0059.065

15/6/16
0059.065
  • PDF
    GoogleDocs


    :rose::rose::rose:
    Chưởng dinh lĩnh Phó tướng Trung quân hưu trí là Trương Tiến Bửu chết. Bửu là người lão thành, thực thà trung hậu, trải theo chiến trận có công. Vua thương lắm, cho 2.000 quan tiền, 5 cây gấm Tống, cấp 3 người phu mộ.
    Định lệ kén chọn tôn sinh. Vua dụ bộ Lễ rằng : “Con em tôn sinh đều là chi phái nhà vua, trẫm từ thân chinh đến giờ, để ý giáo dục, khiến cho học tập thành tài để nhà nước dùng. Vậy hạ lệnh cho Tế tửu và Học chính Quốc tử giám chọn người thuần cẩn biết nghĩa lý, không kể văn nghệ hơn kém, đều kê tên tâu lên, đợi chỉ kén dùng. Hệ trưởng các hệ lại chọn con em giỏi bổ thêm vào số tôn sinh. Từ nay lấy các năm Dần, Tỵ, Thân, Hợi, mỗi năm một kỳ kén chọn, đều chiếu lệ này mà làm”.
    Dựng trạm kinh (ở trong cửa Đông nam kinh thành).
    Hữu Tham tri Binh bộ là Hoàng Văn Quyền và Tả Tham tri Trần Quang Tĩnh có tội phải giáng. Trước là có tên lính trốn đã ba lần, ở bộ tin vào đơn của xã dân nói trốn hai lần, đáng tội giảo mà lầm tha, đến lúc việc phát giác, Quyền dụng ý giấu không tâu lên, Tĩnh cũng một mực im lặng, bị Thị lang Lê Văn Đức trích ra. Vua bảo thị thần rằng : “Không để ý là lầm lỡ, có để ý là cố phạm. Bộ Binh kiểm xét không thực, không đem việc tâu lên, lại cho giấu đi, là cố ý, không phải lầm lỡ. Giao cho bộ Hình xét bàn”. Khi án dâng lên, vua dụ rằng : “Cái án này lúc mới phát ra, trẫm hỏi tận mặt Hoàng Văn Quyền mà không chịu nói thật, đến lúc ty thuộc thú cung thì sự tình mới rõ rệt. Phàm người bầy tôi thờ vua, nên lấy thành làm đầu, nay làm cái trò dối trá ấy thì đạo làm tôi đã thiếu, còn đáng nói gì nữa”. Bèn giáng Hoàng Văn Quyền làm Thiêm sự Hình bộ, bổ đi làm việc ở Hình tào Bắc Thành ; Trần Quang Tĩnh thì giáng làm Thị lang, bắt về hưu trí. Lại vì trước đấy lĩnh Đê chính Bắc Thành, đê công ở Sơn Nam đắp không hợp cách mà không xét ra, bèn cách chức.

    chính biên
    đệ nhị kỷ - quyển XLVII
    Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế
    Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8 [1827], mùa thu, tháng 7, mồng 1. Tế thu hưởng.
    Vũ Khố bàn tâu về công việc thợ ở cục Tạo tác Bắc Thành. Vua sai bộ Hộ bàn lại. Cho là : “Thợ để làm đồ dùng, nhà nước tất phải có, mà chính sách công bằng dùng cho dân nên có phép hoạch nhất. Trong hạt thành năm đinh lấy một, số thợ lính 745 người xin dồn làm 10 hiệu, chia ban mà chi lương. Làm việc ở Kinh thì 6 tháng làm một ban, làm việc ở thành thì 4 tháng làm một ban, thuế lệ đều miễn. Thợ cục Am Hiểu số người là 920, nếu có được đòi đến Kinh thì cũng chia ban mà chi lương, thuế lệ đều miễn, nếu không thì phải chịu các thứ thuế”. Lời bàn dâng lên. Vua cho rằng các thợ tự thành đến Kinh, đường sá xa xôi, đổi cho một năm làm một ban ; Tượng cục thì vẫn theo cũ, không cho đặt làm hiệu ; còn thì đều theo lời bàn.
    Binh sĩ ở quân thứ Nghệ An càng ngày càng nhiều người ốm. Bọn Kinh lược đại thần Phan Văn Thuý đem việc tâu lên. Vua dụ rằng : “Vạn Tượng là thuộc quốc của ta, cùng khốn chạy về với ta, triều đình không nỡ ngồi xem, vì họ mà ra quân là nghĩa giúp người có nạn. Đất ngoài biên lam chướng, cảm nhiễm thế không tránh được, nếu vội vì thế mà giữa chừng bỏ dở, chẳng những phí công trù tính, mà việc làm trước là do chủ trương gì ? Vậy hạ lệnh cho trấn thần Nghệ An phái thêm thầy thuốc mà săn sóc binh sĩ. Bọn ngươi lại phải nghiêm giữ bờ cõi, dò xét cho đích xác sự động tĩnh của người Xiêm mà tâu lên”.
    Bèn phát 20 cân bạch đậu khấu trong kho nội sai Thị vệ đem cấp cho.
    Bọn Phan Văn Thuý liền sai người do thám, biết rằng người Xiêm từ khi nghe quân ta đóng áp đất thì để lại tướng là Xú Pha Hoạ Di cầm vài nghìn quân, cùng với em A Nỗ là ấp Ma Hạt đóng ở thành Vạn Tượng, còn rút về hết. Bèn đem sự trạng tâu lên.
    Vua bảo bầy tôi rằng : “Làm việc kinh lược này là lấy thanh thế mà trấn tĩnh ngoài biên. Vừa rồi quân ta mới đến Kỳ Sơn thì Trấn Ninh đã cầu nội phụ. Nay người Xiêm lại tự rút về, chưa từng lấn dân biên thuỳ của ta, quân ta được tiếng, lại thu được thành hiệu ấy, chính có thể nghỉ việc yên dân, tuỳ nghi xếp đặt. Vậy dụ cho Đoàn Văn Trường từ Ba Động rút quân, chọn 1.000 quân tinh tráng ở lại giữ châu Quy Hợp. Phan Văn Thuý thì đem đại đội binh tượng về thành tỉnh Nghệ An nghỉ ngơi”.
    Quân Nguyễn Văn Xuân và Trần Lợi Trinh đến Trấn Ninh, người Nam Chưởng cũng nghe tiếng rút trước. Tờ tâu vào. Vua dụ rằng : “Trấn Ninh tình hình đã không nghiêm cấp nữa, việc phòng bị hơi thư, nếu để nhiều quân ở đây, cảm nhiễm lam chướng lâu ngày thì ốm đau càng nhiều. Vậy nên theo dụ trước, những việc cần như sửa sang đồn luỹ thu lấy sổ sách hộ khẩu, thuế khoá, phải trong tuần nhật làm xong, lượng để lại 300 quân sức khoẻ, sai một người Quản vệ đóng giữ đất ấy. Lại hiểu dụ những man tù mới phụ để họ khỏi ngờ sợ. Bọn ngươi cùng Lê Văn Hoan đều rút về Nghệ An, cho quân nghỉ sức”.
    Cho Quốc trưởng Vạn Tượng là A Nỗ đến ở Nghệ An.
    A Nỗ ở Ba Động khẩn thiết xin nương tựa triều đình, bọn Phan Văn Thuý đề đạt lên.
    Vua bảo bầy tôi rằng : “A Nỗ trú ngụ ở ngoài, ăn sương nằm gió, tình cũng đáng thương ; vậy truyền lệnh cho Nghệ An, làm công quán ở ngoài trấn thành cho A Nỗ ở. Lại cho một đạo sắc dụ, 1.000 lạng bạc, sai Nguyễn Công Tiệp mang đến nơi và đưa A Nỗ về trấn. Ngày A Nỗ đến trấn, cho chọn một người con hay cháu đến Kinh chiêm cận.
    Khi trước A Nỗ bỏ nước chạy, em là ấp Ma Hạt không chịu theo, A Nỗ đem mẹ và 4 người con của ấp Ma Hạt cùng đi. Đến bấy giờ ấp Ma Hạt gửi thư cho con An Nỗ là Hạt Xà Bông mời A Nỗ về nước, lại xin mẹ con nó về để khỏi xiêu dạt. Tướng Xiêm là Xú Pha Hoạ Di cũng gửi thư cho A Nỗ nói đã xin lỗi vua Xiêm, vua Xiêm đã xá lỗi cho, đừng ngờ nữa. Phan Văn Thuý đem việc tâu lên.
    Vua bảo bầy tôi rằng : “Thư ấy lời lẽ hư thực dẫu chưa biết rõ, nhưng A Nỗ đã về với ta, xử trí thế nào cũng nên định sớm. Nay ấp Ma Hạt đã có thư ấy, nhân cơ hội ấy mà làm thì là trúng khớp. Vả mẹ con nó đã bị A Nỗ bắt giữ, có người khuyên trẫm bảo A Nỗ tha ra thì thế nào ?”.
    Tống Phước Lương tâu rằng : “Di Địch cũng như cầm thú, không lấy nhân nghĩa bảo được ; ấp Ma Hạt đương ghét anh nó, thì thương gì mẹ con, giữ lại cũng chẳng ích gì !”.
    Phan Huy Thực nói rằng : “Đế vương chế ngự Di Địch, vẫn cẩn thận cái thuật ràng buộc ; chẳng bằng giữ lại một nửa để cho họ còn lòng quyến luyến để ngày sau có chỗ khu xử”.
    Vua hỏi Lê Văn Đức và Nguyễn Công Trứ, đều nói như lời của Thực.
    Vua nói : “ý trẫm cũng thế. Phàm tranh thiên hạ thì không đoái đến việc nhà, nên Hán Cao tổ mới có lời nói chén canh(() Chén canh : tức là “bôi canh”, xưa Hán Cao tổ và Hạng Vũ tranh nhau thiên hạ, Hạng Vũ bắt bố Hán Cao tổ giữ ở trong quân, Cao tổ đem quân đánh, Hạng Vũ doạ mổ bố Cao tổ, Cao tổ trả lời : “Tôi với anh là anh em, bố tôi cũng là bố anh, có mổ cho tôi một bát canh”.) ; nhưng Thái công và Lữ hậu chưa về, nên chưa dám cùng với Sở tử chiến, đến khi bố và vợ đã về rồi, thì lời ước Hồng Câu(() Hồng Câu ước : Hán Sở giảng hoà, lấy Hồng Câu làm giới hạn, Hồng Câu trở về Đông là Sở, trở về Tây là Hán. Hoà ước ký xong, Sở mới trả Thái công và Lữ hậu về Hán.) không đủ tin cậy nữa. Nay ấp Ma Hạt dẫu muốn chiếm cứ Vạn Tượng, nhưng mẹ con còn xa nhau, dẫu là mọi rợ há không có tình cốt nhục ư ? Nếu cho về hết cả, nó không vướng víu gì, ngày khác xử trí cũng khó. Vậy nên dụ cho Nghệ An truyền dụ cho A Nỗ rằng triều đình sớm tối sẽ đưa về nước, nên tự xét vì cớ gì mà phải chạy, mình tự trách mình, chớ hiềm thù với em và cháu, lại càng nên khéo vỗ về thân quyến bộ lạc để ngày sau sẽ dùng. Lại nên tự viết thư rồi cho một người con ấp Ma Hạt cùng một vài người bộ lạc thân tín đem thư về, để xem động tĩnh thế nào”.
    Dụ ấy chưa đến, A Nỗ đã nói trước với quan trấn muốn cho con ấp Ma Hạt về để dò thăm sự tình.
    Vua nghe tin ấy, bảo thị thần rằng : “Trước trẫm ngờ A Nỗ không chịu tha con Ma Hạt nên dụ bảo thả cho về. Nay hắn đã biết như thế, chính hợp ý trẫm. Nếu trời không muốn nước Vạn Tượng loạn lạc, khiến ấp Ma Hạt nghĩ lại đi đón anh về, ta nhân đó gửi thư cho nước Xiêm và đưa A Nỗ về nước, thì dân ta cũng được nghỉ vai ; nếu không thế thì khó lòng tránh khỏi việc binh đao. Vả nó vốn là thần bộc nước Xiêm, nay ta thừa thế mà lấy, không phải là cách hoà hảo với nước láng giềng, sao ta lại làm thế ?”.
    Bộ lạc Man Cai xin quy phục nước ta, gửi thư nói vì nước Nam Chưởng cướp phá, xin đem quân bảo hộ, cho được cùng với Trấn Ninh làm dân ngoài biên. Bọn Nguyễn Văn Xuân đem việc tâu lên.
    Vua bảo thị thần rằng : “Nước Nam Chưởng chẳng qua nhờ quân Xiêm mà doạ nạt Man Cai, nếu nó sớm biết thanh thế quân ta thì chưa chắc đã dở trò ấy”. Bèn dụ cho bọn Xuân truyền hịch cho Nam Chưởng nói rằng Man Cai đã là thần thuộc của triều đình, những người và súc vật mà Nam Chưởng cướp lấy từ trước phải trả lại ngay”. Lại vỗ về Man Cai, khiến họ yên ở làm ăn.
    Hịch ấy đến Nam Chưởng, các tù trưởng hoảng sợ bảo nhau chớ phạm đến bờ cõi của ta, rồi gửi thư đến tạ lỗi.
    Tri phủ Hà Hoa là Phan Nhật Tỉnh làm quan tham nhũng, bị dân kiện. Tỉnh hạ mình nói khéo, dân lại thôi không kiện. Trấn thần Nghệ An đem việc tâu lên, và nói rằng : “Quan phủ huyện là gốc phong hoá, Tỉnh không giữ mình trong sạch, phải van lạy dân, còn có thể diện gì ? Dân đã kiện đến quan trên, rồi lại muốn thôi, còn có phép tắc gì ? Hai điều ấy thực có quan hệ đến phép quan tục dân”.
    Vua phê bảo rằng : “Phan Nhật Tỉnh tham lam vô sỉ, lập tức cách chức nghiêm xét ; còn kẻ tiểu dân hiếp chế quan trưởng, muốn kiện thì kiện, muốn thôi thì thôi, thói ấy không thể để lớn. Bọn ngươi xét lẽ rất sáng, thực đáng khen, cố gắng đi” !.
    án thành, Tỉnh phải tội đồ, người kiện thì phải phạt 80 trượng.
    Nguyên Tham hiệp Tuyên Quang là Nguyễn Kim Giám bị lỗi phải cách chức về quê, thường hay xui giục kiện cáo, lừa người lấy tiền. Quan Bắc Thành xét được tình trạng, chỉ tên tham tâu.
    Vua dụ rằng : “Nó là tay giỏi trong đám điêu toa, người ai cũng ghét ; dẫu về luật “điêu toa” tội không đến chết, nhưng gần đây ở thành hạt dân điêu toa điên đảo phải trái, thêu dệt kiện cáo, thậm chí tình người kiêu bạc, giặc cướp nổi lên, chưa hẳn là không bởi lũ này cổ hoặc”. Bèn sai chém.
    Dinh thần Quảng Trị tâu rằng lệ thuế sách man Cam Lộ trong hạt hằng năm phải nộp gạo nếp cẩm hơn 100 phương, nộp ở kho Kinh ; vả gạo ấy không phải là phẩm vật cung dụng, mà vận tải phiền hà, xin tính giá tiền cho nộp vào kho cho tiện.
    Vua y cho. Tự sau lấy đó làm lệ.
    Thự Hữu Thị lang Binh bộ, Biện lý Binh tào thành Gia Định là Bùi Phổ ốm ; lấy Tả Thị lang Hộ bộ là Hoàng Văn Diễn làm Tả Thị lang Binh bộ lĩnh Binh tào thành Gia Định.
    Lấy Tham hiệp Bình Định là Hoàng Công Tài làm Hiệp trấn Hải Dương, thự Tham hiệp Thái Nguyên là Ngô Bá Nhân làm Tham hiệp Bắc Ninh.
    Lấy Phủ doãn Thừa Thiên là Ngô Phước Hội làm Tả thị lang Lại bộ, Thiêm sự hiệp lý dinh vụ Quảng Bình là Đặng Đức Thiệm làm thự Phủ doãn Thừa Thiên, nguyên Thiêm sự hiệp lý dinh vụ Quảng Nam là Lê Quang làm Tham hiệp Bình Định. Phước Hội sau đổi bổ làm Tả thị lang Hộ bộ.
    Trấn thủ Nam Định là Đỗ Văn Thịnh, Hiệp trấn là Trần Chính Đức, Tham hiệp là Vũ Đức Khuê có tội bị miễn chức.
    Vua dụ bầy tôi rằng : “Ngày nọ địa phương Nam Định không yên, trẫm lấy sự tật khổ của dân làm lo, hai ba lần dụ bảo bọn Đỗ Văn Thịnh gia tâm trù tính làm việc, mà bọn kia không biết thể ý trẫm mà ra sức vâng làm, tạm đã gia ơn cách lưu để xem sau ra thế nào. Thế mà một mực mờ tối, chẳng chút bận lòng, phải đến khi phái bọn Nguyễn Văn Hiếu đến kinh lược rồi bọn lại tham ô mới không lọt lưới, đau khổ của dân mới được đến tai, bọn ấy hèn kém như thế còn mang trách nhiệm chăn dân một phương sao được. Vậy Đỗ Văn Thịnh, Trần Đức Chính thì triệt về bộ cho ra sức làm việc ; Vũ Đức Khuê là kẻ tân tiến, còn có thể thúc đẩy lên được cho giải chức về Kinh lục dùng”.
    Lấy Vệ uý vệ Trang võ là Hồ Văn Vân làm Trấn thủ Nam Định, Tham hiệp Ninh Bình là Nguyễn Hựu Nghi làm Hiệp trấn Nam Định, Thiêm sự Hình bộ là Nguyễn Nhược Sơn làm Tham hiệp Nam Định.
    Lấy Thiêm sự Hộ bộ là Hoàng Quýnh làm Tham hiệp Ninh Bình, Thiêm sự Hình bộ là Nguyễn Văn Mưu làm Tham hiệp Hải Dương, Thiêm sự Công bộ là Nguyễn Công Liên làm Hiệp lý dinh vụ Quảng Bình, Lang trung Thái thường tự là Phạm Đình Học làm Thiêm sự Binh bộ sung biện Binh tào Bắc Thành.
    Giặc trốn ở Bắc Thành là Hoàng Đình Bàng và Nguyễn Tiến Trương bị quan binh các đạo lùng bắt rất gấp. Bàng và đảng nó vài mươi người đêm đến xã Đình Ngũ (thuộc huyện Diên Hà) đòi lương. Phó quản cơ giữ bảo Ba Nông là Nguyễn Đức Trường đem binh dân đến vây bắt được. Trương trốn sang Lục Ngạn, Tham tán là Nguyễn Đức Nhuận sai binh dân chẹn bắt, bắt được ở rừng thuộc xã Hổ Lao. Thành thần đem việc tâu lên. Bàng và Trương đều bị lăng trì xử tử, đem đầu đi bêu ở các địa phương Bắc Ninh, Hải Dương, Sơn Nam, Nam Định. Thưởng cho Nhuận một thứ kỷ lục ; Trường thì đưa vào bộ để dẫn vào ra mắt, đợi chỉ cất nhắc. Binh dân bắt được Bàng thì thưởng 100 lạng bạc, bắt được Trương thì thưởng 60 lạng bạc, còn các người khác thì thưởng 700 quan tiền.
    Vua dụ thành thần rằng : “Vừa rồi thổ phỉ quấy rối, dân hoặc sợ tàn ngược mà nhiều người bị bắt hiếp phải theo. Trẫm nghĩ dân đều là con đỏ của triều đình, đạo thường sẵn có chưa từng dứt mất, cho nên khi cho quân đi đánh thì bày lời hiểu dụ. Rồi thì tướng giặc Phan Bá Vành bị giết, dân sở tại lại biết tố giác và dẫn quan quân đến bắt được đảng nó là lũ Hoàng Đình Bàng, Nguyễn Tiến Trương, lòng dân theo nghĩa thực đáng khen ngợi. Nhân nghĩ năm trước giặc nổi ở Thanh Nghệ, sau khi huấn dụ thì quan sở tại vỗ dân bắt giặc, trong khoảng mấy tuần một tháng mà giặc trốn bắt hết, lâu nay địa phương ấy được yên. Nay thành hạt bắt được giặc dẫu nhiều, mà dư đảng vẫn chưa hết, Nguyễn Hữu Thận, Trương Văn Minh các ngươi càng nêu hiểu dụ nhân dân hết lòng tố bắt giặc giã, và đốc thúc quan binh tìm cách tra bắt, cho giặc cướp sớm bị chặt đầu, không trốn đâu được, để đáp ứng ý trẫm trừ giặc yên dân”.
    Thống chế Thuỷ quân hưu trí là Đào Văn Lương vào chầu. Lương là người Bình Định, lúc mới trung hưng theo làm việc, từng đi chiến trận, rõ rệt công lao. Vua thương nghĩ đến, cho y phục bằng sa trừu các thứ và sai lính đưa về nhà.
    Chợ An Hội bị cháy, cháy lan 90 nhà.
    Vua bảo bộ Hộ rằng : “Nơi kinh ấp nhà cháy tuy không đến số 100, mà tai hại cũng đáng thương, vậy gia ơn theo lệ mà phát chẩn”.
    Sai Phủ doãn Thừa Thiên tra xét các sở phủ đệ sảnh thự trong kinh thành, những chỗ tường bao quanh và đường cái, chỗ nào có nhà tranh của thuộc viên và quân dân ở thì đều bắt dỡ đi, từ sau cấm không được dựng bậy. Làm trái thì phạt 100 trượng, đóng gông một tháng ; cố ý phạm thì trị nặng. Quan mà không răn bảo được thuộc viên thì ghép tội thất sát ; phủ thuộc thì bắt tội trưởng sử. Đề đốc cùng Phủ doãn, Phủ thừa không tra xét được thì phạt bổng 6 tháng ; các viên dịch thì phạt 80 trượng.
    Trước đây có chỉ dụ rằng trong kinh thành cùng ngoài quách có nhà cháy, thì lính Thị vệ và lính Thượng tứ mỗi bên một người cùng đi xem xét ; những lính cứu hoả người nào ra sức hay không, cứ thực làm phiếu tâu lên. Bộ Binh nhân tâu rằng : “Những nơi phụ quách ngoài Kinh thành, đi xem hay đi cứu hoả tất phải ra vào cửa thành, nếu lâm thời không có gì làm bằng chứng thì người canh cửa không cho ra ; nếu lại đợi long bài hiệu cửa thì mất nhiều thì giờ ; xin chế cấp cho quân Thị vệ và quân Thượng tứ một lá cờ đỏ nhỏ viết chữ : “Phi trì thám hoả”(() Phi trì thám hoả : chạy nhanh xem xét việc cháy.), hai lá cờ đỏ nhỏ viết chữ “Sát khán cứu hoả”(() Sát khán cứu hoả : xem xét và chữa cháy.) và một lá cờ đỏ lớn viết chữ “Thừa Thiên cứu hoả”. Phàm cháy ở những nơi ngoài thành quan giữ cửa các cửa thành thấy chỗ báo hoả trên kỳ đài treo cờ hiệu, đèn hiệu, thì đều theo lệ ban ngày thì đóng chặt cửa thành, ban đêm thì phòng giữ càng nghiêm. Một người lính Thượng tứ lưng cắm lá cờ đỏ “Phi trì thám hoả”, một người lính Thị vệ và một người lính Thượng tứ, mỗi người lưng cắm lá cờ đỏ “Sát khán cứu hoả”, đều đi ngựa chạy đến ; một viên quan ở phủ Thừa Thiên đem lính phủ mang lá cờ đỏ “Thừa Thiên cứu hoả”. Quan giữ cửa xét nhận đích xác, mở cửa cho đi. Người lính thám hoả về trước để tâu, những người lính cứu hoả thì đợi lửa tắt mới về. Nếu ban đêm thì cũng xét rõ rồi cho vào, ngày hôm sau làm tờ tâu lên”. Vua theo lời bàn.
    Gia hàm Binh bộ Tham tri cho Trần Thiên Tải, vẫn lĩnh Hiệp trấn Sơn Nam. Thiên Tải nhiều lần làm quan các trấn, đều hay xứng chức, nên có mệnh này.
    Giặc trốn ở Thanh Hoa là Trần Công Ngôn lén nổi ở Tĩnh Gia, lính phủ đi tuần bắt được. Thưởng cho 80 lạng bạc và 200 quan tiền.
    Bắc Thành nước lớn, ba trấn Sơn Tây, Sơn Nam, Nam Định đều vỡ đê, cửa nhà ruộng nương chìm ngập nhiều, cũng có người chết đuối. Thành thần trước phái người đi khắp các nơi mà lượng phát chẩn, rồi đem việc tâu lên.
    Vua xem tờ tâu, lấy làm thương xót, xuống dụ cho phi báo rằng : “Đê chính đặt ra ở hạt ngươi là có quan hệ đến đời sống của dân không nhỏ, nhà nước mỗi năm không tiếc phí đến mười vạn tiền và lương để sửa đắp đê. Thế mà mùa hè mưa lụt, nước sông ngày lên to, đã không phòng bị trước, đến khi đê vỡ lại không phái tào viên đến ngay để trù biện, mà chỉ giao cho ty thuộc thì giữ sao cho khỏi tệ tuỳ tay nặng nhẹ được ? Đến khi tâu báo lại không cho ngựa trạm phi đệ. Thử nghĩ xem tai nạn của dân có việc gì hơn việc ấy không ? Ngựa trạm chỉ đặt không à ! Huống lại Đê chính đã có chuyên trách mà trong tập tâu không có một lời tham hặc. Nguyễn Đức Hội cũng ký tên vào tờ tâu, có thể bảo là mặt dày. Có bề tôi như thế, trẫm không thể không nhận lỗi thay các ngươi. Nay Nguyễn Hữu Thận các ngươi nên gia tâm trù tính việc cứu chữa, đê điều có chỗ nên sửa thì sửa, nhân dân có chỗ nên phát chẩn thì phát, thóc giống chỗ nào nên cấp thì cấp, hết thảy mọi việc nên làm phải cho thoả đáng thì mới có thể chuộc được lỗi trước”.
    Lại dụ hai bộ Hộ, Binh rằng : “Trẫm từ nối ngôi đến giờ nước sông chảy thuận, đều vui sống êm. Vừa rồi chợt tiếp tờ sớ Bắc Thành báo tin vỡ đê, lòng sợ tay run, cơ hồ không phê bảo được. Lại nghĩ Bắc Thành thổ phỉ mới yên, giá gạo đắt đỏ, nay lại bị nạn nước lụt thì dân ta chịu sao nổi. Đã xuống dụ sai phát chẩn ngay để nhân dân không phải khóc lóc ; duy trong tờ tâu không nói rõ nơi nào bị nạn nặng nhẹ, khiến ta lại thêm nóng ruột”. Lập tức sai lính Thị vệ chạy ngựa trạm đi hỏi.
    Kế đến sớ phát chẩn ở Nam Định đệ lên.
    Vua bảo bộ Hộ rằng : “Xem tờ tâu tình hình của dân bị lụt, rất là thương xót, mà phát chẩn không được nhiều, nhân dân chưa khỏi túng thiếu.Vậy dụ cho trấn thần cấp thêm, không cứ đàn ông, đàn bà, già trẻ, người chết đuối thì cấp 3 quan tiền, người đói mà rất nghèo cấp mỗi người 2 quan tiền 1 phương gạo, người nghèo vừa cấp 1 quan tiền 1 phương gạo. Còn Sơn Nam, Sơn Tây chưa thấy tâu báo, nếu đợi sớ đến rồi mới xuống chỉ thì những dân chìm đắm đói khát há chẳng mất công chờ đợi ư ? Vậy cho theo lệ này mà cấp”.
    Con đê riêng ở xã Bình Tuyền trấn Thái Nguyên cũng vỡ, dân đói. Thành thần xin theo lệ Nam Định phát chẩn. Vua y cho.
    Đô thống chế Tả dinh quân Thần sách lĩnh án trấn Thanh Hoa là Tôn Thất Dịch chết. Dịch là thân thần cũ có công, vua rất quý mến. Dịch ở Thanh Hoa, có lệnh vời, chưa kịp lên đường thì chết. Vua nghe tin thương xót không xiết, cho 1.000 quan tiền, 5 cây gấm Tống, 10 tấm lụa, 30 tấm vải, 50 cân sáp, 500 cân dầu, sai quan sở tại cho lính đưa về quê chôn.
    Đổi hai đội Tiền thuận nhị và tứ lệ vào sổ lính Thanh Hoa. Hai đội ấy là bộ hạ của Nguyễn Văn Hiếu. Hiếu trước làm Trấn thủ Thanh Hoa, đem hai đội ấy đi theo, đến khi có chỉ gọi về Kinh, giao lại cho Tôn Thất Dịch cai quản, đến nay Dịch chết, mới đổi lệ như thế.
    Lấy Viện sứ viện Thượng trà là Lê Thuận Tĩnh làm Vệ uý, trật Chánh tam phẩm, vẫn lĩnh viện Thượng trà, kiêm quản các đội Tiểu sai, Ngân thương, Tài hoa, Việt tường, Dực hùng, Dực nhuệ, ứng sai, Phú thuận thuộc vệ Tả hộ, thự Phó vệ uý vệ Long võ hậu, Phó vệ uý vệ Kiêu kỵ là Vũ Văn Giải làm Phó vệ uý vệ Phi kỵ, vẫn kiêm quản các đội Thượng thiện, Tân sài, sung Hành tẩu xứ Ngân bài thị vệ.
    Đặt thêm lại dịch ty Thừa biện phủ Tôn Nhân ; Chánh bát cửu phẩm thư lại, mỗi chức thêm 2 người, Vị nhập lưu thư lại thêm 15 người (Trước đặt 2 Tư vụ, 1 Bát phẩm thư lại).
    Bắt đầu đặt Huấn đạo các huyện Long Xuyên, Kiên Giang ở trấn Hà Tiên, theo lời xin của thành thần Gia Định.
    Lấy Từ tế đại sứ Từ tế ty là Tôn Thất Điêu làm Hữu thị lang Lễ bộ, vẫn quản lý Từ tế ty, quyền biện việc Tôn Nhân phủ, Thượng bảo tự Thiếu khanh là Tôn Thất Bạch làm thự Tả thị lang Lại bộ, Thiêm sự Nội vụ là Lê Bá Tứ làm thự Hữu thị lang Công bộ, vẫn quản lý việc phủ Nội Vụ.
    Đổi tên xã Minh Hương [ ] ở các địa phương làm xã Minh Hương [ ].
    Bổ người Tây dương là Phú Hoài Nhân làm Chánh thất phẩm thông dịch ty Hành nhân, Tây Hoài Hoa và Tây Hoài Hoá làm Tòng thất phẩm thông dịch ty Hành nhân, mỗi tháng cấp cho mỗi người 20 quan tiền, 4 phương gạo lương, 1 phương gạo trắng, sai phủ Thừa Thiên trông coi, cấm không được ra ngoài dạy học trò để truyền giáo (Bọn Hoài Nhân đều là tên họ vua cho).
    Triệu Tả Thị lang Hình bộ quyền lĩnh Hình tào Bắc Thành là Nguyễn Công Trứ về Kinh bổ dùng ; Tả Thị lang Binh bộ quyền lĩnh Binh tào là Nguyễn Đức Nhuận vẫn về thành làm việc.
    Người Phong Lộc dinh Quảng Bình là Trần Đăng Luật đem bài sấm và sách thái bình của cha để lại dâng lên. Vua xem bảo rằng : “Bài thái bình sách đã không có điều gì đáng lấy, còn như sấm là chuyện quái gở không thường, nhà nước đã nghiêm cấm để dứt mối đi. Nay lời sấm này, dẫu phụ hội việc cũ, không quan hệ đến triệu tương lai, nhưng cái mầm mống ấy không nên để lớn. Theo phép thì phải tội chết, nhưng nghĩ kẻ tiểu dân không biết, tưởng là sách quý báu mà đem dâng, đã không phải tự nó làm ra, mà cũng chưa truyền bá cho ai, tình còn nên tha, sai đánh 100 trượng mà tha cho về”.
    Miễn cho thuyền vận tải Bắc sang năm không phải chở gạo về Kinh.
    Dụ rằng : “Từ trước đến nay hằng năm thuyền vận tải Bắc chở gạo vào Kinh để chi lương bổng. Nay kho Kinh ngày thấy đầy đủ, mà tô thuế ở Bắc Thành liền năm cho giảm bớt nhiều thì kho ở thành chứa trữ đã không được như trước, nếu không trù tính trước, một khi gặp mất mùa đói kém thì lấy gì mà phát chẩn. Vậy miễn cho một lần chuyên chở gạo sang năm. Còn lương bổng ở Kinh thì chi cấp thế nào, cho bộ Hộ bàn định cho ổn”.
    Bộ thần xin : “Tự tháng 8 năm nay đến cuối sang năm đều phát lương bằng thóc, đợi đến năm Minh Mệnh thứ 10 [1829], gạo ngoài Bắc chở vào, bấy giờ sẽ phát lương bằng gạo”.
    Quan Tào chính lại tâu : “Thuyền vận tải Bắc sang năm đã miễn chở của công, thuyền nào muốn đi buôn thì xin thu tiền ban như lệ thuyền vận tải Nam”. (Theo lệ thóc chở 1 thùng thì nộp tiền ban 2 quan).
    Vua đều y cho.
    Đóng 20 chiếc thuyền hải đạo. Cấp 2.000 quan tiền cho các quân sắm vật liệu dựng xưởng tạm.
    Định lệ đại tu((), (2) Đại tu, tiểu tu : sửa nhiều là đại tu, sửa ít là tiểu tu.), tiểu tu(2) cho xưởng đóng thuyền ở Kinh.
    Trước vua sai bộ Công hội cùng Văn thư phòng, viện Thượng trà và đội Tiểu sai đi khám xưởng thuyền các quân, chia hạng đánh giá và định niên hạn sửa chữa. Đến nay bộ Công bàn tâu : “Thuyền lớn thuyền nhỏ cần phải dựng xưởng là 256 sở, xin định làm bốn hạng, phân biệt cấp tiền theo giá (một sở hạng nhất tiền 250 quan, hạng nhì 200 quan, hạng ba 150 quan, hạng tư 70 quan). Nhưng công việc nhiều và nặng nề, chưa có thể một loạt làm xong, nên chia làm 3 năm mà làm. Lại lấy năm dựng xưởng mà bắt đầu khoa, cứ 3 năm một khoa tiểu tu, 6 năm một khoa đại tu ; sau đại tu lại tiểu tu, sau tiểu tu lại đại tu, hết vòng lại bắt đầu ; đều cứ ngày bắt đầu dựng mà ứng cấp số tiền, tiểu tu thì 3 phần 10, đại tu thì 5 phần 10. ở trong ấy có thuyền hiệu Ba lãng và thuyền hải đạo lớn, gặp khi sai phái thì phải dỡ xưởng mới hạ được thuyền xuống bến, đến khi thuyền về lại làm xưởng lại, nếu không phải năm đại tu, tiểu tu thì cấp cho 1 phần 10 tiền. Đến như các hiệu thuyền Đại trung bảo cùng thuyền bọc đồng làm xưởng ở dưới nước thì không thể nhất khái theo lệ ấy, xưởng to cấp tiền 70 quan, xưởng nhỏ 40 quan, hằng năm sửa chữa cấp cho 1 phần 10”. Tờ tâu dâng lên. Vua cho theo lời bàn mà làm.
    Trấn Bình Định gạo đắt. Sai thự Lang trung Hộ bộ là Lê Văn Lễ, Chủ sự Lại bộ là Nguyễn Chí Lý, đi hội với trấn thần phát ra 20.000 hộc thóc kho cho dân nghèo
  • Chia sẻ trang này