0059.073 - [721-730] - @ nhani78 (Done WK)

10/12/15
0059.073 - [721-730] - @ nhani78 (Done WK)
  • PDF
    GoogleDocs


    :rose::rose::rose:
    từ. Vua dụ rằng : “Nay các hạt Bắc Thành dần yên, nhân dân hơi biết hướng theo giáo hoá có thể nhân cơ hội này, đưa dân về ruộng đất, khiến yên nghiệp làm ăn, dân có của thường thì có lòng thường, bọn trộm cướp tất phải tan đi mà ngầm hoá. Vả lại triều đình khai hoá không cái gì trước việc dạy dân chăm nghề gốc. Nay việc dinh điền đã giao cho khanh phàm việc có thể làm lợi trừ hại cho dân, cho tuỳ tiện mà làm, nên hết lòng xếp đặt sớm báo thành công, để yên ủi lòng trẫm mong đợi”. Hạ lệnh chọn một viên Tư vụ, 10 người bát cửu phẩm và vị nhập lưu thư lại đi theo để sai phái.
    Nguyễn Công Trứ lại tâu rằng : “Bình dân Bắc Thành, trước vì giặc bắt hiếp đi theo có đến hàng nghìn sợ hãi trốn biệt không có đường về, không khỏi đi theo những tướng giặc còn trốn. Xin phàm kẻ nào hối quá hoàn lương((1) Hối quá hoàn lương : ăn năn tội lỗi mà lại theo lương thiện.1), thì cho đến sở Dinh điền thú tội, theo sức mà cấp ruộng cho làm. Những chỗ ruộng đất rải rác có thể lập thành làng trại, đủ cho 15 người ở trở lên thì xin lập làm một trại, 18 người trở lên thì lập làm một giáp, đều đặt tên trại trưởng và giáp trưởng trông coi. Thế thì đất sẽ không có chỗ bỏ không”. Vua đều y cho. Vua thấy rằng thuế chính cung ở Bắc Thành phần nhiều lợi riêng cho bọn hào cường, muốn trừ tệ ấy, mới dụ thành thần rằng : “Các hạt Bắc Thành hay gặp mất mùa kế đến giặc giã, vỡ đê, tình hình điêu hao đã biết rõ cả rồi. Những thuế thiếu từ năm Minh Mệnh thứ 4 về trước, đã gia ân tha cho, mà thuế thiếu từ năm thứ 8 về trước thì hoãn đến năm thứ 10 sẽ thu kèm. Triều đình vốn không gấp việc thu thuế mà không để ý việc dân khổ sở đâu. Nay trộm cướp đã yên, lại thêm được mùa lúa không phải gieo neo như trước nữa, dân ta tự nên sốt sắng việc công mà nộp thuế. Duy bọn tổng lý, hương hào thường thường thu thuế của dân đem về làm của riêng, mà cố ý để thiếu để mong ngày khác được miễn xá, thói ấy trẫm đã biết hết. Ngạch thuế năm nay, bắt phải nộp đủ, không để cho bọn ấy dối trá khinh nhờn nữa”.
    Bọn Toản tu chức chế Nguyễn Hữu Thận đem bản mẫu tiến lên vua xem. Vua thấy nhiều chỗ không đủ, sai đình thần hội duyệt, có chỗ nào nên thêm bớt hay đổi bỏ thì sửa chữa rõ ràng, chờ lệnh thi hành.
    Vua từng cùng thị thần nói chuyện về sử cũ, bảo Thượng bảo khanh là Thân Văn Quyền rằng : “Trẫm từng xem Hán sử đến việc Viễn áng giải lùi chiếu xuống, không hiểu ra sao ? Viễn áng là thị thần giải chiếu trong cung cấm còn lùi vào đâu ?”. Quyền tâu rằng : “Có lẽ là lúc đi chơi ở Thượng Lâm, không giống như ở trong cung cấm” ((2) Sách Hán thư chép rằng : “Lúc vua Văn đế cùng Hoàng hậu và Thận phu nhân đi ra chơi ở Thượng Lâm, lính hầu giải chiếu cho Thận phu nhân ngồi ngang với chiếu Hoàng hậu. Viễn áng giải lại chiếu Thận phu nhân lùi xuống dưới và nói rằng phu nhân không được ngồi ngang với Hoàng hậu”.2).
    Vua lại nói : “Không những việc ấy. Như Văn đế tiếc trăm nén vàng mà không xây Lộ đài, mà yêu Đặng Thông ban thưởng cho tiền đến hàng vạn, việc ấy cũng đáng ngờ”.
    Vua lại nói : “Sử để ghi việc, không phải người học rộng không hiểu nổi. Vừa rồi sai các quan toản tu chức chế đến khi dạng bản tiến lên, lời văn nhiều chỗ quê mùa, thế mới biết tài chép sử là khó. Vả lại người Khởi cư chú((1) Khởi cư chú : chức quan theo hầu vua, vua nói câu gì, làm việc gì, đều biên chép cả.1) chép đủ việc hay việc dở, vua không nên xem. Xưa Đường Thái tông xem quốc sử, lại tự tay tước bỏ, trẫm cho là không phải. Người có chức trách cầm bút ghi việc, phải nghĩ làm thế nào cho muôn đời về sau tin được, phải cẩn thận nhé !”.
    Triệu Tả Tham tri Hộ bộ lĩnh Hộ tào kiêm Công tào thành Gia Định là Trần Nhật Vĩnh về Kinh, lấy Hữu Thị lang Hộ bộ là Nguyễn Khoa Minh làm thự Hữu Tham tri mà thay lĩnh chức Hộ tào Gia Định, cùng lấy Hàn lâm viện Biên tu là Nguyễn Đăng Khải làm Viên ngoại lang Hộ bộ theo làm việc ở Hộ tào. Khởi phục cho Vũ Đức Khuê làm Tư vụ Hình bộ theo làm việc ở Hình tào, đều kiêm việc giấy tờ ở thành Gia Định.
    Vua sai Hữu thống chế quân Thị trung gia hàm Đô thống là Trần Văn Cường kiêm quản Thương bạc. Lấy Vệ uý vệ Diệu võ quân Thần sách là Lê Văn Quảng làm Vệ uý vệ Uy võ, đóng giữ thành phủ Hà Hoa, kiêm quản việc phủ.
    Đổi dựng lại kho số 7 ở Quảng Phong.
    Trấn thần Bình Định tâu rằng các huyện trong hạt đất lớn nhỏ khác nhau xin đặt tổng mục để theo làm việc. Vua y cho (Hai tổng Bình Viễn, Tuy Hà thuộc huyện Tuy Viễn, 2 tổng Định Sơn, Trừng Hà thuộc huyện Bồng Sơn, 2 tổng Bình Lý, Phù Hà thuộc huyện Phù Ly, cứ hai tổng đặt một Cai tổng ; tổng Mỹ Thuận thuộc huyện Tuy Viễn, 3 tổng thượng, trung, hạ thuộc huyện Bồng Sơn, đất rộng người nhiều, mỗi tổng 1 Cai tổng, 1 Phó tổng ngoại uỷ).
    Đổi đội Tài công mộc tượng ở Vũ Khố làm cục Tài công mộc tượng.
    Cấp thêm tiền công nhu cho quan Kinh, 1.000 lạng bạc, 1.000 quan tiền. Lệ trước cứ 2 năm thưởng cấp một lần. Năm ngoái gặp lễ Lục tuần đại khánh của Hoàng thái hậu, điển lễ sắm sửa tốn nhiều còn thừa không mấy, nên cấp thêm cho.
    Giáng thự Thượng thư Lễ bộ là Phan Huy Thực làm Hữu Tham tri Lễ bộ, giáng Thượng thư Hộ bộ là Lương Tiến Tường 2 cấp lưu.
    Trước đây, Phan Huy Thực đề cử 5 người học trò, Lương Tiến Tường đề cử 1 người, đều bổ Hàn lâm viện, sai bộ Hình bộ Công sát hạch, thì văn lý đều không dùng được. Người Phan Huy Thực đề cử là Lê Trọng Thực, Ngô Vi Chuẩn lại mượn người làm thay. Việc phát giác, giao xuống bộ Lại bàn ; xin chiếu luật cống cử phi nhân ((1) Cống cử phi nhân : cống cử người bậy.1) bắt tội Phan Huy Thực cách chức, Lương Tiến Tường giáng 3 cấp điệu. Vua dụ rằng : “Bộ Lại bàn thế cũng phải nhưng nghĩ bọn Thực vì kém kiến thức, bị bọn tiểu nhân đánh lừa mà xét ngày thường vẫn biết cảm khích cố gắng, nên gia ân cho Thực cách chức thự Thượng thư, vẫn giữ chức Hữu Tham tri Lễ bộ giáng ba cấp lưu, Tường thì đổi làm giáng hai cấp lưu ; Trọng Thực và Vi Chuẩn đều phạt 100 trượng, phát đi làm binh ở đất mới mở Trấn Ninh. Tự nay về sau, các quan lớn nhỏ đều giữ lòng công trung vì nước tiến hiền, đừng thấy án này được khoan dung nữa mà coi thường cứ cố phạm, cũng đừng lấy cớ đề cử lầm bị lỗi mà không chịu chọn người thờ vua. Cốt nhất là gia tâm xem xét, phải biết đến nơi đến chốn, không kể là người thân, không kể là người thù, đừng nhân yêu mà dùng, đừng nhân ghét mà bỏ, bắt chước cổ nhân mà làm, lo gì không tìm được người giỏi”.
    Lấy Hàn lâm viện Thị độc sung tán thiện Tập thiện đường là Trương Đăng Quế sung chức hành tẩu Văn thư phòng. Quế vào lạy ra mắt. Vua bảo rằng : “Bấy nay ngươi phụ đạo các hoàng tử, rất vừa ý trẫm. Bây giờ các hoàng tử dần đã trưởng thành cho nên sai ngươi theo việc chính trị”. Nhân hỏi : “Thiên tư học vấn của các hoàng tử thế nào ? Những người chung quanh ngươi có ngăn cấm được không ?”. Quế đáp rằng : “Phép nhà Hoàng thượng vốn rất nghiêm, các hoàng tử gắng sức học tập, không dám trễ nải. Lại thêm sẵn tính ham học, thông minh người thường không so được, mà người chung quanh cũng đều tuân theo khuôn phép ; không dám dẫn đến chỗ bất chính”. Vua nói : “Dòng dõi đế vương thông minh cũng có, còn bảo là ham học thì ta chưa tin được. Ta lúc trước ở tiềm để ((2) Tiềm để : các thân vương đều có phủ đệ riêng gọi là để. Người đã lên ngôi vua, nhắc lại lúc còn là thân vương là lúc còn ngầm náu ở tư để, nên nói là “tiềm để”.2) chỉ có việc coi hầu bữa ăn và thăm sức khoẻ [hoàng khảo] mà thôi, đến như học vấn thì chưa biết để tâm nghiên cứu, bây giờ còn hối nữa, huống chi các hoàng tử”. Liền sắc rằng từ nay các viên tán thiện bạn độc ở Tập thiện đường đều cho kiêm công việc các dực phủ thuộc ((3) Các dực : các bộ phận, như tả dực, hữu dực, các lính hầu trong phủ các hoàng tử. 3).
    Cho Tôn Thất Trị làm Chủ sự Lễ bộ. Vua bảo Trị rằng : “Ngươi nên nghĩ mình có tài nghệ gì đáng dùng ? Chỉ vì là dòng dõi tôn thất nên mới được như thế. Chớ lấy gia thế mà cậy mình, nên ngày đêm siêng năng kính cẩn mới tốt. Ngươi về nên đem lời nói của trẫm bảo khắp cho những người tôn thất có quan chức đều biết”.
    Lấy Tả Thị lang Lại bộ là Thân Văn Duy làm Tả Thị lang Hộ bộ kiêm làm việc Hộ tào Bắc Thành. Vua thấy Hộ tào nhiều việc, thự Hữu Tham tri Nguyễn Đức Hội lại kiêm cả Đê chính không đủ sức làm nổi cho nên sai Duy giúp làm việc tào.
    Lấy Phó vệ uý vệ Long võ tả là Nguyễn Văn Đoài quyền thự chức Trấn thủ Quảng Yên. Đoài vào bệ từ. Vua dụ rằng : “Ta thấy Quảng Yên ít việc, cho nên cho ngươi là người thực thà đến đấy làm việc, ngươi nên hết lòng trung để báo đáp, đừng tham của mà luỵ mình”.
    Chuẩn định từ nay phàm kho thuốc súng ở các địa phương nếu lâm thời dùng đến không phải lệ thường thì vẫn theo chỉ trước, xong việc thì tâu tiêu((1) Tâu tiêu : tâu lên khai những món đã tiêu.1) còn những sự lệ tầm thường, thì cứ đến cuối năm xét sổ cũ còn lại sổ mới thu vào khai tiêu số mục thực tại để làm gộp sổ thanh sách một lần. Lệ trước mỗi năm 2 lần làm sách đệ tâu.
    Lấy Tả Tham tri Lại bộ là Lê Đăng Doanh làm Tả Tham tri Hộ bộ, Phủ thừa Thừa Thiên là Phan Bá Đạt làm thự Tả Thị lang Lại bộ, Lang trung Lại bộ là Thang Huy Thận làm Phủ thừa Thừa Thiên, Hiệp trấn Biên Hoà là Bùi Đức Mân làm Hiệp trấn Phan An, Tham hiệp Vĩnh Thanh là Phạm Phúc Thiệu làm Hiệp trấn Bình Thuận, Tham hiệp Sơn Nam là Phan Thế Trấn làm Tham hiệp Sơn Tây, Tham hiệp Nam Định là Nguyễn Nhược Sơn làm Tham hiệp Sơn Nam, Tham hiệp Sơn Tây là Nguyễn Trọng Vũ làm Tham hiệp Nam Định, Tham hiệp Phú Yên là Phạm Ngọc Oánh làm Tham hiệp Tuyên Quang.
    Lấy Tham hiệp Biên Hoà là Nguyễn Văn Bảng làm Tham hiệp Vĩnh Thanh, Lang trung Lễ bộ là Phạm Vũ Phác làm Tham hiệp Biên Hoà, Bảng chưa đi Vĩnh Thanh, bị dân bày việc kiện vu phải giải chức đợi xét, đến lúc án tâu lên, được miễn nghị, về Kinh đợi bổ.
    Lấy Viên ngoại lang Hộ bộ là Nguyễn Ngọc Trác làm Lang trung.
    Mười một chiếc thuyền Hải vận của nhà nước bị bão đắm ở hải phận Hà Hoa, quản tào là Vệ uý vệ Tiền thuỷ Cao Văn Toàn bị cách chức.
    Chuẩn định từ nay phàm các nha ở Kinh có chiếu chỉ văn thư truyền gửi cho các địa phương nếu là việc khẩn yếu về quân cơ và lương tiền thì sở tại nhận được phải phúc báo ngay ngày hôm ấy, việc thường thì mỗi tháng phúc báo một lần, để tiện tra xét. Làm trái thì hãy theo nặng nhẹ, chiểu luật vi chế vi lệnh mà xử tội. Ghi làm lệnh.
    Nhà dân ở ngoài thành Bắc Thành bị cháy, cháy lây hơn 200 nóc nhà. Sai phát tiền chẩn tuất. Qua mươi ngày lại có hoả hoạn, cháy hơn 1.430 nóc nhà của 27 thôn phường, nhiều người bị thương chết. Quan Bắc Thành dâng sớ xin nhận tội. Vua dụ rằng : “Vài mươi năm nay, thần Hồi Lộc ((1) Hồi Lộc : tên thần lửa. 1) làm tai chưa bao giờ như thế, chẳng phải lỗi ở các ngươi thì lỗi ở ai ? Nhưng đã biết đem mình nhận lỗi là chưa mất lương tâm, chỉ sợ lúc nhất thời mắt thấy lòng đau, xong việc lại coi như chuyện ngoài da, không quan tâm đến”. Lại bảo bộ Hộ rằng : “Hoả tai một tháng hai lần, nhân dân ta khổ sở chịu sao nổi ?”. Lập tức sai chẩn cấp mỗi nhà 3 quan tiền 2 hộc thóc, người chết mỗi người 1 lạng bạc 1 tấm vải 2 quan tiền, người bị thương mỗi người 2 quan tiền. Nhà phát hoả đầu tiên thì bắt tội chủ nhà làm binh. Lại cấp thêm cho nhà đông người mỗi nhà 3 hộc, nhà hạng trung 2 hộc, nhà hạng tiểu 1 hộc.
    Cho Dương Tiến Tại làm Phó vệ uý vệ Hữu bảo nhị.
    Định trình hạn làm sách chi tiêu cho kho Vũ Khố. Phàm chi vật hạng để chế tạo, việc to thì 6 tháng việc nhỏ thì 3 tháng, việc thường thì khi làm xong, kê sách khai số tiêu. Làm trái thì giao bộ bàn xét.
    Lấy Phó vệ uý vệ Minh võ quân Thần sách là Lê Văn Duyệt làm Phó vệ uý vệ Phấn võ, Phó vệ uý vệ Phấn võ là Phan Văn Đổng làm Phó vệ uý vệ Minh võ.
    Sai Tổng trấn Lê Văn Duyệt trở về thành Gia Định. Trước đây Duyệt vào chầu, vì ốm ở nhà điều dưỡng, đến nay khỏi, vua dụ rằng : “Thành Gia Định là trọng trấn cõi Nam, không nên vắng lâu. Khanh ngày thường được người Xiêm La vẫn sợ, nay lại đi đảm miền ấy, để có oai như hổ báo ở rừng, mà cũng là có ý chế phục người ngoài vậy”. Duyệt bái tạ. Sai cháu Duyệt là Phó vệ uý Lê Văn Tề cùng các vệ bộ hạ là vệ Minh nghĩa và 2 vệ Tả bảo nhất, Tả bảo nhị và 2 cơ Thanh thuận, An thuận theo đi, khi Duyệt đến Gia Định, quyền nhiếp ấn Tổng trấn là Nguyễn Văn Tuyên lại chuyên coi biền binh thành Gia Định.
    Mùa hạ, tháng 4, ngày mồng một, lễ Tạ hưởng.
    Sai bọn Biên tu Văn thư phòng là Trương Phúc Cương, Tư vụ Hộ bộ là Nguyễn Đắc Trí cùng thị vệ đi khám xét đê Bắc Thành. Trước đây, đê công cũ mới ở Bắc Thành bị nước lụt làm vỡ lở đến 70 chỗ, phần nhiều vì nước ứ chưa tiêu không bồi đắp được. Thành thần tâu lên, vua dụ rằng : “Nước lụt lớn là thường vào quãng giữa mùa hạ, mùa thu, nếu không phòng bị sớm thì làm sao kịp được ? Nên gia tâm tính làm ngay để chóng tâu cho trẫm biết”. Đến bấy giờ thành thần tâu nói đã chia phái đi sửa đắp, chắc đến hạ tuần tháng này sẽ xong, có thể khỏi lo. Vua vẫn còn lấy làm lo, mới sai bọn Trương Phước Cương đi khám.
    Chế kiềm gỗ, cấp cho Trấn Hải đài, Điện Hải đài và Định Hải pháo đài mỗi đài một cái.
    Dựng thêm 6 xưởng chứa gỗ (mỗi xưởng 11 gian, dưới lát đá núi, để chứa gỗ vân).
    Định lại lệ vận tải. Vua bảo bộ Công rằng : “Thuyền vận tải phục dịch là để vận tải vật hạng của nhà nước. Từ trước đến nay, thuyền Bắc tào hằng năm lĩnh tải lương và vật hạng công, mà thuyền Nam tào thì cách năm chở một lần khó nhọc nhàn rỗi đã không đều nhau, mà hai tào ấy lại chỉ vận tải ở hai hạt Gia Định và Bắc Thành thôi, còn hết thảy vật hạng các trấn, các đạo thì đều phái thuyền công khác đến chở như thế thì tào thuyền dùng được việc gì ? Từ nay phàm các thành trấn đạo hằng năm chở vật hạng công về Kinh, như của báu và đồ vật nặng nề, tào thuyền không chở nổi thì mới sai thuyền công chở, còn các vật hạng khác thì cho bộ ngươi hội đồng với Tào chính, chiếu số của cải vật hạng sang năm cần vận tải do bộ Hộ tư, bàn định sẵn để chia phái các tào thuyền vận tải cho đều khó nhọc nhàn rỗi”. Rồi quan Tào chính Trần Văn Năng dâng sớ nói rằng : “Lệ trước thuyền Nam tào một năm chở công, một năm đi buôn, chở công thì cấp giá cước, đi buôn thì nộp tiền ban. Sau lại cho năm chở công thì không cấp giá cước, năm đi buôn thì không nộp tiền ban, vả chăng thuyền Nam tào nhờ năm đi buôn mà sinh lý. Bây giờ bao nhiêu thuyền đều phải chở công cả thì những thuyền đến lượt trực ban không cấp tiền cước phí, mà những thuyền không phải lượt trực ban thì xin lượng cấp để chi dùng. (Thuyền Bắc tào hằng năm vận tải không chia phiên thuyền vận tải đã có số gạo cước cho nên không nói đến).
    Bèn sai bộ Hộ bàn tâu. Đến lúc lời bàn tâu lên thì cho rằng lệ năm Gia Long thứ 6, định lệ giá cước là chỉ việc tải lương mà thôi (Phàm tải lương từ Gia Định đến Kinh, mỗi thùng thóc 57 phương 9 thăng thì cấp tiền 3 quan, tự Bình Thuận thì 2 quan 6 tiền, tự Bình Hoà thì 2 quan 2 tiền, tự Phú Yên thì 1 quan 8 tiền, tự Bình Định thì 1 quan 4 tiền, tự Quảng Ngãi thì 1 quan, tự Quảng Nam thì 6 tiền ; tải từ trấn nọ đến trấn kia thì theo lệ ấy mà suy), còn như tải vật hạng thì chưa bàn đến. Bây giờ phàm tải lương thì cứ theo lệ trước lấy 1 thùng 57 phương 9 thăng làm định hạn. Về vật hạng chở hơi khó thì xưa cứ số gạo lương ấy mà cân, 57 phương 9 thăng cân nặng 2.178 cân, bớt đi một phần ba, định lấy vật hạng nặng 1.812 cân thì tính bằng 1 thùng thóc, vẫn cứ theo lệ trên, đường xa hay gần thì cấp cước nhiều hay ít. Từ nay phàm cấp giá cước thì cứ theo lệ ấy mà làm. Vua theo lời nghị.
    Đổi phát lính đội Tùng thiện ở Nghệ An đến đóng ở đất mới Trấn Ninh. Trước kia lấy hai đội Tùng thiện tam tứ tự Bắc Thành triệt về, đã trích lấy 30 người phát đi đạo Cam Lộ, còn lại 75 người thì sai trấn thần bàn cách xử trí. Trấn thần tâu rằng : “Bọn ấy đều là côn đồ vong mạng nhàn rỗi thì sinh dâm đãng, ở lẻ tẻ thì hay bỏ trốn. Nay đất Trấn Ninh đã có quan đóng giữ nên phát bọn ấy đến đây để gắng sức làm việc”. Vua y lời tâu. Bảo hạ lệnh cho trú phòng là Nguyễn Văn Lễ quản lĩnh mà kiềm thúc, đặt đội ngũ, cấp lương tháng. Lại chọn đất hoang, sức cho Chiêu Nội cấp trâu cày và nông cụ để khai khẩn thành ruộng, cho làm thế nghiệp.
    Diễn tập trận ngựa ở trước Nam Đài.
    Vua đến xem, thấy lính kỵ mã múa gươm, bắn súng ở trên lưng ngựa, rong ruổi cũng khó, bảo Vũ Văn Giải rằng : “Phép đánh bằng ngựa khác với phép đánh bộ. Lấy phép đánh bộ mà dạy cho kỵ sĩ thì sao có thể mạnh khoẻ vừa ý được. Ngươi phải soạn phép thao diễn mã trận để trẫm xét định”.
    Sai quan đi kinh lược việc biên giới ở Trấn Ninh.
    Năm ngoái quốc trưởng nước Vạn Tượng là A Nỗ nhân vì nạn chạy sang ở công quán Nghệ An từ mùa hạ đến mùa xuân nước ấy bặt không tin tức. Vua sai trấn thần bảo A Nỗ rằng : “Ấp Ma Hạt Chi đối với quốc trưởng thì có nghĩa là vua tôi, tình là anh em, thế mà cướp nước đuổi anh, lòng gian dối chẳng hỏi cũng biết. Trước đây nói tướng nước Xiêm đã xin lỗi hộ với vua Xiêm, vua Xiêm đã bỏ quá đi rồi. Đó là lời nói khống, không thể tin được. Bây giờ phải gia ý kinh doanh để mong khôi phục lấy nước. Việc nước cậy được là ở lòng người. Nếu còn muốn tự cường thì phải dời đến gần biên giới để thông tin tức với người trong nước, hay sai người ngầm về dụ người trung nghĩa, rồi nhờ uy đức triều đình để khôi phục nước, đó là việc của bản thân quốc trưởng, nên nghĩ cho kỹ”. A Nỗ nói rằng đã cho người về chiêu dụ các bộ lạc ứng nghĩa, được đến vạn người. Xin nhờ quan quân đưa về đến đất nước để lấy tiếng viện trợ, ông ta sẽ tự đem quân dân đến thẳng thành cũ. Nếu gặp quân nước Xiêm ngăn trở thì sau tự đương đầu không dám phiền đến một người quan quân. Việc xong rồi mà nước Xiêm lại đến xâm lược thì thề chết giữ lấy thành trì, không trốn như trước nữa.
    Trấn thần đem việc ấy tâu lên. Vua sai đình thần bàn. Quần thần cho rằng : “Cứu tai, thương nạn nghĩa nên như thế thế ? A Nỗ đã có chí phục quốc, lại có cơ hội phục quốc, triều đình chính nên xử trí. Bây giờ đương mùa hạ, nước lụt chưa lâu, sai đại thần đem quân đóng ở bờ bắc sông Khung Giang, đợi A Nỗ sang sông, qua tuần nhật mà vô sự thì quân ta rút về, như thế để cho A Nỗ nhờ ta mà được phục quốc, để tỏ lòng nhân của ta đã dựng lại nước bị mất, nối lại mối bị đứt. Vả lại nước Xiêm đối với ta là nước láng giềng, mà nước Vạn Tượng là bề tôi của hai nước. Trước ta thương vì cùng khổ mà nuôi vỗ nay xin về thì đưa về, thực là việc nghĩa cử. Xin sai sứ đưa thư sang nước Xiêm nói rõ đại ý của triều đình, như thế thì việc làm chính đại quang minh không ai nói vào đâu được”.
    Vua cho là phải. Trước sai Viên ngoại lang Binh bộ là Hoàng Sĩ Quang đem sắc thư hội đồng với trấn thần bảo cho A Nỗ biết. Lại sai Đô thống chế dinh Long võ là Phan Văn Thuý làm Kinh lược đại thần, Phó tướng Hữu quân là Nguyễn Văn Xuân làm phó, Tham tri Hiệp trấn Nghệ An là Nguyễn Khoa Hào làm Tham tán, đem tướng sĩ hơn 3.000 người và 20 thớt voi đến Trấn Ninh, tìm chỗ đóng quân, lượng phái biền binh đưa A Nỗ về nước.
    Bọn Phan Văn Thuý bệ từ. Vua dụ rằng : “Lần này đi làm việc nhân nghĩa, mà rất quan hệ đến quốc thể. Quân ta đến biên giới nếu người Xiêm kháng cự thì nên đưa thư bảo lấy nghĩa lớn mà bảo cho họ thôi. Nếu họ còn dám gây chuyện thì ta có cớ”. Lại nói : “Nước Vạn Tượng đã yên thì khải hoàn ngay. Hoặc có xảy ra việc gì cần phải ở lại để xếp đặt thì cho tiện nghi mà làm, sớm tâu ta biết. Các ngươi nên hết lòng thể tất việc nước, theo cơ hội mà làm. Những lời của thiên tỳ ((1) Thiên tỳ : chỉ các chức võ quan cầm quân bộ phận như thiên tướng, tỳ tướng.1) có thể dùng được cũng nên theo, không nên chỉ giữ ý kiến của mình”. Lại truyền dụ các Vệ uý trở xuống rằng: “Các ngươi xông pha lam chướng ta đã biết hết. Duy việc nghĩa nên làm cho nên tôi con phải chịu khó nhọc. Phải nên tuân lệnh tướng suý nghiêm giữ quân lính, chớ cho quấy cướp dân biên giới mà phạm quân luật”.
    Bèn thưởng cho Phan Văn Thuý và Nguyễn Văn Xuân mỗi người một cái áo đoạn gấm mở bụng, 1 cái quần nhiễu, thưởng cho tướng sĩ quần áo lương bổng theo thứ bậc. Lại thấy quân đi núi khe lam chướng, sắc cho trấn thần Nghệ An sắm nhiều thuốc men, phái y sinh đi theo quân mà điều hộ. Lại tự trấn thành đến Lạc Điền thuộc đất Trấn Ninh dọc đường đều đặt trạm, bắt dân lần lượt canh trực để thông tin tức việc quân.
    Sai sứ giao hiếu với nước Xiêm. Vua bảo bầy tôi rằng : “Nước Vạn Tượng cùng nước Xiêm có việc hiềm khích, nước Xiêm không đòi hỏi đến cùng, cũng là vì dựa vào ta. Nay ta đưa [A Nỗ] về nước, lại đưa một bức thư sang Xiêm, khiến họ bỏ hiềm khích cũ với Vạn Tượng thì về đạo đối xử nước nhỏ, hoà mục láng giềng hai mặt đều được tốt cả”.
    Bèn lấy thự Lang trung Công bộ là Lê Nguyên Hy làm Chánh sứ, Cai đội vệ Thần cơ hậu là Nguyễn Văn Lễ, Chủ sự Thái thường tự là Bùi Ngọc Thành làm Phó sứ, đem quốc thư cùng phẩm vật sang nước Xiêm (tặng vua Xiêm 2 cân kỳ nam, 3 cân quế, the trắng, the lượt, the hoa, vải nhỏ mỗi thứ 100 tấm. Tặng nhị vương 1 cân kỳ nam, 1 cân quế, the trắng, the lượt, the hoa, vải nhỏ mỗi thứ 50 tấm). Bọn Hy bệ từ. Vua dụ rằng : “Các ngươi ứng đối không được kiêu căng cho người ngoài ghét. Không được nói hèn khuất cho người ngoài khinh. Việc đi sứ, cốt sao lời lẽ cho khéo mà thôi”.
    Thự Hữu Thị lang Công bộ quản Nội vụ phủ là Lê Bá Tú mượn riêng tiền công, việc phát giác, phải cách chức, đeo gông nặng một tháng, hết hạn đánh 100 trượng, bắt làm lính vệ Tả hộ.
    Lấy Lang trung Vũ Khố là Trần Văn Hoằng làm Lang trung Nội vụ phủ. Đặt sâm hộ ở huyện Bình Chính dinh Quảng Bình. Tham hiệp Cao Bằng là Trần Văn Chiêu mất, quan Bắc Thành thấy Chiêu đi làm quan xa nhà, không thể đem về quê chôn, phát tiền công thuê người đưa về theo đường bộ, rồi làm sớ tâu lên. Vua y cho. Nhân bảo bộ Hộ rằng : “Quan tại chức chết bệnh, hộ tống bằng đường thuỷ đã có lệ rồi. Duy đưa bằng đường bộ thì do ân điển, có thể không nên phân biệt người tốt người xấu à ? Từ nay về sau các quan địa phương chết ở lỵ sở, cần đưa táng đi đường bộ, thì thượng ty phải trước đem hành trạng liêm cần hay hèn kém tâu lên đợi chỉ không được viện việc này làm lệ”.
    Dời trấn lỵ Hà Tiên về phía nam thủ Giang Thành, trấn lỵ cũ ở xã Mỹ Đức (thuộc huyện Hà Tiên), địa thế chật hẹp cho nên dời đi. Lại thấy tiền thóc thuế của hai huyện Long Xuyên, Kiên Giang trong hạt trấn hằng năm vẫn nộp tại bảo Châu Đốc, sai làm kho tạm để thu thuế hai huyện mà cấp lương bổng cho quan quân.
    Thống chế Tượng quân là Lê Văn Hoan chết. Hoan là người lão thành trọng hậu, vua đương tin dùng, khi nghe tin chết, than tiếc mãi. Tặng chức Đô thống thuỵ là Vũ Khắc, cho thêm tiền tuất 200 lạng bạc, 5 cây gấm Tống. Cho con là Cai đội Lê Văn Tạo làm Quản cơ thí sai cơ Thị tượng.
    Lấy Thống chế dinh Hổ oai là Đỗ Quý làm thự Thống chế Tượng quân, chuyên quản cơ Hùng cự và cơ Ngũ kích. Bắt đầu đặt phủ Trấn Biên ở trấn Nghệ An, lấy 7 huyện là Xa Hổ, Sầm Tộ, Man Soạn, Mường Lan, Trình Cố, Sầm Nưa, Man Xôi cho thuộc về. Năm ngoái 7 huyện ấy nội phụ, đã đặt thổ tri huyện và thổ huyện thừa. Vua đương chú ý việc biên thuỳ, mới đặt phủ để có thống nhiếp. Hai huyện Long Xuyên, Kiên Giang trấn Hà Tiên, lúa bị gió bắc làm tổn hại, Tổng trấn Gia Định tâu lên. Vua nói : “Hai huyện ấy xa ở biên giới, ruộng ở vào rừng rú rậm rạp nay bị thiên tai, thu hoạch chắc cũng chả được mấy, nên tha cả thuế ruộng”.
    Gia Định tâu dâng bản án khám lúa vụ đông năm ngoái bị tổn hại của Vĩnh Thanh. Bộ Hộ bàn rằng Gia Định từ trước đến nay, việc giảm thuế tuất tai, chưa có lệ, xin theo lệ từ Quảng Bình trở vào nam mà làm (phàm 10 phần tổn 4 thì giảm 2 phần, tổn 5 thì giảm 3, tổn 6 thì giảm 4, tổn 7 thì giảm 5, tổn 8 trở lên thì giảm hết). Vua y lời bàn.
    Truy tặng chức Thống chế cho thuộc nội Tổng quản đồn Uy viễn là Nguyễn Văn Tồn. Trước kia tặng Võ công tướng quân, chưa kịp cấp sắc, đến nay con là Quản cơ Nguyễn Văn Vỵ kêu xin cho nên có mệnh ấy. Vua nhân bảo bộ Lễ rằng : “Tồn tuy xuất thân từ đứa ở, mà lòng trung dũng đã tự trời cho, Kim Nhật Đê ((1) Kim Nhật Đê : người Hồ, làm quan đời Hán Vũ đế, tính người nghiêm cẩn trọng hậu. Vũ đế rất yêu.1) đời Hán cũng không hơn được. Trước kia trong trận Bình Định, quân Uy viễn đã mất về giặc Tây Sơn, giặc yêu tài của Tồn, Tồn giả cách theo, rồi tìm cách dẫn được cả quân trở về, thực là người trí dũng”.
    Vua đi xem Trấn Hải đài, ngày hôm sau trở về.
    Thượng thư Công bộ là Trần Văn Tính và Thị lang là Trần Đăng Nghi có tội bị miễn chức.
    Trước đây bộ Công tư cho trấn Gia Định đóng thuyền hiệu, lầm ra quy thức quá ngắn. Quyền Tổng trấn Gia Định là Nguyễn Văn Tuyên và Công tào là Trần Nhật Vĩnh trót đã khởi công đến khi biết lầm, làm sớ tâu lên và phụ thêm lời tư nói rằng nếu cứ làm như thế được thì xin báo lại mà trả lại sớ. Bọn Tính muốn che lỗi mình, trả lại tờ sớ. Đến nay đóng thuyền xong, bọn Tuyên sợ việc phát giác, đem cả sự thể tâu lên. Vua giận lắm, dụ rằng : “Kiểu thuyền ngắn bớt là do ty viên sai lầm, đó còn là lỗi nhỏ. Đến lúc thành thần đã tâu nói rõ, mà tự tiện giao trả sớ về không tâu lên, như thế không những lòng mưu giấu giếm, lại muốn che lấp tai mắt trẫm. Trẫm từ khi lên ngôi tới nay chăm cầu lẽ phải trị dân, các tờ sớ ở trong ngoài, đều xem xét kỹ lưỡng, cương lĩnh quyền hành ta đều nắm giữ. Thế mà bọn Tính còn dám dở trò gian dối như thế, tâm địa còn ra gì nữa. Nghĩ đến điều đó khiến ta tức giận dựng tóc lên. Nếu gia ân tha thứ, thì kẻ gian bắt chước tệ hại không thể nói xiết”. Lập tức sai xích giam bọn Tính ở vệ Cẩm y, cách chức, giao xuống bộ Hình nghiêm nghị. Lúc án thành, đều xử trảm giam hậu. Sai Thượng thư Hình bộ là Hoàng Kim Xán quyền giữ ấn triện bộ Công.
    Định lệ đối khám các chương sớ.
    Phàm chương sớ các thành trấn đệ đến các nha môn, đều do ty Bưu chính trình bộ Binh biên số rồi đưa sang Văn thư phòng xét xem. Nếu đệ về bộ Binh thì chuyển báo cho bộ Lại biên rồi giao sang. Việc nào thuộc về các bộ, nếu buổi sáng nhận được, thì đệ tâu ngay hôm ấy, buổi chiều nhận được thì ngày hôm sau đệ tâu, Văn
  • Chia sẻ trang này