0059.068_Hanna Le_đang soát

2/6/16
0059.068_Hanna Le_đang soát
  • PDF
    GoogleDocs


    :rose::rose::rose:
    thực biết cảm vui. Vả lại dân Bắc Thành chỉ biết theo lệnh, rất là dễ trị, khó cảm hoá chỉ là bọn hương hào, tổng trưởng mà thôi. Bởi vì dân một làng chỉ do hào mục khu xử, chúng nó làm bậy thì dân cũng đều theo, cho nên khó cai trị”. Từ đấy mỗi khi Thận vào chầu tâu việc, vua đều cho ngồi, vì là đại thần nguyên lão nên đãi ưu lễ như thế.
    Gia hàm Đô thống chế cho Hữu thống chế Thị trung là Trần Văn Cường và cho Phó thống chế Hậu dinh Thần sách là Trần Đăng Long.
    Lấy Thống chế lĩnh Thập cơ Kính tiệp của Tiền quân là Phạm Văn Lý làm Thống chế dinh Tiền phong. Lý vào lạy. Vua bảo thị thần rằng : “Đánh giặc ở Nam Định, Lý có công to nhất”. Rồi triệu vào hỏi han yên ủi hồi lâu.
    Khởi phục Nguyễn Văn Lễ làm Tư vụ Binh bộ (Lễ khoảng năm Gia Long làm Hiệp trấn Nghệ An, có lỗi phải cách, vụ đông năm qua phái đi quân thứ Bắc Thành để ra sức chuộc tội, đến bấy giờ được dùng lại).
    Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt đến Kinh vào chầu. Vua triệu lên trên điện cho ngồi, hỏi việc ngoài biên. Dụ rằng : “Trước đây Chân Lạp kêu đói, khanh tiện nghi phát chẩn, không phải là việc nhỏ đâu. Quyền nghi thông biến ở khanh thì còn được, chứ người khác thì phải cẩn giữ pháp độ. Nước Chân Lạp vốn không chứa thóc sẵn, hễ gặp mất mùa là túng thiếu ngay, vạn nhất bờ cõi có việc, đã không giúp quân nhu cho ta, lại đem thóc cho họ, há chẳng phí lắm sao ? Cho nên thà cho họ của báu, không nên cho thóc gạo”. Mỗi lần Duyệt vào chầu, vua càng đãi hậu hơn lên, từng nói với thị thần là bọn Trần Văn Năng, Tống Phước Lương rằng : “Người ta nói Duyệt tính bướng, nay trẫm xem ra là người trung thuận, cái nghĩa thờ bề trên có sẵn lúc ngày thường. Thì ra cái tính bướng bỗng đã gột sạch, không ngờ lúc tuổi già lại tỉnh ngộ như thế”.
    Bắt đầu đặt vệ Khinh kỵ. Lấy hai đội Trung sai nhất và ngũ, đội Tiền sai tam, đội ứng sai nhất, đội Tân sai ngũ, hai đội Dực dũng nhị và tam, hai đội Dực hùng nhị và và tam (đội Dực hùng nhị số ít, lấy đội Dực nhuệ nhất hợp vào), đội Dực tráng nhất, tất cả 10 đội, theo thứ tự dồn bổ cho lệ vào viện Thượng tứ, trật tự cho giống quân Thị nội, sai Thượng tứ viện sứ Nguyễn Trọng Tính kiêm quản.
    Sai quan biên soạn sách Bách ty chức chế, lấy Hiệp biện đại học sĩ Nguyễn Hữu Thận làm Tổng tài, Thị lang Thân Văn Quyền, Nguyễn Công Trứ, Lê Văn Đức, Lý Văn Phức, sung chức Toản tu, chọn thuộc ty các viện 12 người sung Biên tu, 4 người làm Khảo hiệu hiệu san, 15 người Đằng lục, sai đặt cục ở Sử quán mà làm. Trước đây vua muốn sửa đặt chức chế, sai quan sáu bộ họp bàn. Đến nay tâu rằng : “Đặt quan chia chức là phép tốt đời thái bình. Tên quan đã định, chức chế thực phải nên làm. Huống chi bây giờ nhà nước nhàn rỗi, chính là lúc càng nên sửa sang trau dồi để làm phép tắc lâu dài, khiến cho các quan lớn nhỏ trong ngoài đều biết chức phận của mình mà cố gắng làm cho hết sức, thì mọi công việc mới mở rộng được. Vả lại chức chế là để tỏ rõ pháp điển sẵn có, tất phải châm chước xưa nay, so đi xét lại. Xin đặt quan chuyên coi việc ấy mới có thể chóng xong”. Vì thế mà có mệnh này.
    Dụ rằng : “Chức chế là quan hệ đến điển chương của nhà nước, nếu mỗi người đều giữ ý kiến riêng thì cũng như làm nhà ở cạnh đường, không bao giờ xong được. Các khanh nên chia việc mà chuyên làm để cho việc có thống thuộc, mới đến xong được”.
    Vua từng cùng bầy tôi bàn về chức chế, bảo rằng : “Nhà nước đặt phép tắc, định chế độ, mong để lâu dài. Trẫm trải xem các đời Đinh, Lý, Trần, Lê, làm vua không phải là không lâu. Pháp độ nhà Đinh, nhà Trần không có gì đáng theo, vài vua nhà Lý hơi có chế tác. Đến Lê Thánh tông, thì quy mô xây dựng, cũng hơi kha khá. Nhưng về các lễ Giao Miếu Xã Tắc thì phần nhiều là nhân tuần giản lược, chưa hay tìm được phép đời xưa để làm tỏ rạng văn minh một đời. Đức Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế kính vâng mệnh trời, gây dựng bờ cõi, làm vua 18 năm, trù tính xếp đặt, phép trị đã đủ. Trẫm tuân giữ phép cũ mà sửa sang thêm, chủ yếu cũng là theo thời xây dựng, chấn chỉnh mối giềng để cho đời sau noi theo. Đến như châm chước thêm bớt cho được thật tốt, thì dẫu lâu đến 40, 50 năm thì có hại gì !”.
    Sai Văn thư phòng tiến lãm bộ Lịch triều hiến chương của Phan Huy Chú dâng.
    Vua quay hỏi Phan Huy Thực rằng : “Sách này Chú tự soạn thuật hay là sưu tập sách sẵn của các nhà ?”. Tâu rằng : “Cũng có tìm xa lấy rộng”. Vua nói rằng : “Sách này soạn thuật dẫu khéo, nhưng lập ngôn thường thường bênh vực họ Trịnh thì kiến thức cũng quê”.
    Thượng thư Hộ bộ là Lương Tiến Tường tâu cử chín người học trò có văn học, vua sai hai bộ Lại, Lễ xét hạch. Dụ rằng : “Nhà nước lấy khoa mục cầu nhân tài, nhưng người đức cao tài rộng, hoặc còn sót ở ngoài khoa mục, cho nên đời xưa có phép tuyển cử để thu nhân tài bị bỏ sót. Khoa mục cùng tuyển cử mà chí công, thì lo gì chẳng được người thực tài”.
    Lại bảo bọn Lại bộ Lê Đăng Doanh rằng : “Triều đình bổ dùng, thường thường chú trọng việc cử người. Từng lo số người không đủ mà nếu bỏ dùng bừa bãi, thì sắc son, sắc tía lẫn lộn, làm sao giữ trong sạch được quan trường để có ích cho việc cai trị. Nói tóm lại là dùng người phải cẩn thận”.
    Dồn bổ hai vệ Tuyển phong và Hiệu dũng của Ninh Bình, lấy những người quê từ Quảng Bình trở vào Nam làm cơ Ninh Bình, những người quê từ Nghệ An ra Bắc làm cơ Ninh dũng, mỗi cơ 10 đội, mỗi đội 50 người, thiếu thì mộ thêm, cấp lệ lương khác nhau (cơ Ninh Bình mỗi tháng 1 quan tiền 1 phương gạo, cơ Ninh dũng mỗi tháng 5 tiền 1 phương gạo).
    Đổi Tham hiệp Phú Yên là Nguyễn Hữu Mẫn làm Tham hiệp Bắc Ninh, Tham quân Hữu quân là Trần Văn Trị làm Tham hiệp Bình Hoà, Tri phủ Kiến An là Nguyễn Huy Hựu làm Đốc học Định Trường, Tri phủ Khoái Châu là Lê Nguyên Trung làm Đốc học Phú Yên.
    Lấy Vệ uý vệ Tiền nhị quân Thị trung là Lê Văn Hiếu làm Vệ uý vệ Trung nhất, Phó vệ uý vệ Trung nhất là Trần Văn Lộc làm Vệ uý vệ Tiền nhị, Vệ uý vệ Tiền phong tả là Hồ Văn Khuê làm Vệ uý vệ Tả nhất, Vệ uý vệ Tuyển phong tả quân Thần sách là Vũ Đức Hựu làm Vệ uý vệ Tiền phong tả, Vệ uý vệ Long võ hữu là Tống Văn Sở làm Vệ uý vệ Hậu nhị, Cai đội Cẩm y Phan Văn Cần làm Phó vệ uý vệ Long võ hữu, Phó vệ uý vệ Thành võ là Đoàn Dũ làm Phó vệ uý vệ Hữu nhị, Phó vệ uý vệ Hổ lược là Bùi Công Huyên làm Phó vệ uý vệ Hậu nhị, Vệ uý lĩnh Thượng trà viện sứ là Lê Thuận Tĩnh kiêm quản hai vệ Thành võ và Long thao.
    Lấy Hiệp trấn Thanh Hoa là Đặng Văn Thiêm làm thự Hữu Tham tri Binh bộ. Thiêm sự Thanh Hoa về vào yết kiến, vua hỏi trong hạt động tĩnh thế nào. Đáp rằng : “Gần đây giặc cướp im tắt, dân dần được yên ổn”. Lại hỏi : “Triều đình nhiều lần gia ơn, lòng dân có cảm hoá không ?”. Đáp : “Tình trạng thôn quê thần chưa biết hết. Nhưng xem nhân dân vui vẻ khuyên nhau làm việc, đào giếng cày ruộng, dẫu có kẻ vượt phận trái phép cũng khó dụ dỗ họ”.
    Định lại thuế cửa quan và bến đò ở Bắc Thành. Trước đây thuế cửa quan bến đò đều nộp bằng bạc, sau lại đổi nộp nửa bạc nửa tiền, rồi lại vì đồng và kẽm cần dùng, hoặc cho chiết một nửa nộp thay bằng kẽm, nộp đèo đồng đỏ, tuỳ tiện mà thu, chưa được hoạch nhất. Đến nay chuẩn định thuế lệ thường năm nộp nửa bạc nửa tiền. Ghi làm lệ mãi mãi. Còn như người lĩnh trưng đánh thuế người buôn thì chỉ thu toàn bằng tiền, không được viện lệ này.
    Bỏ chức Tuyên phủ sứ phủ Hoài Đức ở Bắc Thành, đổi đặt Tri phủ.
    Lấy Tham hiệp Quảng Trị là Hà Quyền làm Thái thường tự Thiếu khanh, thự Thiêm sự Công bộ kiêm lĩnh Giám chính Khâm thiên giám là Nguyễn Đình Giáp quyền thự Tham hiệp Quảng Trị.
    Lấy Tham hiệp Ninh Bình là Hoàng Quýnh làm Lang trung Công bộ.
    Thuộc viên phủ Kiến An công là Hoàng Văn Quy làm giả ấn Kiến An công, bị người cáo phát, giao bộ Hình nghiêm xét, bị xử trảm hậu, Trưởng sử Phan Đình Thuỵ vì tội thất sát bị phạt.
    Lấy Phó vệ uý vệ Uy võ quân Thần sách là Nguyễn Văn Ân làm Vệ uý vệ Dương võ, Cai đội Ban trực là Nguyễn Hữu Cần làm Phó vệ uý vệ Uy võ, Phó vệ uý vệ Ban trực hữu là Phan Văn Bình làm Vệ uý vệ Tuyển phong hậu, Cai đội Thị trung là Hoàng Văn Quất làm Phó vệ uý vệ Ban trực hữu, Vệ uý vệ Hùng dũng là Trần Văn Duy làm Vệ uý vệ Toàn võ, Phó vệ uý vệ Tuyển phong hậu là Nguyễn Văn Hoặc làm Vệ uý vệ Hùng dũng, Cai đội Thị trung là Nguyễn Văn Huy làm Phó vệ uý vệ Tuyển phong hậu, Phó vệ uý vệ Phấn võ là Nguyễn Duy Tân làm Vệ uý, Cai đội Thị trung là Phan Văn Đổng làm Phó vệ uý vệ Phấn võ, Phó vệ uý vệ Tuyển phong tiền là Nguyễn Văn Linh làm Vệ uý vệ Trung võ, Cai đội Thị trung là Trần Văn Quần làm Phó vệ uý vệ Tuyển phong tiền, Phó vệ uý vệ Quảng võ là Nguyễn Văn Quế làm Vệ uý vệ Tuyển phong tả, Cai đội Thị trung là Vũ Văn Đường làm Phó vệ uý vệ Quảng võ, Phó vệ uý vệ Túc võ là Nguyễn Văn Đường làm Vệ uý vệ Định võ, Cai đội Thị trung là Nguyễn Văn Thiều làm Phó vệ uý vệ Túc võ, Phó vệ uý vệ Tuyển phong hữu là Nguyễn Văn Yết làm Vệ uý, Cai đội Thị trung là Đinh Mậu Phong làm Phó vệ uý vệ Tuyển phong hữu, Cai đội Ban trực là Nguyễn Văn Trứ làm Phó vệ uý vệ Toàn võ, Cai đội Thị trung là Vũ Văn Thuyên làm Phó vệ uý vệ Tuyển phong tả.
    Đặt thêm lại dịch Bưu chính (trước đặt Vị nhập lưu thư lại 14 người, nay thêm 6 người).
    Thành Gia Định bắt được hơn 20 tên cướp, quyền nhiếp thành ấn là Nguyễn Văn Tuyên và Hình tào Trịnh Xuân Trạm đem chém rồi sau mới tâu.
    Vua quở rằng : “Quyền lớn sinh sát là tự triều đình. Trước kia Lê Văn Duyệt là trọng thần nên đặc cách cho tiện nghi làm việc, bọn ngươi lại muốn viện đấy làm lệ à ?”. Đều giáng 2 cấp.
    Các địa phương theo dụ đệ danh sách các hiếu tử, thuận tôn, nghĩa phu, tiết phụ dâng lên. Sai bộ Lễ bàn tâu. Đến khi lời nghị tâu lên, xin theo sự thực của việc làm hơn kém chia làm ba hạng ưu, bình, thứ mà nêu thưởng khác nhau : Hạng ưu 1 người (tiết phụ Nguyễn Thị Ngữ, người huyện Bố Chính, Quảng Bình, vợ Thiếu sư Đặng Đức Siêu ; trong loạn Tây Sơn, Đức Siêu bỏ nhà vào Gia Định, thị mới 21 tuổi, giữ mình trong sạch 15 năm, chồng về vẫn được toàn tiết, Đức Siêu đã chết, vỗ nuôi các con đến lúc thành đạt), thưởng 50 lạng bạc, 4 tấm đoạn, cấp cho biển ngạch, khắc 4 chữ “Đồng quản phương tiêu [ ]”(() Nêu tiếng thơm cho giới phụ nữ.), quan làm nhà để treo biển.
    Hạng bình 11 người (Con hiếu : Nguyễn Cư Sỹ, người huyện Hương Trà, Thừa Thiên, năm 14 tuổi đi đày thay cho cha là Nguyễn Cư Tuấn, chịu được cay đắng, lúc cha được về, phụng nuôi cha không trễ nải ; Nguyễn Doãn Phùng và Tạ Hữu Độ, đều người huyện Đông Thành, Nghệ An, Doãn Phùng mẹ ốm, nước biển dâng lên, ẵm mẹ lên nóc nhà, con gái bé chết đuối không nhìn đến ; Hữu Độ mẹ bị giặc bắt sắp bị giết, Độ lấy mình giữ mẹ xin chết thay, giặc không nỡ giết, mẹ con cùng thoát nạn cả. Cháu thảo : Phan Đăng Doanh, người huyện Đông Thành, Nghệ An, bà bị kẻ cướp bắt lấy lửa đốt ngón tay, Đăng Doanh 13 tuổi, kêu khóc van xin, bèn được tha. Người có nghĩa kiêm con hiếu : Mai Sĩ Khang, người huyện Nga Sơn, Thanh Hoa, bắt được 60 lạng bạc trả lại cho người chủ, cha mẹ mất làm nhà ở mả 3 năm ; Nguyễn Đình Tế và Nguyễn Quý Đinh, đều người huyện Bạch Hạc, Sơn Tây, bị vợ lẽ của cha ghét, cùng mẹ ở riêng không cạnh tranh gì, lại chia ruộng và của để giúp chủ nghèo, đặt tự điền để giữ hương hoả thờ bên nhà mẹ. Vợ tiết : Phan Thị Trang, người huyện La Sơn, Nghệ An, 17 tuổi, lấy chồng, chưa cưới chồng chết, giữ trinh tiết không lấy chồng nữa ; Nguyễn Thị ỷ, người huyện Sơn Vi, Sơn Tây và Nguyễn Thị Tuần, người huyện Yên Lạc, Sơn Tây, Thị ỷ 24 tuổi, Thị Tuần 18 tuổi, đều goá chồng sớm, mẹ cho đi lấy chồng khác đều thề chết không lấy chồng nữa ; Trương Thị Vân, người huyện Chân Định, Nam Định, 23 tuổi, goá chồng ở vậy nuôi con, trong làng có kẻ hào phú muốn ép lấy, Thị Vân lấy con dao rạch mặt, nó bèn thôi, đều thưởng mỗi người 30 lạng bạc, 2 tấm đoạn, cấp cho biển ngạch (Biển hiếu tử khắc bốn chữ “Hiếu hạnh khả phong” [ ], biển thuận tôn khắc bốn chữ “Hiếu thuận khả phong” [ ], biển nghĩa phu kiêm hiếu tử khắc bốn chữ “Hạnh nghĩa khả phong” [ ], biển tiết phụ khắc bốn chữ “Trinh tiết khả phong” [ ]).
    Hạng thứ 9 người. (Con hiếu : Trần Lệ Dực, người huyện Nam Đường, Nghệ An, Tô Bá Đản, người huyện Thanh Chương, Nghệ An, Cao Nhật Tựu, người huyện Hương Sơn, Nghệ An ; Lệ Dực, Bá Đản đều vì cha mẹ ốm nặng nếm phân, lại gặp năm mất mùa, chứa gạo để nuôi cha mẹ, không chịu ở riêng để tiện sớm tối hầu hạ ; Nhật Tựu hút nhọt cho cha, và cha chết thương khóc không hề mở miệng cười ; Hoàng Văn Viên người huyện Nghi Dương, Hải Dương, cha mẹ chết, làm nhà ở mả 3 năm. Người có nghĩa : Nguyễn Viên, người huyện Chân Lộc, Nghệ An, không tranh cạnh gì với ai, bắt được 10 lạng bạc trả lại người chủ. Vợ tiết : Nguyễn Thị Thanh, người huyện Hoằng Hoá, Thanh Hoa, Nguyễn Thị Thuỷ, người huyện Nga Sơn, Thanh Hoa, Trần Thị Liên, người huyện Hưng Nguyên, Nghệ An, Thái Thị Oanh, người huyện Đông Thành, Nghệ An, bốn người đều chồng chết sớm, Thị Thanh làm nhà ở mả chồng, cắt tóc giả điên, Thị Thuỷ lấy nhọ nồi bôi vào mặt, Thị Liên cắt tóc làm xấu người đi, Thị Oanh tránh sang ở làng khác, đều giữ tiết đến già), đều thưởng cho 10 lạng bạc. Còn 12 người tiết phụ nữa, sự trạng tầm thường, tâu để đợi chỉ.
    Vua dụ rằng : “Dân ta có đủ các hạng hiếu thuận tiết nghĩa đáng nêu đáng khuyên, trẫm khen lắm. Hạng thứ gia ơn thưởng mỗi người 30 lạng bạc, duy một việc Trần Lệ Dực, Tô Bá Đản nếm phân cha, dẫu là khổ tiết nhưng đại hiếu đời xưa chưa ai bằng, Đại Thuấn Tăng tử cũng chưa nghe làm việc ấy, việc ấy gần như cầu tiếng mua khen, không đủ làm phép cho đời sau, nhưng nghĩ việc nuôi nấng cha mẹ và lúc để tang cũng hơi đáng khen, chuẩn cho thưởng theo hạng thứ. Còn như 12 người tiết phụ tầm thường không có sự trạng gì đáng ghi, nhưng cũng biết theo một chồng không lấy chồng lần nữa, nay nhân khánh điển cũng nên gia ơn thưởng cho mỗi người 20 lạng bạc. Ngoài ra đều theo như lời nghị mà làm”.
    Giáng Tham tri Binh bộ là Nguyễn Công Tiệp làm Lang trung Công bộ. Trước Công Tiệp làm Hộ tào Bắc Thành, có nhận đồ đảng giặc là Bùi Quang Oanh làm môn hạ mà không biết, đến bấy giờ việc phát giác, phải giáng 1 cấp, đổi đi nơi khác. Lại vì dưới tên đã chua giáng nhiều cấp, nên bổ chức này.
    Giám đốc kho Kinh là bọn Nguyễn Đức Ba tâu rằng kho Kinh thóc chưa ao lại có hơn 140 vạn hộc, xin họp những người chủ thủ cũ xem sự chi phát để nghiệm thừa thiếu. Vua nói : “Những chủ thủ cũ đều phạm án về hao hụt, sao lại có thể cho dự việc !”. Bèn hạ lệnh cho bộ Hộ phái ty viên sang hội làm.
    Nghiêm răn thói tệ của quan lại Bắc Thành. Dụ rằng : “Trước đây các trấn Hải Dương, Sơn Nam, Nam Định, Bắc Ninh, Sơn Tây, giặc cướp nổi lung tung, quấy hại nhân dân, đều bởi quan lại lớn nhỏ không để lòng nuôi nấng vỗ về, xét hình án thì ngầm mưu lấy lợi, không phân ngay gian mà công nhiên hối lộ, quản lý tiền thóc thì mưu đầy túi tham, không bàn phải trái mà hạch đòi đủ cách. Đến như điền thế binh lính, thì kẻ hào phú vì có của mà được miễn, người nghèo hèn thì phải bỏ nhà đi lính. Thậm chí mỗi khi có việc đòi hỏi thì nhân đó vơ vét. Những tình tệ rành rành thực không nỡ nghe, không lạ gì dân không chịu nổi mà rủ nhau làm bậy, phải phiền đến triều đình xử trí một phen mới yên. Phàm nhà nước đặt quan chia chức là vì dân cả. Bọn ngươi không biết nuôi dân để dân cùng khốn phải đi làm giặc, cái chức trách giữ địa phương lại như thế à ! Những việc về trước không cần xét kỹ. Nay trẫm thiết tha bảo rõ các ngươi là quan to thành trấn, cho đến phủ huyện, người làm việc cũ thì ăn năn lỗi trước, người mới đến thay thì lấy việc trước làm răn. Phủ huyện ai hay vỗ về nhân dân, bắt hết dư đảng để cho trong hạt yên ổn, trong một quý thì cho tâu rõ ràng, giao bộ bàn thưởng, trong một năm thì cất nhắc vượt bậc. Quan ở trấn cũng đáng được khen thưởng. Nếu cứ giữ thói làm bậy như trước, thì phủ huyện sẽ xử tội nịch chức(() Nịch chức : không làm nổi chức phận.), quan trấn cũng giao cho bộ làm. Còn quan thành cùng các tào, đã chịu ơn dày của nhà nước, thì càng phải giữ mình sạch sẽ, vâng theo phép công, làm tiêu biểu cho mọi người, để cho chính sự công bằng, hình ngục xong xuôi, trộm cướp im tắt, nhân dân yên nghiệp, đỡ lòng khỏi lo về phương Bắc của trẫm, cho xứng đáng với chức phận. Nếu không như thế thì có phép nhà nước”.
    Xây xưởng súng ở trên thành Bắc Thành. (Trước làm bằng tre lá, nay đổi làm bằng gạch ngói gỗ). Vua thấy công việc bề bộn, không thể làm một lần xong được, sai chia làm ba năm mà làm.
    chính biên
    đệ nhị kỷ - quyển XLIX
    Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế
    Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8 [1827], mùa đông, tháng 11. Sai Tả thị lang Hộ bộ là Nguyễn Khoa Minh lấy nguyên hàm làm việc bộ, lại quyền làm việc Nội vụ phủ. Khoa Minh tự Bắc Thành được triệu về. Vua hỏi việc Bắc Thành động tĩnh thế nào. Thưa rằng : “Gần đây việc bắt giặc đã thư, hạt thành cũng không có việc gì. Duy lúc gặt lúa mùa, dân nghèo còn gặt lấn trộm lúa ruộng, thói ấy vẫn chưa dứt”.
    Lấy Phó thống vệ uý lĩnh Thập cơ Kính tiệp của Tiền quân là Hoàng Đăng Thận làm Vệ uý vệ Khinh kỵ, lĩnh Thượng tứ viện.
    Sai Phó vệ uý vệ Cẩm y là Trương Văn Hậu kiêm Quản vệ Long thao. Phó vệ uý vệ Thần cơ hậu là Nguyễn Văn Niên kiêm Quản đội Thị nghi.
    Hơn 200 lính các cơ Thanh thuận, An thuận gần đây theo Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt về Kinh. Vua nghĩ họ theo đi thú lâu ngày, thưởng tiền và thả cho về.
    Đạo thần Ninh Bình tâu rằng trong hạt trước đây vì Sơn Nam vỡ đê, nước sông tràn ngập lâu, mùa màng kém thu. Vua đặc biệt cho giảm thuế vụ đông năm nay 5 phần 10, còn số thuế phải nộp thay bằng tiền.
    Lính vệ Ban trực trung quân Thần sách tự khi đi Kinh lược Nghệ An về, nhiều người ốm chết, thành ra thiếu ngạch. Hữu ty xin cứ nguyên quán người lính chết (Quảng Nam) mà bắt điền.
    Vua bảo rằng : “Có chỗ lính thiếu nhiều mà số dân ít, đòi bắt cấp quá thì dân chịu sao được !”. Dụ cho sở tại xem xã nào dân ít thì cho hoãn.
    Đổi chức Thiêm sự các nha sáu bộ làm Lang trung ; Lang trung làm Viên ngoại lang ; Tham luận, Cai án các quân dinh làm Tri bạ ; Thư ký, Cai án, Tri bạ các thành trấn làm tả hữu Thông phán ; Câu kê làm tả hữu Kinh lịch ; Thổ ty, Thổ tri phủ, Thổ cai châu các trấn làm Thổ tri châu ; Thổ cai huyện làm Thổ tri huyện ; Phó châu làm Thổ lại mục. Tự trước đến nay, chức hàm quan trong quan ngoài được đặt đối chiếu với quan chế mới định nhiều chỗ không hợp, bộ Lại tâu xin theo quan chế mới mà đổi lại, cấp văn bằng khác để cho rõ ban thứ, chính tên gọi. Vua y lời tâu.
    Trấn thủ Sơn Tây là Đỗ Văn Trà sai kẻ thú phạm(() Thú phạm : tên phạm đã ra thú.) đi tuần bắt cướp, nhân đó nó cướp bóc của dân. Việc phát giác, Trà bị cách chức giao cho Bắc Thành sai phái để ra sức chuộc tội. Rồi thấy Trà tuổi ngoài sáu mươi, không chịu nổi sai khiến, thả cho về quê.
    Phòng ngự sứ Trấn Ninh là Chiêu Nội sai người đến Nghệ An xin giúp quân, nói rằng Nam Chưởng lấn quấy đất Trình Diệt, thổ tù sở tại đương chống đánh. Trấn thần đem việc tâu lên. Vua bảo thị thần rằng : “Chiêu Nội hoảng sợ đấy thôi. Nam Chưởng trước kia mượn thanh thế người Xiêm quấy rối đất Man Cai, quân ta mới đến nơi thì nó đã sợ chạy. Nay ta mới rút quân, có lẽ nào nó lại dám đến. Dẫu vậy, việc phòng giữ bờ cõi cũng không nên coi thường”. Bèn phái Vệ uý vệ Nghiêm võ là Tạ Quang Cự, Phó vệ uý vệ Tuyển phong trung là Nguyễn Văn Linh đem quân tiến đến. Lại lấy 300 lính trấn Nghệ An cho đóng đồn ở Lãng Điền để ứng tiếp thanh thế. Rồi quân đến Kỳ Sơn thì quân Nam Chưởng đã lui rồi. Ta bèn rút quân về.
    Trấn thần Quảng Nam tâu rằng đền Khải thánh(() Đền Khải Thánh : đền thờ cha mẹ Khổng Tử.) ở xã Câu Nhi ở sát bờ sông, xin chọn đất ở ngoài cửa hữu Văn Miếu hơi về đằng trước để dời đền. Hãy tạm đặt thần vị Khải thánh ở nhà tây Văn Miếu.
    Vua bảo rằng : “Lễ bởi thánh nhân mà ra. Nay thần vị Khải thánh thờ ở bên tây thì lòng Phu tử có được yên không ?”. Bèn sai tạm làm nhà tranh.
    Đồng tri phủ Thiên Trường là Nguyễn Đình Cấp trước kia làm Tri huyện mãn niên hạn, Tham tri Nguyễn Văn Hưng và Nguyễn Công Tiệp đề cử, đến nay phát ra việc tham tang, phải tội chết. Vua nhân việc ấy dụ bầy tôi rằng : “Cử người lên để thờ vua là chức phận của người bề tôi. Tự trước đến nay, các chức phủ huyện, trẫm không thể nhất nhất kén chọn từng người được, nên để cho đình thần kén chọn, may ra tìm được người khá để làm tốt công việc. Nguyễn Đình Cấp là kẻ tham lam mọt dân mà bọn Hưng không xét kỹ lại khinh suất cử lên, theo phép đáng phải tội, nhưng nghĩ đã bị giáng truất không bắt tội thêm nữa. Bầy tôi các ngươi từ nay nên cẩn thận việc đề cử, chớ vì lòng riêng gây dựng cho người mà lầm phải người bậy, cũng đừng vì có đề cử lầm người mà im lặng không đề cử nữa”.
    Vua từng nói chuyện đến nhân tài. Lương Tiến Tường nói rằng : “Thần xem từ xưa những đời thịnh trị tất có nhiều người lỗi lạc ra giúp việc. Nhà nước ta nay bản đồ rộng lớn, các đời Đinh, Lý trở lại chưa từng có, thế mà người hiền tài thì chưa được nhiều, thần trộm chưa hiểu tại sao”.
    Vua nói : “Trẫm từ khi thân chinh đến nay, chưa từng lúc nào không lấy việc đào tạo nhân tài làm việc trước nhất. Những người cất nhắc, không phải không có người anh tuấn, mà đến lúc thử cho làm việc chính trị thì phần nhiều sơ suất lầm lẫn mà bị tội, cũng là họ tự làm thôi. Dẫu vậy, hiền tài sinh ra, đời nào không có ! Đế vương đời xưa dùng người có phải là mượn người tài ở đời khác đâu !”.
    Trương Văn Minh quyền giữ ấn Tổng trấn Bắc Thành dâng biểu xin vào chầu.
    Vua dụ rằng : “Ngươi là quan trọng trấn ở ngoài, phải nên hết sức làm việc cho trẫm khỏi lo về mặt Bắc. Ngày vào chầu còn dài, thôi chớ xin nữa”.
    Đặt Tượng cục pháp lam. Bọn Vũ Văn Mai, thợ vẽ ở Nội tạo, học được nghề làm đồ pháp lam(() Đồ pháp lam : đồ đồng tráng men, cũng gọi là pháp lang. Chữ Pháp là émail.). Bèn sai đặt cục ấy, hạn cho 15 người, thiếu thì mộ mà sung vào.
    Đổi ty Nội lệnh sử làm ty Thanh cần phủ Nội vụ, đặt Tư vụ, Chánh bát phẩm, Chánh cửu phẩm thư lại mỗi chức 2 người, Vị nhập lưu thư lại 20 người, chuyên trực ở cửa Hưng Khánh để làm việc công.
    Trấn thủ Quảng Bình là Lê Văn Quý, Tham hiệp Quảng Nam là Đặng Chương vào chầu.
    Vua dụ rằng : “Gần đây bốn cõi yên lành, lại thêm thời tiết thuận hoà, mùa màng phong nẫm, hộ khẩu thêm nhiều. Bọn ngươi có trách nhiệm chăn dân, nên lưu ý việc giáo hoá, trước dạy lễ nhượng, bảo rõ chỗ yêu chỗ ghét, để gây nên phong tục tốt đẹp. Người xưa nói dân giàu rồi mới dạy là thế đấy. Vả lại dạy dân tự lúc ngày thường, khiến cho tai mắt thấm nhuần, đổi làm điều thiện mà không tự biết thì dễ thành phong tục tốt. Nếu không lấy giáo hoá để ngăn ngừa mà dân không đến bậy bạ thì cũng ít. Bọn ngươi nên thể tất ý ấy”.
    Bắc Thành được mùa to.
    Vua mừng dụ rằng : “Bắc Thành liền năm mất mùa, thổ phỉ quấy rối, lại bị nạn vỡ đê, trẫm sớm khuya không yên, hết sức trù biện. Nay được trời giúp, chuyển mất mùa làm được mùa, thổ phỉ phá tan, nước sông thuận dòng, mọi người cho là năm vui, đều mừng yên lành. Trẫm lấy làm thầm cảm, lại càng thêm kinh sợ. Nhân nghĩ hạt Bắc Thành vì trước kia đời Lê Trịnh chính sự không có giềng mối, mũ giầy đảo lộn, tập thành thói quen, dân phong điêu bạc ; ngày nay kỷ cương chỉnh sức, chính lệnh nghiêm minh, nếu được người hiền giữ chức chăn dân, quan lại hiền lương vì triều đình mà ra sức, theo đạo công, giữ pháp luật, để đổi thói kiêu bạc, khiến cho chính trị nên tốt, thì sao lại không thịnh trị ! Nhưng trước đây thú lệnh thanh liêm tài giỏi tuy chẳng thiếu gì người, mà kẻ tham tàn bất tiếu lại liền liền vỡ án, cho nên thôn quê rối ren kiện cáo. Người làm như thế thì làm sao cảm được hoà khí của trời ! Đến nỗi sao chổi mọc, nước vỡ đê, lúa mất mùa, có phải là vô cớ đâu. Gần đây sai quan đi kinh lược và phái người thanh lý hình ngục, những quan lại tham tang tất theo luật trị tội. Những người thanh liêm tài giỏi thì vượt bậc nêu khen. Đã nhiều lần đinh ninh dạy bảo, tưởng hình ngục dần đã đâu vào đấy, nhân dân dần đã ở yên. Hoặc giả nhờ thế mà phước trời ban hậu. Bọn quan lại lớn nhỏ các ngươi đừng lấy lời trẫm làm câu chuyện suông. Phàm chỗ trời với người cảm nhau chẳng hở khe bằng sợi tóc, việc làm ở dưới tất ứng ở trên, lời xưa nói không sai đâu. Vua tôi chúng ta tự nay về sau nên ngày thêm kính cẩn, gắng làm để vâng chịu phước trời mãi mãi thì khá đấy”.
    Thự Hữu Tham tri Hình bộ Khâm phái thanh lý hình ngục là Lê Đại Cương tự Bắc Thành về phục mệnh. Vua triệu vào yết kiến. Cương nhân tâu rằng : “Viên dịch Hình tào nhiều người tham nhũng, thần xét ra được hơn mười người, có đủ thực trạng, còn người ngày đêm cần cù có ích cho Hình tào thì chỉ có Đoàn Khiêm Quang, Trương Hảo Hợp và Bạch Xuân Nguyên vài ba người thôi”.
    Đặt thêm các đồn bảo theo ven núi ở Bình Định. (Tự nguồn Trà Vân đến bến Đốc Chính, từ nguồn Trà Bình đến bến Trường Tân, để 13 sở như cũ, dời chỗ khác đến 8 sở, đặt mới 11 sở, cộng 32 sở). Sai trấn thần lượng trích dân ở gần đấy hiệp
  • Chia sẻ trang này