0059.069 retsroi đang soát

4/6/16
0059.069 retsroi đang soát
  • PDF
    GoogleDocs


    :rose::rose::rose:
    cùng thuộc lệ thay ban đóng giữ. Số lính thuộc lệ là 67 người, trích bổ trong 33 ấp phụ cận số 709 người).
    Chuẩn định từ nay các đồ thờ về tế Giao, các miếu, các lăng tẩm, đền trung tự và đền quần tự, cái gì cần sửa chữa hay làm lại sắm thêm thì do bộ Lễ xét thực, tư cho các phần việc chiếu làm, không nên tâu nhảm. Ghi làm lệnh.
    Sai vệ Phi kỵ luyện tập ngựa tốt theo hầu hơn 100 con. Vua ngự điện Càn Nguyên để xem.
    Cho ngựa Bách thỏ tên là Cát Thông, cùng với các hạng ngựa ngự mã, ngựa lương tuân, ngựa phước lưu, ngựa cát lưu, nuôi theo một lệ (mỗi tháng mỗi con cấp gạo và đậu mỗi thứ 1 phương).
    Ban tiền gạo cho các hộ thiết mộc (gỗ lim) ở Nghệ An. Dụ rằng : “Hộ làm gỗ ở Nghệ An, trước nhân địa phương không được yên, lại thêm đói khát, đến nỗi ngạch thuế bỏ thiếu ngày càng nhiều, đã chuẩn cho thuế chính cung năm nay theo chỉ dụ năm thứ 7 mà tính trừ đi, số thiếu tự các năm trước cho giảm đi một nửa. Nay thuế chính cung dần dần nộp đủ ngạch, nên gia ơn cho 500 quan tiền 500 phương gạo để dân được nhờ cậy, số thiếu trước lại cho hoãn đến sang năm”.
    Bắt đầu định lệ cấp tiền công nhu hằng năm cho các địa phương. Bộ Hộ tâu rằng : Từ trước đến nay các kho trong ngoài chi về dầu đèn, giấy má, lạt xâu, thẻ tre, lệ lấy vào tiền đầu quân về thuế đinh, tiền thập vật, tiền suất về thuế điền mà chi dùng. Nay ở bộ đã cấp tiền công nhu thì những khoản tiền kia, xin nộp vào kho. Các địa phương cũng theo như thế mà làm”.
    Vua theo lời tâu. Sai đình thần chiếu theo các nha phiền hay giản mà cấp tiền công nhu khác nhau. (Các tào thuộc Gia Định, Bắc Thành, cấp tiền giấy, bút mực, dầu, chiếu mỗi năm đều 450 quan : Cục Tạo tác hai thành đều 50 quan, cấp thêm dầu mỗi đêm 8 lạng ; Thừa Thiên, Quảng Nam, Thanh Hoa, Nghệ An, Bình Định, Nam Định, đều 300 quan ; Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Vĩnh Thanh, Phiên An, Định Tường, Sơn Nam, Bắc Ninh, Sơn Tây, Hải Dương, đều 250 quan ; Phú Yên, Bình Hoà, Bình Thuận, Biên Hoà, Ninh Bình, đều 200 quan ; Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Yên, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hưng Hoá, Hà Tiên, đều 150 quan. Tiền thẻ tre, tiền lạt xâu, cứ thu thóc 1 vạn hộc, tiền 1 vạn quan thì đều cấp 10 quan).
    Bắc Thành tâu án hung phạm giết nhiều người, cho hành hình ngay. Vua dụ bộ Hình rằng : “Bây giờ đến tiết dương sinh(() Dương sinh : tháng 11 là tháng khí dương mới sinh.) mới đem án ấy đệ tâu, nếu chiếu theo lệ thường mà hoãn hành hình thì kẻ phạm tội hung tàn được hoãn giết lâu, có khi trốn mất, khó tỏ được sự giết hiển nhiên mà răn về sau, cho nên bất đắc dĩ giáng chỉ hành hình ngay, thực là lỗi vì thành thần để chậm. Nên truyền chỉ quở và bảo về sau có án nặng như thế thì phải bắt ngay nhân chứng mà xử gấp tâu ngay, đợi chỉ hành hình, nếu để chậm thì sẽ can lại nghị (() Lại nghị : do quan, tức đình thần bàn để luận tội của quan lại làm trái.)”.
    Khởi phục cho Nguyễn Khả Bằng làm Hiệu uý vệ Cẩm y. (Bằng trước làm Trấn thủ Biên Hoà, có lỗi phải cách chức).
    Cho biền binh hạ ban của hai vệ Long thao và Hổ lược về Gia Định thăm nhà.
    Hiệp trấn Biên Hoà là Nguyễn Minh Châu vào chầu. Vua hỏi về tình hình nghề nông và mưa nắng những nơi đi qua. Đáp rằng : “Trời nắng nhiều, ruộng nương thu hoạch đã được một nửa”. Vua nói : “Giữa mùa đông mà rét lại nắng, như vậy thì tốt cho khánh lễ đấy. Nhưng mùa đông mà lại ra khí tiết mùa hạ, như dân ta ốm đau thì sao ? Trẫm vẫn lo đấy”.
    Chuẩn định tự nay việc phong tặng quan viên đổi về chức vụ của bộ Lại. Lệ trước do bộ Lễ làm. Sung Tổng tài việc sửa định chức chế là Nguyễn Hữu Thận đem việc ấy tâu nên mới đổi như thế.
    Cho con Nguyễn Hoàng Đức là Nguyễn Hoàng Thành lạy ra mắt ở điện Võ Hiển. Trước vua thường khen tiết tốt của Hoàng Đức, người làm tôi khó có ai bằng, nên cho dòng dõi được vẻ vang. Đến khi Lê Văn Duyệt vào chầu, vua hỏi con Hoàng Đức có mấy người dùng được. Đáp rằng : “Con trưởng là Hoàng Nhân không giống cha, con thứ là Hoàng Thành biết giữ phép nhà, đã tuyên triệu về Kinh rồi”. Bèn sai Phan Văn Thuý dẫn Thành vào chầu. Vua bảo Thuý rằng : “Thành tính thuần phác, ngươi nên dạy bảo mà gây dựng cho nó”. Nhân ban cho quần áo.
    Tù trưởng ba man Cam Cát, Cam Muộn, Phàm Linh, châu Trịnh Cao, phủ Ngọc Ma, trấn Nghệ An đến dâng phương vật (Cam Cát, Cam Muộn mỗi man 1 thớt voi, 2 cái sừng tê, 1 đôi ngà voi, 4 cân sáp vàng, 4 tấm phá man ; man Phàm Linh 2 cái sừng tê, 1 đôi ngà voi, 2 tấm phá man, 4 khối sáp vàng), khẩn xin phụ thuộc để nộp thuế. Ba man này trước thuộc bản đồ nước ta, cứ ba năm cống một lần. Từ đời Gia Long giao cho Vạn Tượng, đến khi Vạn Tượng thua, bị nước Xiêm quấy rối, bèn dẫn nhau về với nước ta. Trấn thần Nghệ An đem việc tâu lên. Vua chuẩn y lời bàn của đình thần, đổi man Cam Cát làm huyện Cam Cát, man Cam Muộn làm huyện Cam Môn, man Phàm Linh làm huyện Cam Linh, cho Tù trưởng Cam Cát là lang Khâm Lan làm Thổ tri huyện, lang Khâm Vu làm Thổ huyện thừa, Tù trưởng Cam Môn là lang Khâm Định làm Thổ tri huyện, lang Khâm Pha làm Thổ huyện thừa, Tù trưởng Cam Linh là lang Khâm Quyết làm Thổ tri huyện, lang Khâm Xán làm Thổ huyện thừa, đều cấp cho ấn đồ ký đồng và kiềm gỗ. Dụ cho trấn thần truyền chỉ khen và yên ủi, thưởng cho bạc lạng mà trả lại đồ dâng. Còn lệ cống thì đợi sang năm sẽ bàn.
    Sai Viên ngoại lang Hộ bộ là Lê Đan Quế làm Đổng lý thanh tra thành Gia Đinh, sai thuộc ty sáu bộ chia nhau đi thanh tra các trấn từ Bình Định vào Nam.
    Vua thấy năm nay gặp tiết Lục tuần đại khánh của Hoàng thái hậu, trước sai bộ Lễ khảo xét điển lễ mà bàn tâu. Bộ thần cho rằng : Nhà nước ta đã được trời thương, phước lộc rộng lớn. Hoàng thái hậu khoẻ mạnh, phước tốt tuổi cao. Hoàng thượng kính vâng lòng mẹ, cử hành khánh điển, tự nay về sau cứ mỗi năm làm một tiết, để cho cả nước đều mừng, sử sách thêm sáng. Đến như khắc ngọc đúc vàng, tôn dâng huy hiệu, thì đợi thứ sau cử hành, để rõ đức sáng”.
    Vua theo lời bàn. Sai Hữu ty làm rạp hoa ở tả hữu nhà Duyệt Thiện, dựng lầu hoa ở trước sân trong cửa Tiên Thọ, ở tả hữu thì dựng rạp hoa ; lại dựng rạp hoa ở sân điện Cần Chính và nhà yến ở trước lầu Phu Văn.
    Định nghi tiết (Hằng năm tiết Thánh thọ vua dâng 20 lạng vàng, 200 lạng bạc, nay dâng thêm các thứ châu ngọc và đồ chơi quý ; các Hoàng tử tước công, Tôn Nhân phủ, các quan văn võ, lệ tiến bạc 120 lạng, nay dùng 20 lạng vàng, cùng các thứ gấm, đoạn, sa trừu, the, lụa. Các thành trấn cùng các cống man thuộc quốc thì tuỳ phương vật thổ nghi, hoặc kỳ nam, trầm hương, sừng tê, cùng gấm vóc các thứ).
    Chế bài nhạc, lại chọn hơn 60 người ca công ở Bắc Thành và Thanh Nghệ cùng các trò chơi, hơn 20 người nhạc công Chân Lạp và Cam Lộ, đều đến họp ở cửa khuyết để diễn ca nhạc.
    Ban các điều cấm răn cùng nhật kỳ treo đèn cho trong ngoài (Trước chính tiết 7 ngày và sau 2 ngày, cộng 10 ngày, cấm xét hình ; trước 3 ngày, sau 1 ngày, cộng 5 ngày, cấm sát sinh ; 5 đêm ấy các nhà quan quân dân đều treo đèn ở trước cửa).
    Ngày Bính thìn (trước ngày đại khánh 10 ngày), tự ngày ấy đến ngày chính tiết, các quan theo ban chầu hầu cùng làm việc ở công sở đều mặc áo đẹp. Vua hằng ngày mặc triều phục đến cung Từ Thọ, coi bữa ăn, tự mình quỳ xuống dâng thìa đũa. Hoàng thái hậu dụ rằng : “Dâng cơm đưa đũa đã có cung tì, nội thị, hoàng đế không cần phải tự khó nhọc”. Vua tâu rằng : “Người thiên hạ đều phải chạy vạy làm ăn, không được nuôi cha mẹ, duy một mình con được phụng dưỡng dưới gối. Phải như thế mới yên lòng chút đỉnh”.
    Hoàng thái hậu nhân hỏi : “Cử hành khánh điển trong ngoài có vui không ?”.
    Vua tâu rằng : “Quan dân đều chịu ơn lớn, không lấy chạy vạy làm khó nhọc, dâng phương vật là để tỏ lòng thành, nhân tình đều thoả thích cả”.
    Bày trò chơi leo dây, trèo thang ở trong cửa Tiên Thọ. Vua rước Hoàng thái hậu ngự trên lầu hoa để xem.
    Bộ Lễ dâng sách kê phương vật các địa phương dâng mừng. Vua nói : “Kỳ nam, tê giác, sa the, các phẩm vật ấy đều là thổ ngơi, tự đủ để tỏ lòng thành, Bắc Thành dâng vàng, không khỏi phải đi mua, trả lại”.
    Các thổ ty Bắc Thành, Thanh Hoa, Ninh Bình là bọn Phòng ngự sứ Quách Công Nguyên, Thổ tri phủ Lưu Trọng Chương, Thổ tri châu Phạm Thiên Thạch, 14 người, đem phương vật dâng. Vua bảo rằng : “Các ngươi đã thuộc vào trấn đạo, không như cống man thuộc quốc, phương vật sở tại ; các ngươi có dự cả, can gì phải dâng riêng. Vậy miễn cho”. Ban cho mỗi người một bộ mũ áo thường triều.
    Nước Chân Lạp sai sứ dâng lễ mừng. (Đậu khấu, sa nhân, cánh kiến, mỗi thứ 50 cân, ngà voi 2 chiếc, tê giác 2 tảng, lộc nhung 2 đôi, lụa màu 20 tấm) cùng lễ cống hằng năm. Thưởng mũ áo đại triều Tứ phẩm võ giai cho Chánh sứ Nhâm Lịch Đột, mũ áo thường triều Lục phẩm giai cho Phó sứ Phạt Kha Đê Na đốc biện cùng quần áo chăn đệm mùa rét.
    Các man 7 sách Cam Lộ, 3 động Lạc Hoàn dâng lễ mừng thọ (7 sách Cam Lộ : ngà voi 12 chiếc, sừng tê 5 tảng, nhung hươu 2 đôi ; 3 động Lạc Hoàn : mỗi động 4 chiếc ngà voi, một tảng sừng tê).
    Quốc trưởng Vạn Tượng là A Nỗ dâng biểu nói rằng nước ấy xiêu dạt, đã được miễn lễ thường. Xin đem đồ của đời trước để lại là 1 đôi nhẫn vàng, 23 hòn ngọc kính dâng lễ mừng. Trấn thần Nghệ An đề đạt lên. Vua không nhận. Dụ rằng : “Một tấm lòng thành của ngươi, ta đã rõ rồi. Duy nhà nước chỉ quý người hiền tài, dẫu có ngọc châu sáng như mặt trăng, ngọc bích soi sáng mười hai xe, cũng không quý gì, nữa là những thứ đá vũ phu ấy”.
    Thưởng tiền cho các lính thợ làm lầu rạp hoa, theo thứ bậc.
    Vua nhân bảo bộ Lễ rằng : “Sân điện Cần Chính đã cho làm giàn hoa để làm chỗ ăn yến. Trẫm nghĩ lễ yến hưởng các đế vương đời trước phần nhiều làm ở trên điện. Nay lòng điện rộng rãi, can gì phải làm rạp cho nhọc nhân công. Từ nay gặp ngày khánh điển thì cho yến ở trên điện là được rồi”.
    Ngày ất sửu, đem việc lễ đại khánh kính cáo điện Hoàng Nhân. Đêm ấy nhà vua làm bài thơ “Đông dạ hữu cảm”(() Cảm xúc đêm đông.). Buổi chầu sớm đem cho quần thần xem, nhân nhỏ nước mắt nói rằng : “Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta mở rộng đất nước, thống nhất cõi bờ, công dày đức tốt muôn phần ta không theo được một phần. Năm tháng thọ gần 60 tuổi, ta định đợi đến năm Tân tỵ thì xin làm khánh điển, không ngờ đỉnh đúc xong rồng bay đi(() Điển vua Hoàng đế khi đúc xong cái đỉnh ở Kim Sơn thì cưỡi rồng bay đi.), gào khóc không kịp, nói đến thường đau lòng, cho nên làm bài thơ ấy để tỏ nỗi lòng ta chưa thoả. Dẫu đạo hiếu của đế vương là ở chỗ nối chí theo việc dựng đặt kỷ cương, để lưu truyền về sau, không những chỉ tiết văn thôi, nhưng làm con thờ cha mẹ, phải có lễ ấy mới khỏi hối hận. Nay gặp tiết Lục tuần đại khánh của Hoàng thái hậu dâng rượu chúc thọ, tuy chưa đủ để báo đáp ơn sâu, nhưng lòng người làm con, cũng nhân thế mà hả được một chút”.
    Vua rước Hoàng thái hậu ngự lầu hoa, sai nhạc công dâng điệu múa Trinh tường và tấu nhạc man ở trong cửa Tiên Thọ (bắt đầu là Cam Lộ, Chân Lạp, đến Vạn Tượng là hết).
    Ban yến cho các Hoàng tử tước công, các quan văn võ ở nhà tả, nhà hữu trong cửa Tiên Thọ.
    Ngày Mậu thìn, làm lễ đại khánh. Vua đội mũ cửu long, mặc áo hoàng bào đai ngọc đem các Hoàng tử tước công, các quan văn võ đến cung Từ Thọ dâng tờ kim tiên và lễ phẩm chúc thọ (Một thoi ngọc Như ý sắc xanh “Thánh thọ vạn niên”, một hòn ngọc Kim cương to bằng đầu ngón tay “Thọ khảo kiên trinh”, 10 chi nhân sâm “Thọ phẩm diên linh Đông quan thượng phẩm” một bộ rượu thọ, một đôi sừng tê “thọ phẩm” hoa to dài mà bịt vàng, một đôi bình sứ vẽ vàng cắm hoa “Thánh thọ trường xuân” và lồng pha lê chụp trên, một toà thọ đài bằng vàng khắc mây phượng và khảm ngọc trai, một cây trầm hương “thọ phẩm” cao lớn, tháp phật chín tầng bằng đá trắng chạm rất khéo, trong có 9 pho tượng “Vô lượng thọ phật, kim thân bất hoại”(() Vô lượng thọ phật : Phật sống lâu không tính đếm được. Kim thân bất hoại : thân bằng vàng không nát.), một đôi bình phong thọ bằng lông trả, khảm ngọc trai, trang sức hoa điểu. Các rương hòm để ở trên án vàng hai bên tả hữu. Hòm biểu tâu việc cùng rương lễ phẩm của các Hoàng tử tước công Tôn Nhân phủ, các Công chúa, Trưởng công chúa, phụ nữ tôn thất, các quan văn võ cùng hòm tiền mừng và rương lễ phẩm của các thành, trấn đạo thì trên án đỏ trong rạp hoa ở hai bên tả hữu nhà Duyệt Thiện. Hòm tiền mừng và rương lễ phẩm của các thuộc quốc và cống man thì để trên án đỏ trong rạp hai bên tả hữu lầu hoa. Đều để lên trên án đỏ). Dâng thọ ba tuần : “Tuần thứ nhất Kiến An công Đài, Điện Bàn công Phổ ; tuần thứ hai Định Viễn công Bính, An Khánh công Quang ; tuần thứ ba Hoàng trưởng tử và Hoàng tử Miên Nghi bưng be rượu vàng và bưng chén vàng”.
    Tấu năm bài nhạc (Lúc rước Hoàng thái hậu lên toà, tấu bài nhạc “Sùng khánh”, vũ sinh múa trống gõ sinh tiền, gảy đàn tranh đàn nguyệt, đàn tỳ bà, thổi sáo, đánh đàn ba dây, đàn hai dây ; dâng thọ tuần thứ nhất, tấu bài nhạc “Tập khánh”, múa cành hoa xanh ; tuần thọ thứ hai tấu bài nhạc “Chương khánh”, múa cành hoa đỏ ; tuần rượu thứ ba, tấu bài nhạc “Bảo khánh”, múa cành hoa vàng ; lễ thành, tấu bài nhạc “Thành khánh”, múa quả đào tiên. Sứ thần các thuộc quốc, tù trưởng các cống man thì do bộ Lễ dẫn vào trước sân lầu hoa để dâng lễ mừng. Kỳ lão tôn thất, học sinh tôn thất, công tính, họ Trần, đều lạy mừng ở trước sân lầu hoa. Kỳ mục Quý hương, Quý huyện, nhân viên xã Văn Xá, Giám sinh toạ Giám, kỳ lão Thừa Thiên, họ Lê, họ Trịnh, đều lạy mừng ở ngoài cửa Tiên Thọ. Đội Trung hầu bắn súng mừng chín tiếng. Công chúa, Trưởng công chúa, cung tần triều trước, các công nữ, thiếp của các Hoàng tử tước công, phụ nữ tôn thất mệnh phụ các quan văn võ, thì do Nội giám dẫn vào lạy mừng).
    Trong thì các quan lớn nhỏ các người làm việc, ngoài thì thổ ty các thuộc quốc và cống man, ai cũng vui mừng kính cẩn.
    Lễ xong, vâng lệnh chỉ Hoàng thái hậu ban yến cho Công chúa trở xuống ở nhà Duyệt Thiện cùng ở tả hữu trong lầu hoa. Lại phát của trong cung thưởng cho thân công cùng người họ ngoại theo thứ bậc (thân công 4.000 quan tiền, các Trưởng công chúa 5.500 quan tiền, các con gái Hoàng tử 10.000 quan tiền, cung tần triều trước 1.000 quan tiền, con trai con gái các tước công 1.000 quan tiền, đàn ông đàn bà, già trẻ tôn thất 5.000 quan tiền, thiếp của các tước công 500 quan tiền, mệnh phụ các quan văn võ 1.000 lạng bạc, họ Trần 1.000 quan tiền, xã Văn Xá 500 quan tiền, họ Lê Xuân xã Ba Nguyệt 300 quan tiền, xã Ba Nguyệt 200 quan tiền).
    Ngày Kỷ tỵ, ban đại yến cho các Hoàng tử tước công và các quan văn võ từ tam phẩm trở lên cũng quan ngoài đến Tham hiệp ở điện Cần Chính.
    Trước kỳ hai bộ Lại, Binh làm sách kê tên. Lấy Đô thống chế dinh Long võ là Phan Văn Thuý, Hữu thống chế Thị trung là Thân Văn Cường sung chức Hậu hỗ đại thần, lấy Thống chế Tượng quân là Phạm Văn Điển, thự Tả thống chế Thị trung là Nguyễn Văn Trọng sung chức Tứ tửu thị vệ, lấy Vệ uý là Vũ Văn Từ, Nguyễn Xuân 8 người sung chức Tiền đạo thị vệ, bọn Phạm Viết Thục, Nguyễn Văn Hoà 4 người sung chức Báo vĩ thường thị vệ, Viện sứ Nguyễn Trọng Tính, Phó vệ uý Vũ Văn Giải sung chức Tỉnh thị ngự thiện thị vệ, Văn thư phòng là Thân Văn Quyền, Phan Đình Sĩ, Tôn Thất Gia sung chức Khởi cư chú.
    Ngày hôm ấy, vua ngự điện Cần Chính. Các Hoàng tử tước công, các quan văn võ, dự yến đều mặc triều phục chầu yến. Hoàng tử Miên Định, Hoàng thân Kiến An công Đài, đại thần quận công Lê Văn Duyệt, theo thứ tự dâng rượu. Múa bát dật. Lễ xong, ban thưởng theo thứ bậc.
    (Các người chấp sự cùng Hoàng tử tước công dâng thọ đều thưởng mỗi người một cuốn sô sa, 3 tấm sa ; văn võ đại thần dâng thọ mỗi người một cuốn sô sa,
    2 tấm sa ; các Hoàng tử tước công dự yến, mỗi người 3 tấm đoạn, 3 tấm sa, 1 tấm đệm. Văn võ Chánh nhất phẩm quận công mỗi người 4 tấm đoạn, 2 tấm sa ; Chánh nhất phẩm 3 tấm đoạn, 2 tấm sa ; Tòng nhất phẩm, Chánh nhị phẩm, mỗi người 2 tấm đoạn, 2 tấm sa, Tòng nhị phẩm 1 tấm đoạn, 2 tấm sa ; Chánh tòng tam phẩm, mỗi người 1 tấm đoạn, 1 tấm sa, 1 cuốn nhỏ trừu.
    Các quan tứ ngũ phẩm cùng quan viên hưu trí, nhân viên Văn thư phòng, Thổ ty các trấn, các đạo, đều dự yến ở nhà Phu Văn lâu (Chánh tứ phẩm thưởng 6 lạng bạc, Tòng tứ phẩm 5 lạng bạc, Chánh tòng ngũ phẩm đều 4 lạng bạc ; quan hưu trí, Chánh nhị phẩm, 13 lạng bạc, Tòng nhị phẩm 11 lạng bạc, Chánh tam phẩm 10 lạng bạc, Tòng tam phẩm 8 lạng bạc, Chánh tòng tứ phẩm thưởng cũng như trên ; Văn thư phòng, Tòng lục phẩm trở xuống thưởng mỗi người một tấm trừu nam, một tấm sa nam ; Thổ ty mỗi người 1 tấm sa, 1 tấm đoạn).
    Thuộc quốc và cống man dự yến ở xưởng Tả đại tướng quân. Phẩm vật thưởng theo lệ và gia thưởng đều ban cấp ở trước sân điện Càn Nguyên. Quốc vương gia thưởng Chân Lạp 5 cây đoạn màu, 5 tấm tơ vũ đỏ, 2 cuốn sô sa đỏ, 20 tấm sa màu, 40 tấm the màu ; Chánh phó sứ mỗi người 10 lạng bạc, sa màu lụa màu mỗi thứ 3 tấm ; sai trưởng 7 sách man Cam Lộ, mỗi người 5 lạng bạc, 1 cây gấm Tống, sa lụa mỗi thứ 3 tấm ; Trưởng man Lạc Hoàn, 2 cây gấm Tống, 2 tấm tơ vũ đỏ, 2 cuốn sô sa màu ngọc lam, 10 tấm trừu màu, 20 tấm sa màu ; Trưởng man Ba Động, 2 tấm tơ vũ đỏ, 1 cuốn sô sa màu ngọc lam, 15 tấm sa màu.
    Những kỳ hào tôn thất nhàn tản viên nhân công tính, họ Trần, Quý hương, Quý huyện, xã Văn Xá, họ Lê Xuân, xã Ba Nguyệt, vâng riêng lệnh chỉ Hoàng thái hậu cho yến ở nhà tả hữu trong cửa Tiên Thọ ; các quan văn võ tự Tòng ngũ phẩm trở xuống, ai có tang không dự yến, cũng chiếu phẩm thưởng cho lụa màu, bạc lạng theo thứ bậc.
    Ngày Canh ngọ, vua ngự điện Thái Hoà nhận lễ chầu mừng, xuống chiếu bố cáo cho trong ngoài. Chiếu rằng : “Thánh nhân lập giáo, chuộng hiếu để trọng nhân luân, ngôi vua ở đầu, góp phước để ban cho thiên hạ. Bởi phước tất về người có đức, mà chí hiếu chẳng gì hơn việc tôn thân. Kính nghĩ Thánh mẫu Hoàng thái hậu ta, dòng cả để thơm, dung nghi nên tốt. Khi Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta ra oai thần võ, vân lôi bước gian nan, nhờ có Mân hậu(() Mân hậu : mẹ vua Thiếu Khang nhà Hạ, lúc Hậu Nghệ làm loạn, bà ấy có thai, chạy sang nước Hữu nhưng đẻ ra vua Thiếu Khang, sau Thiếu Khang phục quốc.) vượt qua ; vâng lời răn trâm nhị(() Trâm nhị : Khương hậu, vợ vua Tuyên Vương, vì vua ra chầu muộn, bà ấy rút cái trâm và cái vòng tai ra đứng ở ngõ Vĩnh Hạng, phàn nàn rằng vì tôi mà vua ra chầu muộn. Vì thế sau vua ra chầu sớm.), tiếng tốt Hợp Vị còn mãi. Đầu gây vương hoá(() Vương hoá : giáo hoá của đế vương.), để phép tắc cho cháu con, dạy bảo mình ta, tỏ tài năng về học tập. Phước đầy đàn như Lân Chỉ, Chung Ty(() Lân Chỉ, Chung Ty : thơ Lân Chỉ nói về con khá, thơ Chung Ty nói về cháu nhiều.). Đức dọi sáng như ngọc uyển, ngọc diễm(() Ngọc uyển, ngọc diễm : ngọc tốt, ví như đức tốt đàn bà.), đọc thơ theo lễ, nhân kiểm nên gương. Chuốt ngọc lau vàng hiền lành để phước lượng rộng rãi ví như đất chở, công giữ gìn nhờ được trời che. Điện quế xuân nông cõi thọ muôn năm dần tới. Thềm huyên trăng sáng, tuổi hoa sáu chục(() Tuổi hoa : hoa giáp là tuổi đúng một giáp là sáu chục năm.) vừa tròn. Mừng nay lại gặp ngày sinh, mượn yến Dao trì(() Dao trì : chỗ tiên ở.) ; vui thấy thẻ tuổi, chứa đầy Hải ốc(() Hải ốc : ông tiên nhà ở biển. Việc hỏi tuổi, ông nói mỗi lần biển làm ruộng dâu hạ thì hạ thẻ, nay đã 10 thẻ.). Phước lộc rộng lớn ; nguồn gốc sâu xa. Vâng trời đất cao dày cho phước, để tổ tông Xã Tắc cùng phu. Ta nay, nối vân thắm tươi, gần gương sáng tối. Xem đồ sử nhà Chu, lấy một hiếu làm gốc ; nghe quân, thiều điện Hán(() Quân là nhạc vua Nghiêu, thiều là nhạc vua Thuấn.), họp đã chín châu làm vui. Khánh tiết gặp tuần ; lễ nghi bèn cử. Lấy ngày 24 tháng này, kính cáo điện Hoàng Nhân. Ngày 27, thân đem các quan dâng tờ kim tiên, làm lễ chúc thọ. Tôn vinh gồm đủ ; nghi điển huy hoàng. Họp trăm quan văn võ để hoan hô ; hợp các nước xa gần mà chúc phước. Rộng suy lòng hiếu, đã ban ơn tự buổi đầu xuân ; lại xuống phước nhiều, mà thi huệ về ngày Đông chí. Tỏ bày lễ lớn, dội thấm ơn sâu gồm có 7 điều :
    1. Các quan văn võ ở Kinh từ tứ phẩm trở lên, các quan ngoài từ tam phẩm trở lên, cùng Tham hiệp các trấn đạo đều thưởng gia 1 cấp ; các quan chức lớn nhỏ trong ngoài, ai có lầm lỗi không cứ tội công hay tội tư mà phải giáng lưu, đều chuẩn cho khai phục 1 cấp.
    2. Quan Kinh từ ngũ phẩm trở xuống, quan ngoài tứ phẩm trở xuống, người nào có bổng lệ thì thưởng cho tiền bổng 2 tháng, người chưa có bổng lệ, thì thưởng tiền bổng 1 tháng.
    3. Các quan văn võ trong ngoài từ tam phẩm trở lên, chiếu phẩm của con mà phong tặng cho cha mẹ khác nhau.
    4. Các thành phủ trấn đạo, phàm tiền lương vật sản thuế lệ còn thiếu tự năm Minh Mệnh thứ 4 về trước, đều miễn cho cả.
    5. Vị nhập lưu thư lại cùng binh lính và thợ ở Kinh đều thưởng mỗi người 1 quan tiền.
    6. Quan viên trong ngoài, nhân lầm lẫn việc công bị xử phạt bổng, đều tha chocả.
    7. Nhân viên Cống sinh, Giám sinh tọa giám đều thưởng tiền lương một tháng. Than ôi ! Lịch giáp mở điềm tượng trưng tuổi thọ Tiên đào đặt tiệc dâng chúc chén mừng. Cung Vạn An(() Cung Vạn An : cung cha mẹ vua ở.) ngày tháng thảnh thơi, mình nhỏ mọn riêng nhờ phước cả ; ao Thái Dịch(() Ao Thái Dịch : ao ở trước cung điện nhà vua.) móc mưa thấm thía, cả thần dân cùng đội ơn to.
    Trước đây trời tạnh sáng lâu, đến khi lễ đại khánh xong mây đen sầm lại, mưa ngọt trút xuống. Đến lúc ban ân chiếu, trời tạnh sáng, trong ngoài vui mừng, đều cho là hiếu đức cảm động đến trời. Vua ung dung bảo bầy tôi rằng : “Khánh điển cử hành, mưa tạnh trúng lúc không phải sức người làm được. Trẫm đội ơn trời nghĩ càng kinh sợ. Nhưng việc này không những trên dưới vui lòng mà cũng đủ cho người ngoài chiêm ngưỡng”.
    Tháng 12, cho quan văn từ Viên ngoại lang, võ từ Phó vệ uý trở lên, họp cả ở nhà Duyệt Thị, xem diễn tuồng 3 ngày. Lại diễn tuồng ở lầu Phu Văn. Xen vào đó có nhạc công các rợ Man và các trò tạp kịch cho sĩ dân đến xem.
    Ban hàng tơ cho các quan thành trấn đạo. Dụ rằng : “Ngày nay là khánh điển, những người theo ban chúc thọ, đều được thưởng cả. Ta nghĩ đến các quan ở thành trấn đạo làm việc khó nhọc ở ngoài, há lại bị hạn chế ơn huệ. Vậy ban cho sa đoạn theo thứ bậc”.
    Tặng thêm cho cha Lê Văn Duyệt là Lê Văn Toại làm Đô thống hàm Tòng nhất phẩm, mẹ là Nguyễn thị làm Nhất phẩm phu nhân. Toại trước đã tặng Thống chế hàm Chánh nhị phẩm, lần này ân điển, lệ không được dự. Vua nghĩ Duyệt là tôi cũ có công lao danh vọng, cho nên đặc cách ban ơn.
    Gia hàm Hiệp biện Đại học sĩ cho Thượng thư Binh bộ hưu trí là Nguyễn Đăng Hựu. Hựu tuổi ngoại 80, mới rồi đến Kinh, vua triệu vào ra mắt, cho ngồi hỏi han. Dụ rằng : “Ngươi được thờ tiên triều, trải qua văn giai, võ giai, giữ mình không có lỗi. Vừa rồi vì già yếu về hưu, nay gặp khánh tiết còn gắng sức vào mừng, lòng thành đáng khen”. Ban cho bài thơ ngự chế và quần áo chăn đệm cùng 100 quan tiền. Đến bấy giờ thăng thưởng hàm ấy. Hựu muốn lưu đến tết Nguyên đán để chầu mừng. Vua lại dụ rằng : “Ngươi tuổi già nua, ở lâu nhà trọ không phải ý ta ưu đãi người lão thần như thế. Vả nghe ngươi còn con bé, nên về mà dạy bảo nó. Trẫm sẽ lượng bổ để khuyến khích người trung thần”. Bèn khiến sai lính đưa về làng. Cho 200 quan tiền.
  • Chia sẻ trang này