc liêu tố giác, thành thần Gia Định đem việc tham hặc tâu lên. Đạt bị cách chức để tra hỏi. Khi án dâng lên, tính tham tang hơn 130 lạng bạc, bị tội giảo hậu.
    Lấy thự Hiệp trấn Phiên An là Nguyễn Duy Cần làm Hiệp trấn Vĩnh Thanh.
    Chủ thủ kho Kinh là bọn Đỗ Văn Tín lấy trộm gạo ở kho, việc phát giác, bộ Hình tâu rằng theo phép thì đáng tội lưu. Vua nói rằng : “Nhà nước đặt pháp luật, bắt tội không cứ tội nhỏ. Các án trước về kho Kinh đương xét mà lũ kia không biết sợ, khinh pháp luật quá lắm, xử tội lưu chẳng nhẹ quá sao !”. Bèn đổi xử trảm hậu. Đường quan bộ Hộ thất sát đều bị giáng chức.
    Người dân trong ngoài kinh thành có người mắc bệnh dịch, Phủ doãn Ngô Phước Hội đem việc tâu lên.
    Vua đoái bảo bộ Lễ rằng : “Làm chính trị cốt biết đại thể, bọn Hội là quan to chăn dân, dân có tật dịch, nặng thì tâu lên đợi chỉ điều trị, nhẹ thì lấy thuốc cấp cho rồi báo sổ tiêu, có gì là khó mà một tý cũng tâu cho rườm, sao không sợ phiền ?”.
    Lấy Lang trung Binh bộ là Bùi Phụ Đạo làm Thiêm sự Binh bộ sung biện Binh tào thành Gia Định.
    Đốc học Bình Định là Nguyễn Đạt ốm ; lấy thự Chủ sự Quang lộc tự là Nguyễn Trung Mậu làm Đốc học Bình Định.
    Sai bộ Lễ tư cho Đốc học, Giáo thụ, Huấn đạo các địa phương từ nay nên lấy kinh nghĩa bát cổ mà dạy cho học trò tập, cốt phát huy ý sách, lời văn dồi dào đẹp đẽ, chớ chuyên dùng cách thức học quy, kỳ khảo khoá cũng thế. Học trò trúng tuyển hai khoá hạ và đông thì sau kỳ khoá mùa đông gộp làm sách tâu, do bộ đề đạt, không phải làm tờ tâu như trước.
    Bắt đầu định số tiền chi tiêu việc công hằng năm cho các nha sáu bộ. Từ trước đến giờ chi tiêu việc công ở các nha đều do ty thuộc ứng biện. Vua biết hết sự tình, cho trước sáu bộ tiền đèn dầu năm nay 1.000 quan, lại chuẩn định sổ cần tiêu một năm, cấp tiền theo thứ bậc, lấy năm Minh Mệnh thứ 9 bắt đầu. (Bộ Lại 578 quan 2 tiền 24 đồng ; bộ Hộ 577 quan 8 tiền 54 đồng ; kho Kinh 336 quan 1 tiền 28 đồng ; kho Nội tàng 198 quan 5 tiền ; bộ Lễ 528 quan 6 tiền ; tự Thái thường 81 quan 9 tiền 48 đồng ; tự Quang lộc 63 quan 3 tiền 12 đồng ; bộ Binh 702 quan tiền 2 tiền ; ty Bưu chính 61 quan 3 tiền 48 đồng ; kho súng 30 quan 5 tiền ; kho thuốc đạn 36 quan 9 tiền ; bộ Hình 609 quan 3 tiền ; bộ Công 444 quan 24 đồng ; phủ Nội vụ 480 quan 9 tiền 36 đồng ; Vũ Khố 374 quan 6 tiền 12 đồng ; Nội tào 88 quan 2 tiền ; Tào chính 106 quan 7 tiền 24 đồng ; Thương bạc 67 quan 4 tiền 12 đồng ; Khâm thiên giám 61 quan 5 tiền. Tổng cộng 5.428 quan 4 tiền 22 đồng. Còn lệ cấp giấy hội, giấy long đằng, giấy sắc, ống long đồng, đều cho gặp việc thì chi lĩnh).
    Định số ty viên văn hàn thuộc phủ các Hoàng tử. Mỗi phủ đặt 1 Tư vụ,
    1 Chánh bát phẩm thư lại, 2 Tòng bát phẩm thư lại, Chánh tòng cửu phẩm thư lại mỗi chức 2 người.
    Giặc trốn ở Bắc Thành là Nguyễn Sùng (Đảng của giặc Đặng Trần Siêu nguỵ xưng là chưởng Tiền quân kiêm thuỷ bộ các đạo đại tướng quân) lẩn trốn ở hạt Quảng Yên. Tri châu Vạn Ninh là Phan Thiên Thạch đem quân đi tuần dò bắt được, giải về thành giết đi. Việc tâu lên. Thưởng cho Thạch kỷ lục 1 thứ, 50 lạng bạc, 300 quan tiền.
    Thành thần Gia Định tâu rằng các hiệu Mộc đĩnh thuộc thành số binh hơi thiếu, xin lượng giảm lệ thuế ván gỗ. Bèn hạ lệnh giảm cho 1 phần 3.
    Đặt thêm các hạng súng ở các đài Kinh thành (98 cỗ súng cùng 3 cỗ nguyên đặt ở đài Thái Bình, cộng 101 cỗ), sai biền binh đóng giữ xây nền súng và làm xưởng chứa súng, chi vật hạng mà làm.
    Chuẩn định số biền binh canh giữ cửa Địa Bình : 1 Suất đội, 2 Suất thập, 15 lính vệ Cẩm y, khí giới đầy đủ, ngày thường ở ngoài cửa cắt lượt canh giữ. Lại phái 3 người lính viện Thượng tứ với một con ngựa trực đợi ở ngoài cửa để sai phái. Ghi làm lệnh.

    :rose::rose::rose:
  • Chia sẻ trang này