0059.074 - [731-740] -@Nguyễn Liễu ( Done - GD)

15/12/15
0059.074 - [731-740] -@Nguyễn Liễu ( Done - GD)
  • PDF
    GoogleDocs


    :rose::rose::rose:
    thư phòng chiểu sổ biên mà gạch bỏ đi, hoặc còn cần kiểm duyệt thì cũng phải tâu xin xét lại. Nếu để chậm trễ thì bị hặc. Duy có ba bộ Lại, Hộ, Binh và hai Thương bạc, Tào chính, sổ sách các địa phương đệ đến có nhiều thì đều theo lệ trước, cứ để xét làm, không cần theo sổ trên chép mà gạch bỏ.
    Đặt sở Thượng mễ ((1) Thượng mễ : gạo vua ăn.1) ở phường Nhiêu Dụ. Đúc lại ấn đồng trường thi Hội và các trường thi Hương ở Gia Định, Nghệ An, Thanh Hoa và các Tuyển trường Sơn Tây, Hải Dương.
    Giáng Đô thống chế dinh Tiền phong là Trương Văn Minh làm Thống chế Tiền dinh quân Thần sách, vẫn quyền chức Tổng trấn Bắc Thành.
    Trước đây có tên trọng phạm tự thú, nhưng chưa thú hết, Minh tự tiện tha, đến nay sự phát giác bị giáng. Lại có người thư lại ở cục Tạo tác đã có chỉ đòi, Minh nhiều lần dâng sớ xin lưu lại, bộ Lại tham hặc, bèn dâng biểu xin nhận tội.
    Vua phê bảo rằng : “Trẫm gia ý gây dựng, nhưng nhà ngươi vẫn quen tính mờ tối không sợ phép, lòng riêng tham của, dư luận sôi nổi, thực là gỗ mục khó chạm, chớ đổ tại người thợ không khéo”.
    Quan Bắc Thành tâu rằng lính kho trước lấy ở những xã lân cận, cứ 5 đinh lấy 1, sung bổ 4 đội để chuyên giữ. Đã lâu thỉnh thoảng quen thói làm gian, đã được chuẩn định cứ 3 năm một kỳ thanh tra lại đổi. Bây giờ gần đến kỳ rồi, xin lượng trích 4 đội cơ binh thuộc thành để giữ kho, còn lính kho cũ, cho về nguyên quán, theo lệ 7 đinh lấy 1 kén làm cơ binh. Bộ Hộ phước duyệt, xin theo lời nghị của
    Bắc Thành.
    Vua dụ rằng : “Chúng đã là lính, cần gì phải kén lại. Huống chi chiếu lệ 7 đinh lấy 1 thì chẳng khỏi người nghèo phải đi lính, mà người giàu có thể được tìm cách miễn. Vậy hạ lệnh phàm cai đội, đội trưởng, thứ đội trưởng, thì khuyết đâu bổ đấy. Còn những lính thuộc Sơn Nam, Sơn Tây, Bắc Ninh thì bổ vào sổ giản binh thiếu của các trấn. Những lính thuộc Hoài Đức thì bổ vào sổ giản binh thiếu của Sơn Tây, đợi khi có lính chết hay trốn mà thiếu ngạch thì mới theo quê quán mà điền bổ y lệ. Lính kho 11 trấn thuộc thành cũng theo đó, cứ theo quê quán mà bổ khuyết và lấy cơ binh thay vào. (Cơ binh Tả quân Sơn Nam 40 người giữ kho thóc của trấn, cơ binh Tam kích Tượng quân 40 người giữ kho Xích Đằng ((2) Kho chứa thóc ở xã Xích Đằng.2), cơ binh Hữu quân Hải Dương 50 người giữ kho thóc của trấn, 50 người giữ kho Xích Đằng. Còn các kho trấn khác, Nam Định cơ binh Trung quân 100 người, Bắc Ninh cơ binh Tiền quân 50 người ; Hưng Hoá cơ binh Hưng hùng, Quảng Yên cơ binh Quảng hùng, Lạng Sơn cơ binh Lạng hùng, Thái Nguyên cơ binh Thái hùng, Tuyên Quang cơ binh Tuyên hùng, Cao Bằng cơ binh Cao hùng, mỗi trấn đều 20 người).
    Lại lấy Tả Tham tri Hộ bộ là Lê Đăng Doanh làm Tả Tham tri Lại bộ.
    Hiệp biện Đại học sĩ lĩnh Thượng thư Binh bộ là Nguyễn Hữu Thận ốm xin nghỉ. Sai thự Tham tri Đặng Văn Thiêm, Thị lang Lê Văn Đức và Trương Minh Giảng hộ lý ấn triện bộ Binh.
    Lấy Tả Thị lang Binh bộ là Lê Văn Đức làm thự Tả Tham tri Binh bộ, Hữu Thị lang Hộ bộ là Lý Văn Phức làm thự Hữu Tham tri Hộ bộ, Tham hiệp Quảng Ngãi là Lê Vạn Công làm thự Tả Thị lang Công bộ, Hàn lâm viện Thừa chỉ là Lê Công Tường làm Tham hiệp Quảng Ngãi.
    Người làng Đăng Xương dinh Quảng Trị là Nguyễn Đăng Khoa dâng ấn ngọc (vuông 1 tấc 7 phân 1 ly, núm cao 1 tấc 6 phân 2 ly), khắc bốn chữ triện “Vạn thọ vô cương” ((1) Vạn thọ vô cương : sống lâu muôn tuổi không cùng.1) ( Chữ Hán ) nói là đào đất bắt được nhờ Văn thư phòng Tôn Thất Mạch dâng lên.
    Vua đưa cho bầy tôi xem và bảo rằng : “Trẫm mới lên ngôi, người Long Hồ đã dâng lên một cái ấn ngọc khắc bốn chữ “Trung hoà vị dục” ( Chữ Hán ) nay lại được ấn này. Xem văn nghĩa thì không phải dân gian có được. Hoặc là ấn báu của tiên triều truyền cho nhau, lấy dấu từ lâu cũng chưa biết chừng. Vả lại xem sắc ngọc, thì ấn ngày này sáng nhuần và cũ kỹ hơn”.
    Bầy tôi đều tâu rằng : “Đấy là phước lành Hoàng thượng sống lâu, nhà nước vững mãi”. Vua dụ rằng : “Trẫm từ lên ngôi đến nay, ngày ngày lo sao trên thoả ơn sâu phó thác, dưới để phép hay đời sau. Thế mà gần đây nhân dân chưa được giàu có, mùa màng chưa được phong đăng, trăm quan chưa được đều hiền lương, lại viên chưa được đều giữ pháp luật. Lại thêm năm ngoái việc biên phòng ở Nghệ An, việc thuỷ tai ở Bắc Thành, trẫm ngày đêm nóng ruột, mơ màng không quên. Cho nên năm nay chưa đến 40 tuổi mà răng đã có cái rụng, tóc đã có cái bạc. Nếu nhờ trời đất tổ tông phù hộ, từ nay về sau, các nơi ninh thiếp lại thường được mùa, trong có nhiều tôi trung thành, ngoài có nhiều công tài giỏi, nước sông thuận dòng bờ cõi yên ổn, bấy giờ đỡ lo khuya sớm chút bớt nhọc nhằn, dẫu không có ấn ngọc này, cũng có thể sống đến trăm tuổi. Lấy ấn ngọc làm điềm lành thì ta chưa dám vội nghĩ thế đâu !”.
    Bèn cho Nguyễn Đăng Khoa làm Chánh bát phẩm thư lại ở bộ Lễ, thưởng bạc 50 lạng, đoạn ngoài đoạn lót mỗi thứ 3 tấm. Vua thấy ấn ngọc dâng vào ngày lễ thọ, dụ rằng từ nay về sau ân chiếu về tiết Vạn thọ thì dùng ấn ấy để ghi nhớ.
    Tiết Vạn thọ. Vua dụ rằng : “Phàm những người thí thự tri huyện, huyện thừa, và thí sai suất đội, đều cho thực thụ ; các quan trong ngoài bị phạt bổng, đã biên vào sách, đều tha ; các lính và thợ làm việc thì thưởng tiền theo thứ bậc. Những binh lính lương chỉ cấp gạo thì cấp tiền lương 2 tháng.
    Thanh Hoa được mùa to. Sai Trấn thủ Nghệ An là Nguyễn Văn Hiếu, Tham hiệp là Hồ Hựu đến Văn Khê (thuộc huyện Hội Nguyên phủ Tương Dương) điều khiển vận tải lương quân, chế ấn “Nghệ An hành ấn” bằng ngà cấp cho.
    Sai Phó đô thống chế Trung dinh quân Thần sách là Đoàn Văn Trường, thự Tả Tham tri Binh bộ là Lê Văn Đức quyền lĩnh việc trấn Nghệ An.
    Phát dược phẩm nội thảng (dầu bạc hà, rượu chống gió, thần khúc, bánh hương trà), sai trung sứ đem cho các tướng sĩ đi kinh lược, nhân sắc rằng tình trạng trong quân cứ 5 ngày báo một lần. Lại thấy vận lương khó khăn, sai hạ lệnh Phòng ngự sứ Trấn Ninh là Chiêu Nội chứa thóc cho nhiều ở địa phương Lạc Điền, để cấp lương lính. Các huyện thổ phủ Trấn Biên cũng tải thóc đến đấy. Vua dụ rằng : “Phủ huyện các ngươi từ khi quy phụ đến nay, triều đình chưa có trưng cầu gì, nay mới cung ứng một lần cũng là phận sự phải làm, không nên đem lòng đùn đẩy đến nỗi nhỡ việc quân cơ mà phạm vào phép nặng”.
    Lại sai trấn thần phái người chở bạc kho 3.000 lạng đến quân thứ để dùng.
    Giặc biển ở Bắc Thành là Lý Công Đồng lại họp đảng nổi cướp ở ngoài hải phận Nghệ An. Vua dụ sai Trấn thủ Thanh Hoa là Ngô Văn Vĩnh, Phó thống thập cơ Uy thắng thuộc Hậu quân Bắc Thành là Phan Bá Hùng, đều lĩnh binh thuyền đi tuần biển. Nghệ An, Ninh Bình cũng phái lính đi hội tiễu. Lý Công Đồng trốn ẩn ở núi Chàng thuộc Quảng Yên. Người nước Thanh là Trần Quý bắt được đem nộp. Việc tâu lên. Thưởng cho Trần Quý 100 lạng bạc. Đồng thì xử lăng trì, bêu đầu đưa đi rao ở các địa phương ven biển thuộc Nam Định, Hải Dương, Quảng Yên. Dư đảng lại ra vào ở hải phận Thanh Hoa, cướp bóc thuyền buôn. Ngô Văn Vĩnh đi tuần không công hiệu gì, phải giáng 2 cấp, bắt phải truy nã.
    Nước Chân Lạp sai sứ đến chầu. Sứ đến Gia Định. Vua thương lặn lội khó nhọc, dụ cho miễn đến Kinh, cấp sắc thư và thưởng cho Phiên vương gấm vóc và thưởng bạc lạng cho sứ bộ theo thứ bậc.
    Thượng thư Lại bộ là Trần Lợi Trinh ốm. Sai Tham tri Lê Đăng Doanh và thự Thị lang Phan Bá Đạt quyền giữ ấn triện bộ Lại.
    Chế hộc, phương, thăng, uyển, bát cho trong Kinh ngoài trấn.
    Bộ Hộ tâu rằng : “Từ trước đến nay, hộc, phương, thăng, uyển, bát dùng ở kho Kinh cùng các địa phương, có nơi đã cấp mà lâu ngày nát hỏng, có nơi chưa cấp, mà tự lượng chế lấy. Nay xin sai Vũ Khố chế cấp cho để rõ thể thức nhất định. Duy 5 trấn thành Gia Định và 11 trấn Bắc Thành do thành chế theo mẫu chế ra để chuyển cấp. Còn như khuê, loát, sao, thược, hợp, 5 thứ là vật bé nhỏ, thì do thượng ty cai quản liệu tự chế lấy không cần cấp quy thức. (10 khuê((1) Khuê : xưa lấy 24 hạt thóc nếp làm 1 khuê.1) là 1 loát, 10 loát là 1 sao, 10 sao là 1 thược, 10 thược là 1 hợp, 10 hợp là 1 thăng, 13 thăng là 1 phương, 10 phương là 1 trung phương, 26 thăng là 1 hộc, uyển lớn thì 30 uyển là 1 phương, uyển vừa 30 uyển là 1 trung phương, 1 bát rưỡi là 1 thăng. Phàm hộc, phương đều làm bằng gỗ, thăng, uyển, bát đều làm bằng đồng. Hộc dùng thu chi thóc công, phương cùng uyển lớn dùng thu chi gạo lương, trung phương cùng trung uyển dùng thu chi muối, thăng dùng thu chi muối gạo, bát dùng thu gạo cước).
    Vua chuẩn y lời bàn của đình thần rằng các trấn thuộc Gia Định và Bắc Thành cũng là một lệ từ Kinh chế, mà cấp cho.
    Định lại trần thiết nghi vệ. (Phàm gặp tế Nam Giao và các lễ lớn, vua đến Trai cung cùng đàn Xã Tắc, miếu Lịch đại đế vương, Văn miếu, Tịch điền, đều đặt lỗ bộ đại giá, các khánh tiết vua ngự điện chịu lễ mừng thì bớt cờ bắc đẩu, ngày rằm và mồng một thiết triều thì lại bớt cờ long đạo, cờ long vân, cờ vân cẩm, cờ ngũ hành. Cùng xe ngự liễn, những ngày miếu hưởng, và ngày khánh tiết ở cung Từ Thọ, vua đến làm lễ, đường xe đi hơi gần, thì bớt cờ bắc đẩu, cờ phướn, xa lộ, chiêng, trống, ngự tượng, nghi tượng ; tán quạt cũng bớt đi một nửa. Lỗ bộ thường triều, thì bày 4 cái lọng vẽ năm mây, 12 cái quạt lông công, đuôi trĩ, các màu vàng đỏ, ngự trượng, ngô trượng, kim phủ, kim việt, mỗi thứ 16 cái).
    Chuẩn định từ nay các quan và quân dân ở Kinh ai phạm tội cần giam giữ thì do bộ xét hỏi, tội nặng thì giao cho ba đội Tả vệ, Hữu vệ, Kim đao giam giữ. Sau khi thành án, từ tội đồ trở lên thì đều tống vào nhà ngục Thừa Thiên, tội nhẹ thì đội Kiên đội Tín giữ lại.
    chính biên
    Đệ nhị kỷ - Quyển LII
    Thực lục về Thánh tổ nhân hoàng đế
    Mậu tý, năm Minh Mệnh thứ 9 [1828], tháng 5, ngày mồng một, trong Kinh
    kỳ mưa.
    Trước đấy nắng dữ liền mấy tuần. Vua sai đề đốc là Nguyễn Văn Phượng làm lễ cầu đảo ở miếu Vũ sư ((1) Miếu Vũ sư : miếu thờ thần mưa.1). Vẫn chưa thấy ứng. Vua nhân ngày sóc làm lễ mật đảo ở điện Hoàng Nhân. Chiều hôm ấy mưa to. Vua lập tức đến điện Hoàng Nhân lễ tạ yết, lại lấy hương, lụa trong nội thuỷ đem tạ ở miếu Vũ sư, thưởng cho Nguyễn Văn Phượng 3 cuốn sa nhỏ, thưởng cho những người phục sự ở đàn 20 lạng bạc. Rồi thì Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định, Thanh Hoa cùng tâu việc nắng đảo vũ được mưa. Vua mừng lắm.
    Sai bọn thị vệ Tôn Thất Nghị, Tu soạn Nguyễn Tri Phương, Tư vụ Lê Nguyên Đản theo các thuyền Thuỵ long, Thanh ba, đến các xứ Lữ Tống, Quảng Đông làm việc công.
    Lấy Vệ uý vệ Nghĩa võ quân Thần sách án thủ thành phủ Tĩnh Gia kiêm quản việc phủ là Lê Văn Nghĩa làm Trấn thủ Vĩnh Thanh, Phó vệ uý vệ Nghĩa võ là Vũ Văn Huân làm thự Vệ uý án thủ thành phủ Tĩnh Gia kiêm quản việc phủ, Phó vệ uý vệ Tín trực thủ hộ đài Điện Hải là Đào Văn Nghị làm Phó vệ uý vệ Nghĩa võ.
    Bắt đầu đặt Thổ tri huyện và Thổ huyện thừa ở 7 huyện thuộc phủ Trấn Ninh.
    Trước đây Trấn Ninh đã thuộc về bản đồ nước ta, đình thần bàn rằng 7 huyện ấy cũng nên đặt quan chức, để đều noi theo phép độ mà làm phên giậu mãi mãi, bèn sai Nghệ An phái uỷ Vệ uý vệ Nghiêm võ là Tạ Quang Cự, Tri phủ Diễn Châu là Đỗ Huy Cảnh đến hội với Tuyên uý sứ Chiêu Nội, chọn những thổ mục được dân tin phục, kê tên tâu lên. Đến bấy giờ bổ Tạo Thiệt làm Thổ tri huyện huyện Quảng (trước là Khoáng mới đổi), Khâm Tự làm Thổ huyện thừa, Tạo ấn làm Thổ tri huyện huyện Liên, Đông Bông Xả làm Thổ huyện thừa, Chiêm Mã Nô làm Thổ tri huyện huyện Xôi, Danh Phả làm Thổ huyện thừa, Văn Khâm làm Thổ tri huyện huyện Khâm, Phiếm Mã Xán làm Thổ huyện thừa, Trình Tuận làm Thổ tri huyện huyện Khang, Kiểu Khâm Ma làm Thổ huyện thừa, Khâm Phanh làm Thổ tri huyện huyện Cát, Quân Nô làm Thổ huyện thừa, Tạo Tha làm Thổ tri huyện huyện Mộc, Danh Bồng làm Thổ huyện thừa, đều cấp sắc mệnh và ấn đồ ký vẫn theo phủ Trấn Ninh thống nhiếp.
    Chuẩn định phủ huyện các địa phương mà ở xa trấn thì đều tính kê số lương bổng Cai tổng và lại lệ phải chi trong một năm, trích tiền thóc chính cung của dân phụ cận chứa lại để chi cấp.
    Tha 5 phần 10 thuế thiếu cho mộc hộ Nghệ An.
    Nam Định bị bão, thuyền dân bị đắm có người chết đuối. Sai trấn thần chẩn tuất.
    Sai bộ ty Binh bộ cùng thị vệ, mỗi bên một người, đến viện Thượng tứ xét xem ngựa gầy béo thế nào, làm phiếu tiến trình. Từ nay về sau cứ 10 ngày khám một lần, 3 tháng một lần làm sách gộp để bàn định thưởng phạt.
    Quốc vương Chân Lạp là Nặc Chăn, mẹ chết không dám chế tang phục, xin mệnh lệnh của triều đình.
    Vua dụ rằng : “Trẫm lấy đạo hiếu trị thiên hạ trăm quan trong ngoài đều khiến để tang cha mẹ 3 năm, nữa là đối với phiên quốc ! Nay vương nên theo lễ mà phát tang để tỏ lòng hiếu. Nhưng cũng nên bớt mối thương thuận theo cảnh biến cho yên nhà nước, để hưởng thụ vinh sủng của triều đình lâu dài mới là vẹn cả trung hiếu”. Bèn sai người đem cho gấm Tống 10 tấm, the lượt mỗi thứ 50 tấm, vải 100 tấm, sáp ong 300 cân, bạc 300 lạng, sai quân đến dụ tế ((1) Dụ tế : vua sai quan đến tế, đọc lời dụ của vua. 1). Nặc Chăn sai sứ đến tạ ơn.
    Đổi bổ Thiêm sự Binh bộ, gia hàm Ký lục lĩnh Tuyên phủ sứ phủ Lạc Hoá là Trần Chấn làm Lang trung Binh bộ gia hàm Hiệp trấn, sai cùng với Quản cơ cơ Định man đạo Cam Lộ là Tống Văn Uyển đến thành Châu Đốc theo Thống chế Nguyễn Văn Thuỵ giúp việc biên phòng.
    Đổi bổ Thiêm sự Binh bộ sung biện Binh tào thành Gia Định là Bùi Phụ Đạo làm Lang trung Binh bộ gia hàm Thị lang, lĩnh Tuyên phủ sứ phủ Lạc Hoá, kiêm quản biền binh đồn Uy viễn. Lấy Lang trung Hộ bộ là Nguyễn Công Thiện làm Tham hiệp Phú Yên, Viên ngoại lang Quang lộc tự là Nguyễn Khắc Biểu làm Tham hiệp Cao Bằng.
    Đổi châu Trịnh Cao phủ Ngọc Ma trấn Nghệ An làm phủ Trấn Định. Vẫn lấy ba huyện Cam Cát, Cam Môn, Cam Linh cho thuộc vào. Thổ tri huyện, Thổ huyện thừa mới được lĩnh sắc mệnh đem phương vật đến trấn tạ ơn, và nói dân Man thiếu ăn xin cho ra mua bán ở chợ Ngàn Phố. Vua y cho, sai trấn thần thết tiệc khoản đãi, ban cho bạc lụa rồi bảo về.
    Sửa hai nhà tả hữu triều đường.
    Hữu thông phán uỷ viên ở Phú Yên là Đặng Tiến Ký do bộ dẫn vào yết kiến, tâu đọc lý lịch, quên sót nhiều chỗ. Vua bảo thị thần rằng : “Trước đã sức các thành trấn loại bỏ người kém, mà lũ này còn được may mắn ăn trộm lộc thì làm sao mà gạn trong giới quan lại được ?” Hạ lệnh cho bộ Lễ sát hạch thì Ký không có tài thức gì đáng dùng, lập tức sai cách chức, mà phạt bổng trấn thần.
    Sai các trấn Bắc Thành làm sớ tâu kín các việc.
    Vua dụ bầy tôi rằng : “Cái cốt yếu của chính trị là ở chỗ châm trước cân lường, đổi điều không tốt làm thành điều tốt, rồi sau mới nói chính trị được. Trẫm từ lên ngôi đến nay, chăm lo mọi việc, cái xấu bỏ đi, cái tốt thì làm, trong thì các quan ở triều đình, ngoài thì các quan thành trấn phủ huyện đến cả nhân dân, có nói việc gì thì đều chọn việc tốt mà làm, chưa từng ngăn lấp đường ăn nói. Gần đây ở Bắc Thành các việc binh, dân, hình, chính, dần dần bỏ trễ, nhân tâm phong tục chưa đổi hết thói kiêu ngoa, mỗi khi nghĩ đến rất là lo lắng ngày đêm. Vả chăng thờ vua bằng lời nói là chức phận của người bề tôi, thế mà thành thần im hơi kín tiếng, không bày tỏ một việc gì. Trẫm đã đinh ninh dụ bảo mà cũng coi là hư văn, như thế há chẳng phụ lòng mong mỏi của trẫm lắm ư ? Nay truyền cho các tào các trấn thuộc thành, như có thấy chắc sự gì lợi hại có thể ích nước lợi dân, làm lâu không tệ thì cho đều được bày tỏ ý kiến, không nệ văn từ, không sợ kiêng kỵ, cốt nói cho thiết thực rõ ràng, làm tờ phong kín phát trạm tâu lên, để đáp ý trẫm sẵn lòng hỏi kẻ dưới”.
    Vua thấy xưởng gỗ là chỗ gồm chứa tài liệu, từ trước chỉ giao cho 50 người thuỷ quân canh giữ, chưa được thận trọng, bèn đổi lấy các quân Thị trung Thị nội Thần sách, chia làm 4 ban, mỗi tháng một lần đổi để canh gác, mỗi ban đặt 1 Quản vệ 3 suất đội, biền binh thì hằng năm cứ tháng 4, 5, 6, 7 mỗi ban 150 người, còn tháng khác thì mỗi ban 100 người. Những thuỷ quân phái trước đều cho rút về hàng ngũ.
    Kinh lược đại thần là bọn Phan Văn Thuý đến Trấn Ninh, đóng quân ở Lạc Điền. Quốc trưởng Vạn Tượng là A Nỗ tự xin đem phìa tạo và quân dân mới cũ về thành Viên Chăn. Bọn Thuý cho Cai đội Nguyễn Trọng Thai đem 2 đội binh Thần sách hộ tống.
    Vua từng nghĩ việc biên giới Trấn Ninh, muốn chóng xong việc cho quân nghỉ dân yên. Tự làm thơ để tỏ ý, vừa có người ở quân thứ về tâu nói rằng đại quân đi đường nhiều chỗ hiểm trở từ quan kinh lược trở xuống, đều phải đi bộ. Vua rất thương, lập tức sai thị vệ đem áo sa rồng, quạt, phá, ban cho bọn Phan Văn Thuý, Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Khoa Hào. Dụ rằng : "Các thứ này dùng lấy mát, để tỏ lòng trẫm nhớ”. Lại sai chép thơ ngự chế ban cho. Lại phát áo sa, quạt, phá, mỗi thứ 10 cái, sai bọn Thuý xét trong quân sĩ, ai là người xuất sắc thì theo truyền chỉ này mà thưởng cho. Còn nhiều người đáng thưởng thì thưởng cho lạng bạc.
    Vua nhân bảo bầy tôi rằng : "Thương giúp nước phiên thuộc, nghĩa là không đừng được. Trẫm nhớ tướng sĩ nhọc nhằn ở ngoài đã lâu ngày đêm lo nghĩ. Xưa Hán Quang Vũ đóng cửa Ngọc Môn không nhận Tây Vực (cho con làm con tin) là tính đã kỹ lắm”. Bèn dụ bọn Thuý rằng nếu A Nỗ đã về đến thành cũ thì dẫn quân về ngay không nên ở lâu.
    Thưởng tiền cho các trạm tự Thừa Thiên về Bắc đến Nghệ An, mỗi trạm 30 quan, vì cớ có việc thông tin biên vụ.
    Định lại lệ tiếp nhận và chuyển đệ ống bưu dịch. (Phàm ống bưu dịch đến trạm, cái trước, cái sau thì chiếu lệ thường đến thì đệ ngay, một giờ một khắc cùng đến thì đệ cả, không được chia ra việc khẩn đệ trước, việc thường đệ sau).
    Đặt đồn điền Trấn Ninh.
    Vua thấy cho những lính thú và tù phát phối ở Trấn Ninh, đều do Chiêu Nội cung ứng, sợ không đủ được. Vua bảo bộ Binh rằng : "Trấn Ninh đất rộng người thưa địa lợi chưa mở hết, mà quân lính không có việc gì chỉ trông vào người để lấy lương ăn thì làm sao làm kế lâu dài được. Vậy sai Hiệu uý Nguyễn Văn Lễ đốc suất binh lính cùng tù phạm ra sức làm đồn điền để lấy thóc chứa".
    Thuyền buôn Phú Lãng Sa bị gió dạt vào cửa biển Đà Nẵng, xin đem thuyền ấy nộp cho nhà nước. Vua sắc cho Quảng Nam đem bạc kho trả cho đúng giá. Nhân sai Thống chế Nguyễn Tài Năng đốc suất lính và thợ sửa chữa thuyền ấy, đặt tên là thuyền An dương. Sai Phó sứ ty Hộ thành binh mã là Đỗ Phước Thịnh xét đo hình thế núi sông ở năm nội trấn Bắc Thành, vẽ thành địa đồ dâng lên.
    Đặt đội An Di ở bảo Trấn Di trấn Vĩnh Thanh, sai quản thủ mộ lính sung vào.
    Ra lệnh cấm đúc trộm tiền.
    Trước đây Lạng Sơn xét thấy chợ phố có thứ tiền dáng lạ hơn 100 quan. Trấn thần là Hoàng Văn Tài và Đào Đức Lung vì không xét rõ được kẻ gian, đều bị giáng một cấp. Sắc cho thành thần nghiêm cấm dân trong hạt không dùng tiền đúc riêng tiêu lẫn với tiền của nhà nước. Ai phạm điều ấy thì phải tội. Quan sở tại không xét được cũng phải nghiêm trị.
    Vua nhân bảo bộ Hộ rằng : "Cục Bảo tuyền là chỗ của cải tự đấy mà ra, bọn lại ty dễ mượn thể làm gian, nếu không hạn chế mà ngăn dứt, thì cái tệ đúc tiền trộm như ở Lạng Sơn sẽ không ít đâu. Nên truyền dụ cho thành thần rút thợ đúc. Lại sức cho nhân dân, ai có chứa kẽm cũ thì hạn trong một năm phải đem bán cho Nhà nước. Từ sang năm về sau ai chứa 100 cân kẽm trở lên thì bị tội. Trong cục Bảo tuyền phải kiểm soát lẫn nhau, ai đúc trộm thì chém để răn kẻ khác. Nếu mặc kệ không xem xét, sự phát giác thì đều trị tội nặng".
    Cho chính phái của khai quốc công thần Khám lý Cống quận công Trần Đức Hoà là Trần Đức Kỳ coi giữ việc thờ tự. Đầu đời Gia Long nhớ thương công thần cũ, cấp cho Đức Hoà 4 mẫu tự điền và 4 người mộ phu, ấm thụ cho một người cháu làm đội trưởng, để chủ việc thờ cúng. Đức Kỳ xiêu dạt không biết ở đâu, phái thứ ba là Trần Đức Chử mạo nhận làm đích phái được thừa ấm, không bao lâu phái thứ hai là Trần Viết Tần lại tranh được, Tần chết không có con, em là Trần Viết Tứ được kế lập. Đến bây giờ Đức Kỳ trở về, Tứ xin nhường. Vua sai Trấn thần Bình Định xét kỹ việc này, bèn thu sắc của Tứ mà sai đình thần cấp bằng cho Đức Kỳ thừa tự.
    Bớt chức Vệ uý ở hai vệ Giám thành và Võng thành, chỉ đặt mỗi vệ một phó
    vệ uý.
    Hiệp trấn Thanh Hoa là Hoàng Kim Hoán, Tham hiệp là Tôn Thất Bạch bị tội miễn chức.
    Trước đây người huyện Hoằng Hoá là Lê Thế Tế tự làm bài hịch nhiều lời bội nghịch. án ở huyện đã xử tội lưu. Bọn Hoán đặt ra ba khoản còn ngờ, tâu xin xét lại. Vua dụ rằng : "Tên Tế chứa lòng gian ác bày ra bút giấy tra xét nó đã thú nhận, tình lý không còn ngờ gì, thế mà bọn Hoán trong chỗ không còn ngờ lại đặt lời xin bậy, tựa hồ có ý bênh vực, thực không hiểu làm sao. Vậy lập tức bắt tên phạm mà nghiêm tâu, sao cho ra được tình trạng mưu nguỵ, xét nghĩ tâu lên ? Gặp việc ba huyện Trình Cố, Sầm Nưa, Man Xôi được cấp sắc ấn, Nghệ An đã sai người đến giục. Bọn Hoán cho rằng ba huyện ấy vốn thuộc Thanh Hoa mới đổi thuộc về Nghệ An ; chưa tiếp được giấy báo của bộ Lại vì hai châu Trình Cụ, Sơn Thôi, cùng tên mới Trình Cố, Man Xôi, xem tên hơi khác, lấy thế làm ngờ, bèn ngăn trở không cho đến lĩnh. Trấn thần Nghệ An đem việc tâu lên.
    Vua giận lắm, dụ rằng : "Thanh Hoa trước có án Lê Thế Tế, nay lại có việc Trình Cố. Không ngờ bọn Kim Hoán một đời học vấn đã vì đứa bạn nghịch đặt kế gỡ tội, lại khiến thổ ty không nhận sắc mệnh. Vả lại Lê Thế Tế sinh vào triều thịnh, chưa bị tội tình gì, có điều gì phẫn oán mà dám làm lời văn bội nghịch, người có lương tâm nghe nói, ai lại chẳng giận dựng tóc lên. Huống chi Thế Tế từng đã thú nhận, còn gì đáng ngờ mà quay quắt biện bạch như thế. Nhưng trẫm còn cho là cái lỗi mờ tối mà thôi. Nay Thổ huyện Trình Cố đã được đi lĩnh sắc, thử nghĩ xem sắc ấy là của ai mà còn ngờ ? Năm trước Trình Cố xin nội phụ, không nói là trước thuộc Thanh Hoa, Nguyễn Văn Xuân nghe lầm đề tâu lên, triều đình giáng ân chỉ ban chức hàm, không lệ vào Thanh Hoa mà lệ vào Nghệ An, cũng vẫn là thần tử của triều đình cả, sao không lấy sự thực tâu lên, mà lại để lòng bờ nọ cõi kia để mắc vào tội nghịch mệnh như vậy ! Hoàng Kim Hoán, Tôn Thất Bạch, đều cho cách chức, lại phái vệ sĩ Cẩm y bắt trói đem về Kinh, giao bộ Hình xét xử. Đồng sự là Trấn thủ Ngô Văn Vĩnh hiện đang đem quân đi bắt giặc, đợi xem có bắt được giặc hay không, sẽ giáng chỉ để làm". Đến lúc án dâng lên, Hoán, Bạch đều xử tội đồ. Vua thương vì cố chấp mà bị tội, đổi cho Hoán phát vãng Cam Lộ gắng sức chuộc tội, Bạch theo Tôn nhân phủ sai phái. Vĩnh bị giặc biển đánh thua, bị tội trảm hậu. Lê Thế Tế cũng bị giải về Kinh tra xét, cuối cùng lấy tội bạn nghịch mà bị giết.
    Lấy Vệ uý vệ Trung nhất quân Thị trung là Lê Văn Hiếu lĩnh Trấn thủ Thanh Hoa, Tả Thị lang Hộ bộ lĩnh Hộ tào Bắc Thành là Thân Văn Duy làm Hiệp trấn, Lang trung Hộ bộ là Nguyễn Ngọc Trác làm Tham hiệp.
    Lấy Tả Tham tri Hình bộ là Nguyễn Kim Bảng làm thự Thượng thư Công bộ.
    Bổ Nguyễn Văn Trọng là Tả Thống chế quân Thị trung, Đỗ Quý làm Thống chế Tượng quân, Trần Công Điều làm Phó vệ uý vệ Thần uy dinh Thần cơ.
    Bổ Hà Thúc Lương làm Lang trung Binh bộ, Nguyễn Đôn Tố, Nguyễn Hữu Gia đều làm Lang trung Lễ bộ. Đổi bổ Tham hiệp Quảng Trị là Nguyễn Danh Giáp làm Lang trung Công bộ kiêm Giám chính Khâm thiên giám về bộ làm việc, Hàn lâm viện Thừa chỉ Tôn Thất Gia làm Tham hiệp Quảng Trị.
    Lấy Lang trung Nội vụ phủ là Trần Văn Hoằng làm thự Thị lang, Viên ngoại lang Nguyễn Đức Trinh, Nguyễn Văn Công đều làm thự Lang trung hiệp nhau quản lý việc Nội vụ phủ. Ra lệnh cho các quan thống quản quân Thị trung và quân Thị nội mỗi người chọn cử một cai đội thuộc quyền mình tâu lên đợi chỉ bổ dùng.
  • Chia sẻ trang này