0059.070 - purewater110 (done-GD)-[team 02]

11/12/15
0059.070 - purewater110 (done-GD)-[team 02]
  • PDF
    GoogleDocs
    :rose:

    :rose::rose::rose:
    Thưởng cho Chưởng cơ hưu trí là Nguyễn Văn Hưng 100 quan tiền. Cho Chánh sứ Chân Lạp là ốc Nha Nhâm Lịch Đột họ Kim. Nhâm Lịch Đột là người quan phiên đắc lực trong việc đào sông Vĩnh Tế năm trước. Lê Văn Duyệt đã khen với vua. Đến bấy giờ cho ra mắt ở điện Cần Chính, Nhâm Lịch Đột tâu nói rõ ràng, nhà vua khen tốt, đặc cách cho thư đóng ấn ngọc cho họ là họ Kim. Đến lúc về, vua lại dụ trước mặt rằng : “Ngươi về nói với phiên vương rằng nay ngươi được ơn săn sóc là vì việc đào sông năm trước, đã vì triều đình ra sức đó cũng là do phiên vương biết người khéo dùng ; thưởng ngươi tức là thưởng phiên vương đấy. Ngươi biết cùng bọn đồng liêu giúp phiên vương, khiến cho trên dưới hoà thuận việc nước chỉnh đốn, tức là trung với triều đình”. Đột về nước, không bao lâu ốm chết. Sai Gia Định đem cho 100 lạng bạc.
    Ban thưởng bạc và hàng tơ cho các thuộc quốc và cống man Chân Lạp, Cam Lộ, Ba Động, Lạc Hoàn, rồi bảo về.
    Vua thấy khánh điển đã xong, thưởng cho đường quan Lễ bộ là Phan Huy Thực, Đoàn Viết Nguyên, Hồ Hữu Thẩm, Hà Quyền, kỷ lục đều 1 thứ, cùng thưởng bạc lạng cho các viên dịch ở bộ theo thứ bậc.
    Hữu Thị lang Hình bộ Hình tào Bắc Thành là Vũ Xuân Cẩn nghỉ tang cha, gặp việc kẻ lại ở tào tiêu mất tiền tuất của dân bắt giặc, bị tội thất sát(() Thất sát : không xét ra được.) phải giáng Lang trung, đợi hết hạn nghỉ sẽ bổ.
    Đổi bổ Hiệp trấn Nam Định là Nguyễn Hựu Nghi làm Tả Thị lang Hình bộ, lĩnh Hình tào Bắc Thành.
    Biền binh quân Thần sách Thanh Nghệ đổi thú ở Bắc Thành, lệ không được thưởng thêm, mùa đông năm ngoái, nhân có việc bắt giặc, thưởng mỗi người 1 quan tiền, đến bấy giờ Thanh Hoa cắt lính đi thú lại cấp tiền thưởng rồi đem việc ấy tâu lên.
    Vua bảo bộ Hộ rằng : “Việc đặc ân không phải là lệ thường. Thanh Hoa viện lấy làm lệ, đã không đúng, Nghệ An im không tâu xin, cũng không đúng. Vậy đều truyền chỉ quở trách mà truy thưởng cho lính thú Nghệ An [vì có công bắt giặc]. Sau này đến kỳ đi thú phải đem việc xin chỉ trước mới phải".
    Đặt cho ty Thừa biện ở Bắc Thành 1 viên Chủ sự, 2 viên Tư vụ, 2 viên Chánh bát phẩm thư lại, 4 viên Chánh cửu phẩm thư lại, 30 viên Vị nhập lưu thư lại, theo quan Bắc Thành giữ từ chương việc công, chọn người ở ty Văn hàn thuộc thành mà bổ vào ; Vị nhập lưu thư lại còn thừa thì cho về quê.
    Đặt lệ cấp kỷ trác dị. Vua dụ rằng : “Gia cấp kỷ lục là để khuyến khích người có công. Tự trước đến giờ, cấp kỷ trác dị chưa từng bàn đến. Nhân nghĩ việc thưởng công là điển lớn trong việc chính trị việc ấy cần làm trước, há để thiếu sót”. Sai đình thần bàn lại. Đều cho rằng trác dị phải là việc chính việc dân xuất sắc lắm. Nhưng tìm được những việc sâu keo không vào hạt, bông lúa có hai nhánh như người đời xưa gọi là quan địa phương tốt thì khó lòng có được.
    Duy ai hay khiến chính sự công bằng, hình phạt đích đáng, trộm cướp im tắt, dân được ở yên, làm quan có tiếng tốt thì thưởng để khuyến công đó, thực là phép lớn không thể thiếu được, cho nên năm trước Nguyễn Văn Hiếu vì chính tích khả quan nên đặc cách khen thưởng. Kính xét lệ tiến cử trác dị của nhà Thanh ; phàm người trong chức vụ không có xử án bậy, không hao hụt gạo bạc trong kho, nhân dân trong hạt mỗi ngày thêm khởi sắc thì mới có thể được chọn là bậc trác dị. Còn những hư văn khác đều không được dự. Xin từ sau này các viên ở trấn đạo phủ huyện làm việc đã mãn 3 năm, mà có thực trạng như trên có thể chỉ ra được thì do thượng ty xét thực, chỉ tên tiến cử, giao bộ dẫn vào yết kiến, lượng thưởng cấp kỷ trác dị để nêu đặc biệt (1 cấp trác dị bằng 4 cấp tầm thường, 2 cấp quân công ; 1 thứ kỷ lục trác dị bằng 4 thứ kỷ lục tầm thường, 2 thứ kỷ lục quân công).
    Việc nào được thăng chức thì chiết trừ đi.
    (Lấy 1 cấp trác dị đổi làm 4 cấp tầm thường, cùng kỷ lục mấy thứ thì chiếu cấp được thăng mà trừ ; còn thừa trả về cấp kỷ tầm thường).
    Đối điệu với các viên theo tội công phải giáng phạt thì vẫn phân biệt trừ đi (Như bị giáng 1 cấp, đem 1 cấp trác dị đổi làm 4 cấp tầm thường, lấy 1 cấp trừ đi ; kỷ lục 1 thứ cũng trừ giáng 1 cấp ; phạt bổng 6 tháng thì đem 1 cấp trác dị, đổi làm 4 cấp tầm thường, lấy 1 cấp chiết làm 4 thứ, 1 thứ kỷ lục trác dị đổi làm 4 thứ tầm thường, mỗi thứ trừ được 6 tháng phạt bổng. Ngoài ra cứ theo đó mà suy).
    Đến như quan viên văn võ ở Kinh và ở Gia Định, Bắc Thành, cùng các quan trấn đạo ở Bình Thuận về Bắc từ Ninh Bình về phía Nam, viên nào có trác dị nên khen nhắc lên, thì đều do tự vua đặc biệt chọn.
    Làm dãy nhà ở hai bờ Nam Bắc cầu Vĩnh Lợi (332 gian). Sai bộ Hộ tư các địa phương, chọn những người Minh Hương có vật lực sung làm phố hộ.
    Sai Bình Thuận đóng thuyền biển hạng nhỏ 10 chiếc.
    Đặt 9 châu và 15 tổng ở đạo Cam Lộ. Trước kia vua sai trấn thần Quảng Trị triệu tập tù trưởng các man đến dụ rằng : Triều đình oai đức rộng xa. Gần đây đất mới Trấn Ninh dâng bản đồ sổ sách, đều đã chia đặt phủ huyện, ban cho sắc mệnh, đủ làm vẻ vang. Huống chi các man bọn ngươi cung nộp cống thuế hơn 200 năm, mà lại không bằng những người mới phụ hay sao ? Bấy giờ các man đều đem sổ đinh điền dâng nộp (đinh 10.793 người, ruộng 922 xứ). Bèn hạ lệnh 9 cống man là đạo Mường Thịnh, Tầm Bồn, Ba Lan, Mường Bổng, sách Làng Thìn, đều đổi làm châu. Cho Phó sai trưởng Kiêm, Sai trưởng Xiết, Sai trưởng Phủ, Sai trưởng Chiêu, Sai trưởng Khả, Sai trưởng Nội, Sai trưởng Ngân, Sai trưởng Huân, Sai trưởng Đôn làm Thổ tri châu đều cấp cho dấu đồng kiềm gỗ.
    Hai nguồn Viên Kiệu, Tầm Linh, năm sách Làng Sen, La Miệt, Làng Thuận, ả Nhi, Tầm Thanh, sáu tộc Làng Hạ, Tầm La, Làng Khống, Kỳ Tháp, Hương Bạn, Làng Lục, hai nguồn Ô Giang, Cổ Lâm, 15 thuế man ấy đều đổi làm tổng lệ vào châu Hướng Hoá. Các đầu mục tổng trưởng đổi làm Cai tổng, cống thuế vẫn do đạo Cam Lộ đem nộp. Công việc quan yếu cho theo trấn Quảng Trị quản hạt. Trấn thần lại chọn trong cơ Định man những người am hiểu tính tình người Man lấy 12 người làm phân tri cống man, 15 người làm phân tri thuế man, đều bổ làm Lại mục. Hai tổng Viên Kiệu, Làng Thuận tình nguyện nộp thay thuế lệ. Trấn thần tâu lên. Vua y cho (Viên Kiệu lệ nộp 3 đôi chiếu mây, nộp thay 15.000 dây mây nước mỗi dây dài 6 thước 5 tấc, rộng 2 phân ; Làng Thuận lệ nộp 30 cân vỏ gai, nộp thay 15 quan tiền).
    Chuẩn định phàm cha các (viên tử) Hoa danh, nguyên là Tòng nhị phẩm trở xuống chỉ được 1 người (vào sách Hoa danh), mà nay thăng Chánh nhị phẩm trở lên được 2, 3 người, các con theo lệ được đăng thêm vào sách Hoa danh. Người nào bị giáng điệu thì chiếu theo phẩm bị giáng, số thừa thì rút đi ; giáng đến Chánh phó quản cơ, Suất đội thì còn đều lui xuống làm lính Giáo dưỡng, nếu kém bậc ấy thì cũng gia ơn cho sung làm lính Giáo dưỡng.
    Cha những lính Giáo dưỡng, nguyên là Chánh phó quản cơ, Suất đội, con chỉ được làm Giáo dưỡng lính, mà nay thăng Chánh phó vệ uý trở lên, thì con được theo lệ đăng sách Hoa danh ; viên nào phải giáng điệu, chiếu phẩm bị giáng còn con được dự lính Giáo dưỡng, thì vẫn lưu làm lính Giáo dưỡng, hoặc theo phẩm bị giáng, lệ con không được dự mà tên còn có mang quan chức nhỏ, thì cũng gia ân không phải tước ngạch. Nếu cách chức thì con đều phải tước ngạch làm dân. Lại các viên tử Hoa danh cha quan chức hơi to mà trốn tránh bỏ đi thì con phải tước ngạch ; binh Giáo dưỡng cha quan chức hơi nhỏ mà trốn tránh, thì đợi ngoài hạn 6 tháng không về thú mới tước ngạch.
    Tham hiệp Cao Bằng hưu trí là Hoàng Đa Trợ dâng một bộ sách Càn tượng.
    Vua xem, bảo rằng : “Sách này phép suy tính xem xét, tuy chưa được tinh vi, nhưng nghĩ trẫm từ ngày chấp chính đến nay, vẫn lấy việc tìm sách làm cần, Đa Trợ đã hay hưởng ứng chí ta, thực đáng khen lắm. Vậy thưởng cho đoạn ngoài và đoạn lót đều 2 tấm”.
    Lấy thự Lang trung Hình bộ là Phạm Ngọc Oánh làm Tham hiệp Phú Yên.
    Bắt đầu cấp tiền công nhu cho các phủ huyện. Từ trước đến nay, các phủ huyện xét hỏi kiện tụng, có các thứ tiền lệ như tiền tra lễ, tiền cơm, tiền tạ, tiền hành lý, tiền canh giám (tiền tra lễ : việc kiện lớn từ 3 quan đến 6 quan, việc kiện nhỏ từ 2 quan đến 4 quan ; tiền lễ tạ từ 5 quan đến 15 quan ; tiền cơm, việc kiện lớn 2 viên, việc kiện nhỏ 1 viên, tiền cơm mỗi ngày mỗi người 2 tiền ; việc kiện lớn thu tiền cơm tháng, việc kiện nhỏ thu tiền cơm nửa tháng ; tiền hành lý, án nặng 2 người đi bắt, kiện vặt 1 người đi bắt, mỗi người mỗi ngày 2 tiền ; tiền canh giam, người bị giam mỗi người 3 quan, đàn bà nộp một nửa) đều lấy ở dân. Bộ Hình cho rằng ngày nay phủ huyện đã có tiền dưỡng liêm, nha lại có lương tháng, các thứ hình cụ đều tự nhà nước chế ra, các khoản tiền lệ ấy xin bỏ đi hết. Cấp riêng tiền công nhu để chi phí bút giấy dầu đèn.
    Vua chuẩn theo lời đình thần bàn, cấp cho phủ lớn mỗi năm 80 quan tiền, phủ nhỏ 70 quan, huyện lớn 60 quan, huyện nhỏ 50 quan. Lại lệ dịch ở phủ huyện trước không có lương, cũng cho chia ban mà chi lương (dân xã toàn trừ (chuyên đi lính lệ) thì lính lệ đương ban mỗi tháng mỗi người cấp 1 phương gạo ; lính lệ mộ vào thì cấp thêm 5 tiền).
    Các địa phương từ Quảng Bình trở về Nam đến Bình Thuận, đem việc vì nhân dân xiêu tán nên ngạch giản binh bị thiếu, tâu lên nhiều lần.
    Vua dụ cho hoãn việc bắt lính, xã nào hơi hồi phục thì hoãn 1 năm, xã nào chưa hồi phục thì hoãn 2 năm hay 3 năm.
    Dồn lại lính mộ Bắc Thành.
    Các vệ cơ đội lính mộ ở Bắc Thành, đóng thú đã lâu năm, chết trốn cũng nhiều, lính mới mộ phần nhiều là tay chơi vừa mộ lại trốn. Sổ ngạch chỉ có số hư.
    Quan Bắc Thành tâu xin cứ số lính hiện có mà dồn thành vệ, cơ, mỗi vệ 10 đội, mỗi đội 50 người, cơ cũng như thế. Lính quê từ Quảng Bình về Nam thì sáu đội Thiện võ thuộc Trung quân đổi làm cơ Thiện võ, lấy các đội Hậu võ dồn bổ, 9 đội Tráng oai thuộc Tiền quân đã đổi làm cơ Tráng oai, lấy các đội Oai tiền phấn kích dồn bổ, 2 đội Chánh võ thuộc Tả quân đổi làm cơ Chánh võ, lấy các vệ đội Nhuệ võ, Đề võ, Kiên nghĩa dồn bổ ; 6 đội Võ dũng thuộc Hữu quân đổi làm cơ Võ dũng, lấy các đội Võ lược, Võ kịch, Võ lực, dồn bổ ; 8 đội Cự oai thuộc Hậu quân đổi làm cơ Cự oai, lấy các đội Cường dũng, Định oai dồn bổ. Số còn thừa thì đặt làm lính đội lưu ngạch. 8 đội Lạc võ đổi làm vệ Lạc võ, cùng vệ Nghiêm dũng số lính đều chưa đủ ngạch, đều lấy lính ở 5 cơ Hiệu thuận quê từ Quảng Bình về Nam mà dồn bổ. Còn những lính quê ở Nghệ An về bắc hợp với chi Định nghĩa thuộc Trung quân, chi Chương Hiệu thuận. Nếu thiếu thì không cần mộ thêm. Cơ binh 11 trấn Bắc Thành cũng nhiều người trốn, xin lấy số linh tinh các vệ đội cũ sở tại mà dồn bổ. Nếu còn thừa cũng đặt làm lính đội lưu ngạch, để đợi đâu khuyết thì bổ sung.
    Lại nói : “Nhà nước nuôi quân, Nam Bắc vốn không chia rẽ. Duy sổ lính phải có căn cước mới có thể đủ hàng ngũ. Trước đây các binh lính ứng mộ, phần nhiều mạo tên lấy các xã thôn từ Quảng Bình về Nam làm quê quán, xét ra thấy nhiều người nói tiếng Bắc thì họ lại nói là cha người Nam mẹ người Bắc. Điều ấy nên một phen chỉnh đốn, để ngăn ngừa sự gian trá. Xin giao cho các viên Thống quản năm quân thuộc thành, cùng thượng ty 11 trấn, xét kỹ biền binh các vệ cơ đội, người nào quê ở Nam, người nào quê ở Bắc, theo thực mà cải chính. Những vệ cơ thuộc thành thì chỉ lấy lính miền Nam sung bổ, các cơ vệ thuộc các trấn, các lính miền Nam xin bổ về thành cũng cho. Lính cơ các trấn có khuyết, xin mộ dân ngoại tịch ở thành hạt, xét có xã dân bảo nhận, trấn quan cam kết thì Binh tào mới được phê chuẩn đăng vào ngạch. Sau một năm không trốn tránh thì vẫn chiếu số công điền châu thổ của xã dân cùng với sổ giản binh mà quân cấp. Ai trốn thì cho về sổ dân. Như thế thì lính thành, lính trấn có phân biệt, mà lính đã vào ngạch, không có tệ giả mạo trốn tránh”.
    Vua sai đình thần bàn lại, chuẩn cho theo lời xin mà làm. Duy có vệ Lạc võ thì đổi làm vệ Lạc dũng.
    Định quy thức lỵ sở các phủ huyện.
    Vua thấy quan phủ huyện giữ chính lệnh một phủ, một huyện mà cửa nhà chưa có quy chế nhất định. Sai hai bộ Lễ, Công hội bàn. Xin phàm phủ huyện nào chưa xây thành thì do thượng ty chọn địa thế sở tại, chỗ nào cao ráo, đường sá trung độ, dựng lỵ sở nhà cửa và thành đất, thì huyện nha so với phủ nha hơi kém. Thành rộng hay hẹp lại theo số nhân viên nhiều hay ít mà định. Vua theo lời. (Thành đất phủ huyện đều cao 5 thước, dưới rộng 5 thước, trên rộng 3 thước, nếu 2 viên Tri phủ, Đồng tri phủ, thì bốn mặt thành mỗi mặt dài 170 thước ; nếu chỉ một viên Tri phủ thì mỗi mặt dài 160 thước ; huyện nào có 2 viên Tri huyện, Huyện thừa thì mỗi mặt dài 150 thước, nếu chỉ một Tri huyện thì mỗi mặt dài 140 thước ; trước sau thành đều mở mỗi mặt 1 cửa, cửa xây bằng gạch, cánh cửa bằng gỗ, cửa đằng trước trên khắc 5 chữ “Mỗ phủ huyện lỵ sở”, thếp bạc sơn đen ; công đường phủ huyện đều 3 gian 2 chái lợp ngói, 2 viên thì chia làm tả đường, hữu đường, 1 viên thì nhà làm vào giữa 2 bên trước công đường mỗi bên làm 1 nhà tranh, mỗi cái 3 gian 2 chái, bên tả, bên hữu nghểnh lại với nhau, một bên làm thư phòng nha lại, một bên làm trại lính lệ.
    Lấy Lang trung Công bộ là Hoàng Quýnh làm thự Hiệp trấn Nam Định, Viên ngoại lang Hộ bộ là Phan Thế Chấn làm Tham hiệp Sơn Nam.
    Ngày Bính tuất, lễ Hợp hưởng. Lễ xong, vua nghĩ đến những điều tốt đẹp của đời trước nhân làm thơ đưa cho quần thần xem. Lại dụ rằng : “Khoảng năm Gia Long bản triều Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta đã dựng Thái miếu ở phía Đông nam Hoàng thành, theo nhà Hán, nhà Minh là đồng đường dị quy chế thất (một nhà chia ra từng gian), gian giữa thờ Thái tổ Gia dụ hoàng đế, hai bên chiêu mục thờ Hy tông Hiếu văn hoàng đế, cho đến Duệ tông Hiếu định hoàng đế, cộng tất cả 9 vị.
    Sau lại dựng Triệu miếu để thờ Triệu tổ Tĩnh hoàng đế, là ngụ ý tôn đời trước hơn đời sau. Lại ở bên Tây làm miếu thờ Hiếu khang hoàng đế. Năm Minh Mệnh thứ 2, việc tang Hoàng khảo ta đã hết bàn việc thăng phối, trẫm nghĩ Thái miếu đã thờ đức Thái tổ ở giữa, mà Hoàng khảo tổ ta, thần công thánh đức hơn cả nghìn đời, phải thờ ở giữa miếu quay mặt hướng Nam để hưởng mãi sự tôn sùng thì mới hợp nguyện vọng của thần dân, nếu thờ phụ Thái miếu thì Duệ tông ở vị chiêu mục lại sợ không phải lẽ.
    Bèn sắc chọn đất ở mé Tây nam trong Hoàng thành tuân theo quy chế Thái miếu mà dựng điện lớn 9 gian, ở giữa điện đặt thần vị đức Hoàng khảo gọi là Thế miếu. Lại truy tôn Hiếu khang hoàng đế làm Hưng tổ, cùng theo lệ Triệu miếu, dựng Hưng miếu ở đằng sau Thế miếu. Trẫm đã từng bảo bộ Lễ rằng việc này dẫu không hợp với lễ đời xưa, nhưng thử nghĩ nếu theo lời bàn đời xưa mà làm theo lễ diêu(() Sáu đời thì chôn thần chủ.) thì lấy phận tôi con mà bàn đến vua cha, lòng có yên chăng ? Hơn nữa, lễ bởi nghĩa mà đặt, chẳng thà chịu lỗi về quá hậu. Thánh nhân chẳng nói thế à. Nhà nước ta nhờ khí thiêng trời đất tông xã, con cháu nối đời, truyền nhau mối cả, Thế miếu 9 gian đã đầy thì nên chọn đất làm thêm miếu mới, bắt chước noi theo, dẫn mãi đến không cùng, thì cái gì tốt bằng, cái gì hay bằng. Nếu nghe lời bọn hủ nho nệ cổ bàn bậy mà đem thần chủ chôn hay cất đi, thì không phải là tôi con của triều ta nữa. Nay lại thấy việc này có quan hệ đến kế lớn của tôn miếu, phải cặn kẽ nói rõ hai ba lần cho con cháu thần dân ta hiểu sâu lòng trẫm mà vâng làm thành phép, mong cho tốt đẹp muôn đời. Dụ này nên tuyên giao cho Sử quán kính giữ".
    Đổi tên đội Xiêm hầu trấn Hưng Hoá làm đội Quy hoá.
    Bộ Hình tâu dâng sách kê việc động tĩnh về tháng cuối thu của các trấn đạo, duy Thanh Hoa, Ninh Bình có xảy ra giặc ở hai nơi.
    Vua nói : “Từ Bình Thuận đến Nghệ An xa hơn vài ngàn dặm đều được ninh thiếp, chỉ có hai hạt này chưa được yên hẳn, há chẳng phải là việc yên dân bắt giặc chưa làm hết đạo sao ?”. Sai truyền dụ cho các quan trấn đạo tìm nhiều cách bắt giặc để yên dân.
    Thông sức cho Hữu ty xét hỏi việc hình ngục. Vua dụ bộ Hình rằng : “Triều đình đặt ra hình pháp để cho dân biết đường tránh điều trái làm điều phải, không sai không bừa mới đúng ý nghĩa của hình, thực không thể không cẩn thận. Từ trước đến nay, giặc cướp ở Bắc Thành cung xưng người đồng đảng, có khi đổ vấy cho nhà giàu, và vu cáo kẻ thù, quan xét án mới nghe xưng ra, lập tức đòi bắt, kéo dài đến hàng tháng, việc án vẫn không xong. Đến lúc oan uổng được minh thì lương dân khổ luỵ đã nhiều rồi. Nghĩ đến việc như thế, phải động lòng thương. Phàm cắt trừ mối tệ cần phải chiết trung. Nếu giặc cướp cung ra mà không hỏi thì không phải là tha rộng quá, mà nhất thiết bắt giam, thì có người bị vạ lây như cây rừng cá ao trong cơn lửa cháy. Người xét án cần lấy lòng trống không mà xét hỏi để phân biệt người tốt người xấu mới hay. Vậy nên truyền dụ cho các nha xét hình, từ sau giặc cướp cung xưng ra người can liên thì hỏi kỹ hai ba lần, quả không phải là hiềm thù mà vu thì mới bắt xét, nếu có đụng đến người lành thì lập tức rửa oan ; tình hoặc còn ngờ thì cũng nên chước lượng, cho người bảo lãnh để đợi xét đừng để cho người ta phải đà luỵ, cho xứng với ý cẩn thận việc hình của trẫm”.
    Chế kiềm gỗ cấp cho các sở giữ cửa biển các trấn. (Cửa Đại Chiêm, Đại áp ở Quảng Nam, cửa Thái Cần, Đại Cổ Luỹ ở Quảng Ngãi, cửa Kim Bồng, An Du, Thi Nại ở Bình Định, cửa Cù Mông, Xuân Đài ở Phú Yên, cửa Cù Huân, Vân Phong [Hòn Khói] ở Bình Hoà, cửa Phan Thiết, cửa Phan Rang, Vỵ Nê [Mũi Né] ở Bình Thuận, cửa Long Hưng, Phước Thắng ở Biên Hoà, cửa Cần Giờ ở Phiên An, cửa Đại Tấn, Tiểu Tấn ở Định Tường, cửa Trấn Di ở Vĩnh Thanh, cửa Kinh Hào, sở Phú Quốc ở Hà Tiên, cửa Việt Yên, Tùng Luật ở Quảng Trị, cửa Nhật Lệ, Linh Giang, Ròn Tấn ở Quảng Bình, cửa Luật Tấn [cửa Sót], Hội Tấn ở Nghệ An, cửa Trào Tấn ở Thanh Hoa, cửa Lác Tấn ở Nam Định).
    Bộ Binh tâu rằng ngạch lính thiếu, phần nhiều do dân khéo tìm cách trốn tránh. Xin tự nay, xã dân nào số giản binh thiếu ngạch thì những người sung sang nha khác, đều bắt về để điền bổ. Đến như học trò khảo khoá, thì quan huấn giáo sở tại hội đồng với quan địa phương cho thi văn bài bốn kỳ, nếu có thực học dự hạng ưu bình thì chiếu lệ cho miễn binh dao và vẫn cho đi học thêm để thành nghiệp học. Nếu văn lý vụng kém cùng văn lý bất thông thì bắt điền vào số giản binh thiếu.
    Vua cho lời tâu là phải.
    Tả Tham tri Binh bộ lĩnh Binh tào Bắc Thành là Nguyễn Đăng Tuân vào chầu, tâu rằng : “Thần đợi tội(() Đợi tội : làm quan nói khiêm tốn là đợi tội.) ở thành tào, trí nông, tài kém, chỉ sợ không làm nổi việc, xin dạy bảo cho để vỡ lòng ngu muội”. Vua nói rằng : “Công việc chức trách trẫm không thể chỉ bảo từng điều. Chỉ hai chữ “Bỉnh công”(() Bỉnh công : tấm lòng công làm việc.) biết giữ kỹ là có thể không phạm lỗi lớn. Phàm người phải có kiến thức cao, đến lúc gặp việc mới có thể ứng phó ngay được. Nếu không được thế thì ở chỗ phải trái hay dở, sai một ly đi một dặm, há chẳng nên nghĩ kỹ ư ?”. Đăng Tuân dập đầu tạ.
    Sai Viện sứ là Nguyễn Trọng Tính, Vệ uý là Trần Văn Lễ, Văn thư phòng là Trần Công Chương, Thị vệ Nguyễn Văn Ngoạn, chia nhau ngồi các hiệu thuyền Uy phượng, Phấn bằng, Tĩnh ba đi sang Hạ Châu làm việc quan.
    Bộ Lễ tâu rằng lệ trước một năm 5 lễ hưởng(() Năm lễ hưởng : Xuân hưởng, Hạ hưởng, Thu hưởng, Đông hưởng và Hợp hưởng.) cùng ở tiết Nguyên đán, Đoan dương, Thượng tiêu (dựng nêu) đều do Hoàng thượng đến kỳ chính mình đến Thái miếu, Thế miếu làm lễ. Trộm nghĩ Tôn miếu là chỗ tôn nghiêm lễ văn nghi tắc, phải cho tình lý thoả đáng mới là phải. Bốn mùa đắp đổi, nên có bốn lễ hưởng để tỏ rõ tình văn. Khi năm sắp hết thì mùa đông có lễ Hợp hưởng để báo thành tích cả năm, cùng là ngày đầu năm đón phước (Nguyên đán) và lúc giữa trời tươi sáng (Đoan dương) đều là lễ long trọng quan hệ cả. Còn như lễ cuối năm dựng cây nêu, sách vở không thấy nói đến. Nhưng tục nước ta theo làm đã lâu, chưa nên vội bỏ. Từ nay xin sai Hoàng tử hay các tước công tế thay, mới là thoả đáng. Vua cho là phải.
    Quảng Yên có giặc biển là Lý Công Đồng họp vài thuyền đánh cá lẻn nổi ở ngoài biển xã Chân Châu. Đồng là người Quảng Đông nhà Thanh, là đảng của tướng giặc Bạch Xỉ Hoàng Kỳ Trung. Năm trước đến ở châu Tiên Yên, can án trốn đi, đến bây giờ lại họp đảng ở Trạm Dương, thường ngăn chặn đường biển. Trấn thủ là Lê Huy Tích được tin báo, đem binh thuyền bắt. Bọn giặc chạy về phía đông. Được vài ngày chúng lại đến bãi dài châu Tiên Yên, Tích cùng với Phó vệ uý vệ Long võ trung là Nguyễn Văn Đàm do thành phái đến hợp sức cùng đánh, chém được vài tên giặc, bắt được 2 chiếc thuyền, còn đều trốn thoát.
    Định lại lệ lính trốn cho các địa phương.
    Vua dụ rằng : “Lính là nanh vuốt của nước, phải ở hàng ngũ lâu, rồi mới tập quen. Gần đây nghe nói giản binh ở các thành trấn đạo quen theo lệ làng, cứ 3 năm hay 6 năm một lần đổi, có người trốn đến 3, 4 lần, như thế mà không nghiêm răn, thì làm sao giữ nghiêm được quân chính ? Vậy lấy năm Minh Mệnh thứ 9 bắt đầu. Y theo lệ xử phân lính Kinh và nghị tội (Trốn một lần đánh 90 trượng, trốn 2 lần đóng gông hai tháng, mãn hạn đánh 100 trượng rồi sung ngũ ; trốn đến 3 lần thì tội giảo giam hậu. Sau khi trốn mà chưa đổi họ tên vào làm lính ở dinh khác thì cũng cho là lính trốn mà luận tội. Nếu trong 100 ngày mà biết đến thú thì không cứ phạm lần đầu hay lần thứ hai cũng đều miễn tội. Ngoài hạn ấy lại hạn 100 ngày nữa mà xử giảm 2 bậc, đều vẫn sung ngũ. Nếu trốn về làng mình hoặc làng khác, Lý trưởng biết mà không bắt giải cũng phải trị tội theo luật. Các ngươi là quan địa phương cần phải nghiêm sức cho các viên cai quản kiềm thúc nghiêm nhặt để cho ngạch lính thường đủ, võ lược mạnh lên. Nếu để cho chúng theo mãi thói bậy, thoắt ở thoắt trốn, thì cứ bọn ngươi cùng người cai quản mà hỏi tội".
    Đặt hai đội Ngân thương tam và tứ. Trước đây biền binh hai vệ Long thao, Hổ lược mãn ban, tình nguyện ở lại Kinh hơn 130 người. Vua cho bài bạc khắc bốn chữ “luyến khuyết tình ân” và cho hạn về thăm nhà, đến bấy giờ những người lại đến Kinh đều được thưởng 3 quan tiền, bổ làm 2 đội Ngân thương, tam tứ, sai Vệ uý vệ Hổ lược là Nguyễn Lương Huy quyền lĩnh.
    Sai Bắc Thành kiếm mua 1.000 lạng vàng.
    Ban cây đo bóng mặt trời khảm bạc chế theo lệnh vua, cho các địa phương, duy 5 trấn thuộc Gia Định và 11 trấn thuộc Bắc Thành thì do hai thành theo cách thức mà chế để cấp.
    Cấp thóc công làm vốn cho các đường hộ ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, (Quảng Nam đường cát hạng nhì 100 cân giá 6 quan tiền, hạng ba giá 5 quan 5 tiền ; Quảng Ngãi, đường cát hạng nhất 100 cân giá 5 quan 6 tiền 15 đồng, hạng nhì giá 5 quan 3 tiền 7 đồng, hạng ba giá 5 quan, mỗi 1 quan tiền chiết thành một hộc thóc, lấy 60 quan tiền kẽm 7 cân nặng chiết thành 110 cân).
  • Chia sẻ trang này