0059.075 - @ nhani78 (Done WK)

17/12/15
0059.075 - @ nhani78 (Done WK)
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    Bãi việc Gia Định tiến con vích ((1) Chữ Hán là "Hải miết".1) và nước mắm.

    Lấy miếu lang là Tôn Thất Hữu, Tôn Thất Thọ làm Phó sứ ty Từ tế. Hữu suất ty Tả từ tế, Thọ suất ty Hữu từ tế, phụng giữ việc thờ cúng.

    Bổ Ngô Bá Nhân làm Hiệp trấn Sơn Tây, Hoàng Văn Tú làm Hiệp trấn Bắc Ninh, Hoàng Văn Đàn làm Hiệp trấn Hưng Hoá, Tô Danh Hoảng làm Hiệp trấn Thái Nguyên, Lưu Đình Luyện làm Hiệp trấn Cao Bằng, Đào Đức Lung làm Hiệp trấn Lạng Sơn.

    Lấy Tả Tham tri Hộ bộ là Trần Nhật Vĩnh lĩnh Hộ tào Bắc Thành kiêm lý Đê chính, thự Hữu Tham tri Hộ bộ là Nguyễn Đức Hộ và Chưởng cơ Nguyễn Văn Nghị đều được miễn kiêm lý Đê chính.

    Vừa gặp kinh phái là bọn Trương Phước Cương đến Bắc Thành, xét thấy đê ở Sơn Tây, Nam Định, có chỗ thấp ướt mà chưa bồi đắp, có chỗ bồi đắp mà chưa bền chắc cũng có chỗ chưa đắp xong mà thôi, có chỗ đắp xong mà lại thủng khuyết, đem tình hình tâu lên. Vua nói : "Việc chống lụt trước đã huấn sức chẳng những hai ba lần, mà nay lại có tình hình như tờ tâu này, khiến ta không thể yên lòng được".

    Lập tức giáng dụ nghiêm trách thành thần, và uỷ riêng cho Trần Nhật Vĩnh hội với trấn thần sở tại thân đốc các phủ huyện bồi đắp đê điều. Công việc Hộ tào thì chuyên giao cho Nguyễn Đức Hội làm. Cho Phó vệ uý vệ Tráng võ quân Thần sách là Nguyễn Văn Cẩn thăng chức Vệ uý.

    Trấn thần Quảng Trị tâu rằng hạt ấy mùa đông năm ngoái ít mưa, đầu xuân năm nay lại bị gió bắc, lúa ruộng tổn hại nhiều, nay đến kỳ thu thuế, xin cho dân nộp thay bằng tiền. Vua bảo bộ Hộ rằng : "Vụ chiêm này các địa phương thu hoạch được tốt, dẫu chưa phải là được mùa to cũng là được vừa, duy Quảng Trị riêng bị tai hại, thực là đáng thương. Tuy đã giảm thuế, mà phần phải nộp bắt nộp thóc thì cũng rất khó. Nên theo lời xin để tiện cho dân".

    Tặng Vệ uý vệ quân Hữu nhị Thị trung là Nguyễn Văn Hạnh làm Thống chế. Hạnh theo đi kinh lược việc biên giới ở Trấn Ninh, ốm chết ở quân thứ. Vua nghe tin thương xót, mới truy tặng chức ấy và cấp tuất gấp đôi.

    Sai bọn kinh lược đại thần Phan Văn Thuý thống lĩnh đại đội binh tướng khải hoàn về Nghệ An.

    Trước đây Thuý sai Cai đội là Nguyễn Trọng Thai hộ tống A Nỗ về nước, đi đường gặp quân Xiêm, Thai lấy nghĩa mà bảo đều không phải đánh mà chúng rút lui. Báo tin về quân thứ, bọn Thuý chạy sớ tâu lên, lại nói quân đóng ở Lạc Điền, lam chướng nhiều quá, nhiều người ốm, xin lưu 100 binh Thần sách, để che chở việc biên báo, còn thì rút về Mường Then.

    Vua nói rằng : "Mường Then cũng nhiều lam chướng, không phải chỗ nên đóng quân. Việc biên báo đã có lính trú phòng Trấn Ninh cùng thổ binh cũng đủ, việc gì phải khổ đến quân sĩ". Dụ cho rút hết quân về trấn sở Nghệ An.

    Ngày Đinh mão, vua cày ruộng tịch điền. Lễ xong ban yến cho bầy tôi ở cung Khánh Ninh. Thưởng sa và bạc theo thứ bậc cho các hoàng tử, thân công, văn võ đại thần, đến cả ca sinh nhạc sinh, huyện lại thuộc phủ Thừa Thiên có dự việc. Đường quan bộ Lễ cùng Kinh doãn đều thưởng kỷ lục một thứ, ty viên bộ Lễ đều thưởng cho bạc lạng.

    Giảm thuế điền sang năm cho các địa phương.

    Dụ rằng : "Dân lấy việc ăn làm lớn nhất, cho nên lễ cày Tịch điền không thể bỏ được. Đời Đường đời Ngu, cho đến đời Chu đã rất là rõ ràng đầy đủ, đời Hán trở xuống việc làm nhiều cái trái xưa, mà lễ ấy cũng không dám bỏ là bởi việc nông là việc trước nhất của nhà nước. Nếu vua không tự mình đứng làm thì không lấy gì dạy thiên hạ bỏ việc ngọn chăm việc gốc được. Đến như nước ta, từ đời Lê về trước thỉnh thoảng có làm lễ ấy, nhưng còn sơ lược. Đức Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta sau khi võ công đã định, trăm việc sửa sang, mà một niềm trọng nông. Bộ Lễ chưa biết thể tất lòng thánh, mà khảo xét lễ xưa, cho nên chưa rỗi mà cử hành được. Trẫm nay theo chí trước sáng tác lễ nhạc, đều đúng theo thời. Nhân sắc cho bộ Lễ, theo lễ xưa mà châm chước nghị hành. Bèn lấy giờ tốt ngày 29 tháng 5, trẫm đến tế đàn Tiên nông. Lễ xong, lại đến ruộng tịch điền, cầm cày cầy ba luống. Tuy chưa thấy nhọc, mà những công khanh đi theo, cùng các nông phu nhiều người mồ hôi đầy mặt. Lấy đó mà suy thì biết cày cấy khó nhọc hơn mọi việc khác. Nhân nghĩ nông dân cả năm cần cù, chưa được no ấm nên động lòng thương xót. Vậy gia ơn cho giảm 3 phần 10 thóc gạo thuế năm Minh Mệnh thứ 10, để tỏ rõ ý trẫm suy mình ra người. Lại như quan lại địa phương thì người xưa trước hết xét công ở việc nông tang. Nay các quan trấn thành phủ huyện chỉ biết lấy việc sổ sách thuế khoá làm đầu, mà trẫm chưa thấy nhiều người biết dạy dân hiếu đễ và chăm làm ruộng, như thế há chẳng xấu hổ với người xưa sao ? Từ nay về sau những người có chức trách thân dân nên thể ý trẫm mà khuyến khích việc nông tang, khiến cho dân đủ ăn đủ mặc vui vẻ ấm no. Để thoả lòng trẫm trọng nông chuộng gốc, mình tự làm trước, mà nêu phép tắc”.

    Người học trò Quảng Trị là Lê Văn Tú thấy lễ Tịch điền long trọng, đón giá dâng biểu chúc mừng. Vua muốn dùng, đem hỏi bầy tôi. Tả Thị lang Hộ bộ là Ngô Phước Hội tâu rằng : "Tú dâng biểu chức mừng chẳng qua là cầu tiến thêm thôi, nếu vội thu dùng, chưa khỏi mở đường cầu may. Kỳ thi Hương cũng gần, nếu Tú có thực học đợi thi đỗ sẽ bổ dùng cũng chả muộn". Vua bèn sai bộ Lại biên tên. Rồi bổ Hàn lâm viện Đãi chiếu.

    Tháng 6, triệu quyền lĩnh trấn vụ Nghệ An là Đoàn Văn Trường và Lê Văn Đức về Kinh làm việc. Vì Trấn thủ Nguyễn Văn Hiếu và Tham hiệp Hồ Hựu đã về trấn cho nên triệu những người này.

    Chuẩn định, các trấn vào Nam đến Bình Thuận, ra Bắc đến Bắc Ninh mỗi tháng báo giá gạo một kỳ (lệ trước mỗi tháng báo 2 lần). Nếu giá chợt lên xuống đến một tiền trở lên thì tâu ngay.

    Trấn Quảng Yên có bọn cướp 500 người, từ tấn Đông Hưng thuộc Khâm Châu nước Thanh đến cướp đồn Vạn Ninh. Bọn thủ bảo Hoàng Văn Lễ đem hương dũng cự đánh, chém được mấy đầu giặc. Giặc lui chạy. Bọn Lễ không dám vượt cõi đuổi bắt làm giấy báo cho Tấn thủ Chung Nguyễn Lượng. Phân châu là Lý Nại im lặng không tra bắt gì. Lại có thuyền đánh cá của người Thanh lẻn vào vụng Đồ Sơn thuộc Hải Dương. Tấn thủ Trương Văn Nho bắt được, khám trong thuyền thấy có súng trường, thanh la và trống, Trấn thần Quảng Yên và Hải Dương đều đem việc tâu lên. Vua sai gửi thư cho Tổng đốc Lưỡng Quảng tra xét. Bọn Chung Tô Hợp bị bắt ở thuyền đánh cá đều đóng gông đưa sang Khâm Châu.

    Định lại binh ngạch 3 vệ Thị tượng.

    Trước đây vệ Thị tượng chỉ có 5 đội, mỗi đội đến trên dưới 100 người, so với lệ các cấm binh chưa được hoạch nhất. Bèn sai bổ mỗi vệ 10 đội, mỗi đội 50 người, thiếu thì mộ thêm.

    Lấy Hàn lâm viện Thị độc là Trương Đăng Quế quản lý công việc Văn thư phòng.

    Đổi bổ Đề lĩnh kho ở các thành trấn đạo làm Chánh đội trưởng. Lệ trước các kho đều có chức Đề lĩnh, đến lúc định lại quan chế thì bớt đi. Vua nghĩ các kho thu vào chi ra phải có người trông coi, bèn hạ lệnh các đề lĩnh hiện đương làm việc đều cho chức hàm Chánh đội trưởng trật Chánh lục phẩm vẫn giữ việc đề lĩnh. Còn chỗ nào dùng chức Quản cơ quản lĩnh cũng đều khiến lấy bản chức mà làm việc đề lĩnh.

    Ninh Bình tâu rằng từ trước tới nay gặp các lễ khánh tiết, tờ biểu chúc mừng của Thanh Hoa, đạo Ninh Bình không được dự. Nay xin sắm sửa phương vật, uỷ người dâng biểu chúc mừng. Vua giao bộ Lễ bàn, cho rằng : "Lễ vật dâng mừng, vẫn là lòng thành kính mến của thần tử. Nhưng Ninh Bình là thuộc hạt của Thanh Hoa, nếu cho đứng riêng một tờ biểu thì lẽ chưa được ổn xin từ nay phương vật của Ninh Bình thì do Thanh Hoa phụ dâng, cũng như Thuận Thành phụ vào Bình Thuận mới phải". Vua cho là phải.

    Đổi huyện Quế Dương ( ) Bắc Ninh làm huyện Quế Dương ( ).

    Lấy Lang trung Binh bộ là Hà Thúc Lương làm Tham hiệp Vĩnh Thanh. Rút bớt việc ngạch trường thi Hương.

    Bộ Lễ tâu rằng : "Khoa thi này phép thi nghiêm ngặt, học trò các nơi đã do huấn đạo giáo thụ khảo hạch một lần ; lại do Thượng ty học chính phúc hạch một lần nữa. Những người kém cỏi không lẫn vào được, không phiền tạp như các khoa trước, cho nên số học trò thi so với trước bớt đi nhiều. Song lệ định số ngạch phân khảo, sơ phúc khảo các trường thi hơi nhiều, xin lượng rút bớt đi, để cho người vừa với việc. (Lệ trường Thừa Thiên phân khảo 4, giảm làm 2, phúc khảo 8, giảm làm 6, sơ khảo 16, giảm làm 12 ; lệ trường Nghệ An, phân khảo 4, giảm làm 2, phúc khảo 6, giảm làm 4, sơ khảo 14, giảm làm 10 ; lệ trường Thanh Hoa, phân khảo 4, giảm làm 1, phúc khảo 6, giảm làm 3, sơ khảo 14, giảm làm 7 ; lệ trường Bắc Thành, phân khảo 4, giảm làm 2, phúc khảo 8, giảm làm 6, sơ khảo 16, giảm làm 12 ; lệ trường Nam Định, phân khảo 4, giảm làm 2, phúc khảo 10, giảm làm 8, sơ khảo 20, giảm làm 14), duy các chức Chủ khảo và đề điệu giám khảo thì đều lệ cũ”. Vua y lời tâu.

    Lại chuẩn định từ nay những năm có thi Hương, các phủ không phải cống học sinh, năm sau lại theo lệ mà làm. Ghi làm lệnh. Đổi Tượng quân Pháp lục ty làm Kinh tượng Pháp lục ty, đặt một Chánh cửu phẩm thư lại và 14 Pháp lục ty làm định ngạch.

    Vua đến ruộng Tịch điền xem lúa, bảo Kinh doãn là Đặng Đức Thiệm rằng : "Trẫm lúc ít tuổi, vẫn thích trồng trọt, cây đã trồng đều tốt rườm rà. Nay mới làm lễ cày Tịch điền, may gặp trời mưa, lúa tốt đẹp như thế há chẳng phải lòng trời ngầm giúp hay sao ?"

    Lấy Phó quản cơ thí sai cơ Định man là Nguyễn Văn Thạch làm Thành thủ uý Quảng Trị, thự Quản cơ cơ Định man kiêm quản đạo Cam Lộ.

    Tả Tham tri Hộ bộ lĩnh Hộ tào Bắc Thành là Trần Nhật Vĩnh có tội phải hạ ngục.

    Vĩnh trước ở Gia Định, được Tổng trấn Lê Văn Duyệt tin dùng, cậy thế ăn của đút, thậm chí cướp vợ người, dỡ nhà, chiếm đoạt tài sản của người, người ta sợ nó tàn ngược không dám phát giác. Vĩnh đi nơi khác chưa đầy một tháng, nhân dân nộp đơn kiện rất nhiều. Duyệt thụ lý tất cả, già trẻ ai cũng reo mừng. Duyệt đem việc tham tâu lên, giải Vĩnh về để đối chất, xin phái quan Kinh về hội xét. Lại làm tờ tâu nhận tội mình tin dùng phải người bậy, xin giao bộ nghị xử.

    Vua bảo bầy tôi rằng : "Duyệt trung thành có thừa, mà thiếu sáng suốt, đã vì kẻ gian lừa phỉnh đem lòng tin cậy thì vua cha ở trên đã nhắc bảo cũng vẫn mê không biết, nữa là liêu thuộc, có ai sửa chữa cho được. Đến lúc biết là lầm, hối không kịp nữa. Trần Nhật Vĩnh xuất thân hèn mọn, không dự khoa cử. Triều đình đã dùng làm đến chức này, mà dám luông tuồng làm bậy, tham lam bẩn thỉu, tội ác đầy rẫy, giá có trăm miệng cũng không thể cãi mà che giấu được, cần gì phải giải về để việc dằng dai ra. Tào thần nhiều người, tự trẫm chọn dùng, lẽ nào lại tự vì kẻ có tội tự chuốc tội lỗi, cần gì phải đợi phái quan Kinh". Bèn sai Lê Văn Duyệt đốc đồng các tào xét rõ rồi tâu lên. Lập tức phái Chủ sự Hình bộ cùng Cai đội Cẩm y mỗi chức một người đến Bắc Thành, tuyên chỉ cách chức Vĩnh, bắt trói đem về Kinh đợi tội.

    Vua dụ Lê Văn Duyệt rằng : "Trước kia khanh nghe lầm tà thuyết của Trần Nhật Vĩnh, nhiều việc sai bậy, những chương sớ tâu lên có nhiều điều không hợp, trẫm nghĩ công lao ngày trước của khanh mà không trách mắng. Nay khanh đã đến lúc bóng dâu buổi chiều còn biết hối lỗi trước, đem Trần Nhật Vĩnh nghiêm tham trừng trị và tâu xin nhận tội, tình từ thống thiết, trẫm đã thấu hết lòng khanh. Có lỗi mà biết đổi, thánh nhân còn tha, nữa là trẫm đối với khanh à. Việc khanh xin nghị xử thì gia ân miễn cho. Vậy ban dụ này ân cần chỉ bảo cho được yên lòng. Từ nay về sau khanh nên càng kính giữ đạo làm tôi, hết lòng công trung, chọn người mà dùng, chọn lời mà theo, không nóng nẩy làm bậy, không riêng nghe một người, để giữ trọn lời khen, tiếng tốt, như thế mới xứng được lòng tốt của trẫm bảo toàn công thần đến vô cùng". Dụ đến nơi, Duyệt khôn xiết mừng sợ, dâng biểu tạ ơn.

    Lấy Tả Thị lang Hộ bộ là Ngô Phước Hội lĩnh Hộ tào Bắc Thành kiêm lý Đê chính. Sai đình thần kén chọn cống sinh, giám sinh 51 người phân phát đi hậu bổ ở các thành trấn. Có 4 người ngoại 50 tuổi, đều cho bổ làm giáo thụ. Lấy Thượng bảo khanh là Thần Văn Quyền làm Hữu Thị lang Hộ bộ, Tham hiệp Quảng Bình là Nguyễn Công Liêu làm thự Thị lang Vũ Khố, Viên ngoại lang Binh bộ là Hồ Văn Tú làm Lang trung Vũ Khố, thự Lang trung Hình bộ là Phan Thanh Giản làm thự Tham hiệp Quảng Bình. Cho Nguyễn Khoa Minh làm Tả Tham tri Hộ bộ, vẫn lĩnh Hộ tào thành Gia Định, kiêm Công tào, Tả Thị lang Binh bộ là Hoàng Văn Diễn làm thự ưHữu Tham tri Binh bộ, vẫn lĩnh Binh tào.

    Sai Chưởng cơ Trương Công Tuyên kiêm quản các đội Uy chấn Thanh Nghệ lưu thú ở Bắc Thành.

    Triệu kinh lược đại thần là Phan Văn Thuý, Nguyễn Văn Xuân, và Tham tán Nguyễn Khoa Hào về Kinh để phục mệnh. Trước đây Quốc trưởng Vạn Tượng là A Nỗ về nước, bốn lần thám báo đều nói rằng cả đường yên ổn không trở ngại gì. Bọn Thuý tâu lên. Vua nói : "Sự thế Vạn Tượng có thể không xảy ra việc gì đáng lo, quân ta có thể nghỉ ngơi được". Bèn triệu bọn Thuý về, cho quân lính về quê nghỉ ngơi. Bọn Thuý vào yết kiến. Vua uỷ lạo rằng : "Lần này đi xông pha lam chướng, trẫm rất lo nghĩ về các ngươi. Hôm nay vua tôi trông thấy nhau mừng nào bằng được !". Đáp rằng : "Bọn thần nay được mạnh khoẻ, là nhờ phúc của Hoàng thượng ban cho".

    Vua nói : "Người tôi hết lòng trung thành với nước, thì trời cho phúc đó là hạnh phúc của các ngươi cũng là hạnh phúc của trẫm. Nếu không thế, mà vì cớ nước Vạn Tượng đem những người tôi chân tay gan ruột bỏ ở chỗ biên cương, thì cũng như câu "Lấy điều đối với kẻ không yêu mà làm đối với người yêu", thì đối với công luận muôn đời làm sao !".

    Lại hỏi các tướng sĩ trong quân thế nào. Bọn Thuý tâu rằng nhiều người ốm chết. Vua thương xót mãi. Nhân cho tướng sĩ ăn yến một bữa ; đối với người chết thì đặt đàn tế.

    Cho Đô thống chế Phan Văn Thuý thự Hậu quân ấn vụ. Cho Vệ uý Nguyễn Đức Long làm Vệ uý quân Trung võ Thần sách, Hiệu uý Nguyễn Văn Lược làm Phó vệ uý vệ Toàn võ, Nguyễn Văn Hoà làm Phó vệ uý vệ Định võ.

    Vua bảo bộ Binh rằng : “Đại quân đi tuần ngoài biên không như đi đánh giặc, nhưng trèo non lội suối, xông pha lam chướng, khó nhọc cũng đáng khóc thương. Thự Hậu quân Phan Văn Thuý trước bị giáng 2 cấp đều cho khai phục, Hữu quân Phó tướng Nguyễn Văn Xuân thì gia hàm Đô thống, Tham tri lĩnh Hiệp trấn Nghệ An là Nguyễn Khoa Hào thì thưởng gia 1 cấp. Ngoài ra các quan văn võ và lại tốt thì do bộ bàn thưởng. Những người chết thì tặng tuất theo thứ bậc (Những người ốm chết từ Lãng Điền, Hội Lâm trở lên, quan lại thì tặng 1 cấp, binh lính thì cho mỗi người một tấm vải, tiền tuất gấp đôi. ốm chết ở Nghệ An và lúc trở về cũng cấp tiền tuất gấp đôi).

    Thưởng thụ Cai đội Nguyễn Trọng Thai làm Phó vệ uý vệ Tráng võ quân Thần sách. Thưởng Phòng ngự sứ Trấn Ninh là Chiêu Nội gia 1 cấp, và nhiễu đỏ nhiễu lam mỗi thứ một tấm, đoạn vũ các màu 6 tấm. Trước đây quan quân đưa A Nỗ về nước hạ lệnh cho Chiêu Nội cùng 7 huyện thuộc phủ Trấn Biên, chứa nhiều thóc lương để cấp cho quân. Chiêu Nội kiếm lời từ chối, có chỉ cách lưu. Chiêu Nội sợ hãi, đem gạo nộp hơn ba nghìn phương. Bốn huyện Xa Hổ, Man Soạn, Sầm Tộ, Mường Lan, cũng nộp gạo hơn 200 phương. Đến bấy giờ việc biên đã xong, lương chứa vẫn còn thừa. Vua khen, cho Chiêu Nội khai phục nguyên hàm lại khen thưởng.

    Truy phục quan bị cách là Trần Chính Đức làm Tư vụ. Trước Chính Đức làm Hiệp trấn Nam Định, có tội bị miễn chức. Đến lúc Phan Văn Thuý đi kinh lược biên giới, Chính Đức theo đi ra sức chuộc tội, bấy giờ về ốm chết, đặc biệt truy phục chức ấy. Triệu quân trú phòng ở Trấn Ninh về. Bọn Hiệu uý Nguyễn Văn Lễ và Chủ bạ Đinh Phiên thì theo trấn sai phái ; các tù phạm phát vãng làm binh làm nô thì giao cho Phòng ngự sứ Chiêu Nội quản thúc.

    Lấy Tham hiệp Nghệ An là Hồ Hữu làm thự Hiệp trấn Nghệ An, Tham hiệp Thanh Hoa là Nguyễn Ngọc Trác làm Tham hiệp Nghệ An, Viên ngoại lang Hộ bộ là Tôn Thất Lương làm Tham hiệp Thanh Hoa.

    Sai Cai đội quân Thần sách Nghệ An là Phan Văn Thống, Hiệp thủ bảo Quy Hợp là Lê Đình Duật đem sắc dụ đi Vạn Tượng. Trước đây Quốc trưởng Vạn Tượng là A Nỗ về đến thành Viên Chăn, quân Xiêm lui về đóng ở đồn Phiên Bác, rồi lại trở lại chiếm giữ kho thóc. Con A Nỗ là Hạt Xà Bông xin lương, chúng không cho. Hạt Xà Bông tranh đấu. A Nỗ đem quân tiếp chiến, giết chết tỳ tướng nước Xiêm là Phi Nhã Phì Thai Sủng Tham. Quân Xiêm chết và bị thương rất nhiều, bỏ súng và khí giới mà chạy. Việc ấy đến tai vua. Vua bảo bầy tôi rằng : “A Nỗ nóng nảy làm bậy, lại gây oán thù với nước Xiêm. Cái nhục bại binh nước Xiêm có nhịn được không ? Sau này họ có đánh thì A Nỗ lấy sức đâu mà chống ? Chẳng khỏi lại nhờ đến ta. Triều đình xử trí việc Vạn Tượng, có thể nói là đủ nhân đủ nghĩa. Nay A Nỗ hành động như thế là phụ lòng trẫm nhiều lắm ! Nếu nó lại chạy sang ta, thì nên cự mà không nhận”. Bèn xuống sắc dụ sai bọn Phan Văn Thống đem thư đến quở trách và bắt phải tạ lỗi với nước Xiêm, đưa trả súng và khí giới cho họ đỡ giận.

    Lại sai bộ Lễ gửi thư cho Chiêu Phi Nhã Phạt Lăng nước Xiêm nói rằng: “Việc nước Vạn Tượng tranh kho thóc, dẫu là A Nỗ không khéo mềm mỏng, nhưng cũng bởi tướng Xiêm sinh sự trước. Đã sai A Nỗ tạ lỗi. Nên chuyển đạt lên vua Xiêm tha tội cho nó, khiến nó làm phiên thuộc mãi mãi”.

    Thư này gửi vào Gia Định, phái uỷ Cai đội Hà Tiên là Mạc Công Tài đem sang. Đến lúc bọn Phan Văn Thống đến đồn Phô Khâm ở bờ Nam sông Khung Giang, bị tướng nước Xiêm là Thung Vi Sa đánh úp, Thống cùng quân lính 40 người đều chết, duy Lê Đình Duật thì bị đưa sang nước Xiêm. Có lính man thoát nạn chạy về báo. Trấn thần Nghệ An đem việc tâu lên.

    Vua dụ rằng : “Ngày trước đưa A Nỗ về nước, quân Xiêm mới gặp quân ta là lui ngay. Nay sai người bảo A Nỗ tạ lỗi với Xiêm, việc này rất là thuận lẽ. Tướng Xiêm có ý kiến gì mà dám gây mối hiềm thù trước. Nếu bảo là lấy thế để báo thù Vạn Tượng, thì bọn ấy có thế lực gì mà dám giơ càng bọ ngựa ra”. Bèn sai trấn thần phái người đi dò xét, lại truyền bảo các tù trưởng Tam Động và Lạc Hoàn đều họp bộ lạc cứ hạt mình mà phòng bị.

    Tha người quan võ phạm tội là Nguyễn Đăng Huyên, phát vãng làm quân đất mới Trấn Ninh (Đăng Huyên trước là Trấn thủ Hải Dương vì đi đánh thổ phỉ quân thua, bị tội hậu trảm) chưa bao lâu cho đi theo Vũ Văn Giải để ra sức.

    Năm ngoái Bình Định gạo kém, sai phát thóc cho dân vay, đến năm nay phải nộp trả. Bấy giờ vua bảo bộ Hộ rằng : “Người vay thóc đều là dân cùng vốn không có chứa sẵn, nay bắt nộp thóc, chẳng cũng khó sao ! Nên bảo giảm giá cho nộp ngay bằng tiền”.

    Quan Bắc Thành tâu rằng thuế ruộng huyện Tam Nông thuộc Sơn Tây nộp về Hưng Hoá theo lệ cũ đến tháng mùa hạ chiết nộp bằng tiền, đến năm ngoái mới cho nộp thóc vào mùa đông, từ nay xin chia hạ, đông hai vụ mà thu để tiện cho dân. Vua y cho.

    Vua thấy trời mùa hè nóng nực, bảo thị thần rằng : “Trẫm ở thâm cung mà mình còn ướt mồ hôi, huống là thợ rèn, cả ngày gần lửa nóng thì chịu sao được. Vả lại binh khí của nhà nước cũng đã nhiều, rèn đúc không phải việc gấp vậy bãi đi”.

    Triệu Hữu Thị lang Binh bộ biện lý Binh tào Gia Định là Bùi Phổ về bộ cung chức.

    Chuyển bổ Hữu Thị lang Trương Minh Giảng làm Tả Thị lang.

    Sai Thống chế Thuỷ quân là Nguyễn Văn Hạnh và Nguyễn Tài Năng, Thống chế dinh Tiền phong là Phạm Văn Lý, đem thuyền binh đi tuần bắt giặc biển ở Thanh Hoa.

    Trước đây Thanh Hoa có giặc biển lén phát, biền binh trấn ấy bị đánh thua. Quản cơ cơ Trung dự là Bùi Đình Lẫm vì nhút nhát phải tội chém. Bọn giặc hoành hành cướp bóc ở ngoài Biện Sơn. Vua nghe tin, sai bọn Hạnh chia đi đuổi bắt. Giặc biển nghe tin chạy trốn xa. Vì mùa thu sóng gió, không tiện đuổi bắt đến cùng bèn rút quân về.

    Bắt đầu định cách thức làm gông.

    Bộ Hình tâu rằng : “Đặt ra các đồ dùng ở trong ngục là cốt để giam buộc người có tội, mà nặng nhẹ cũng nên có thể thức thường. Vả lại đóng gông là để làm nhục kẻ có tội, để họ biết rằng, từ trước đến giờ, các địa phương, hoặc dùng gông nặng, hoặc dùng gông nhẹ, so với gông câu giam phạm nhân không có phân biệt. Xin theo điển nhà Thanh, chế làm hai hạng gông thường và gông nặng (cách thức thì dùng 2 mảnh gỗ, mỗi mảnh dài 3 thước rộng 7 tấc 5 phân, ghép lại làm một, giữa khoét 1 lỗ tròn đường kính 4 tấc, gông thường thì 20 cân, gông nặng thì 30 cân). Gửi thể thức ấy cho các nha môn xét hình trong ngoài theo mà làm. Tự nay về sau những người bị tội đóng gông đều đem cùm ở đường cái địa phương xảy ra việc phạm pháp để răn. Vua cho làm như lời xin.

    Thuyền buôn Gia Định chở trộm nhiều gạo đem bán ở Hạ Châu.

    Vua bảo bầy tôi định lại chương trình để trừ mối tệ. Đình thần đều bàn rằng : “Việc bán gạo lại có nghiêm cấm, mà bọn buôn gian cứ thấy lợi thì làm, không sợ pháp luật. Nếu cứ để cho đi buôn mà đặt điều cấm thì pháp chế có rõ cũng không hơn được trước, sợ cũng chưa khỏi được sự gian lậu ở ngoài pháp luật. Muốn trừ tệ ấy chẳng gì bằng lấp cái nguồn đi là hơn. Nay xin từ nay về sau cấm hết thuyền buôn nước ta không được đến Hạ Châu buôn bán, làm trái thì chiếu luật buôn lậu mà trị tội”. Vua y theo.

    Tha những biền binh Thanh Nghệ và Ninh Bình thuộc Bắc Thành đương thao diễn ở Kinh cho hồi ngũ. Lấy Hiệp trấn Quảng Yên là Nguyễn Đăng Sĩ làm Hiệp trấn Tuyên Quang, Tham hiệp Quảng Yên là Lê Đạo Quảng làm thự Hiệp trấn Quảng Yên.

    Triệu Hiệp trấn Hà Tiên là Vũ Du về Kinh, lấy Tham hiệp Định Tường là Nguyễn Chương Đạt làm Hiệp trấn Hà Tiên.

    Định lệ dâng đơn kiện khi vua qua đường.

    Vua dụ bộ Hình rằng : “Trẫm muốn biết hết ẩn tình của dân, chỉ sợ tình dưới không được thấu lên, cho nên khi xa giá đi ra, cũng cho dân quỳ tâu ở bên đường. Vì thế có người tiểu dân không biết lấy cớ tỏ oan uổng, xung đột vào chỗ nghi trượng mà không chút sợ. Nếu không bảo rõ phép tắc thì lấy gì răn họ được. Vậy định từ nay về sau, xa giá đến đâu, quân dân có kiện gì thì phải quỳ cầm đơn phủ phục ở ngoài 5, 6 trượng, nếu có kẻ xông xáo thì phải tội bất kính, xử giảo giam hậu. Người xúi giục cũng phải cùng tội. Đơn kêu bỏ không xét”.

    Bộ Lại bàn tâu rằng từ Bình Định trở về Nam đến Bình Thuận cùng các trấn Bắc Thành, tuyển trường hạt nào thấy dân số thêm nhiều thì xin theo lệ bàn thưởng.

    Vua nói : “Phép tuyển ở Bắc Kỳ mới định, lại dân chưa quen, so với Quảng Bình trở về Nam, phép ấy thi hành đã lâu sự thể khó dễ khác nhau, nay cùng coi như nhau thì lấy gì mà phân biệt ?” Bèn định lại cách thưởng theo thứ bậc. (Về Bắc Thành, Nam Định đinh số thêm 8 phần tuyển quan được thưởng gia 1 cấp, đoạn may ngoài may trong đều 3 tấm, trấn quan thưởng kỷ lục 3 thứ. Sơn Nam, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hải Dương thêm 6, 5, 4 phần, tuyển quan thưởng kỷ lục 3 thứ, trấn quan thưởng kỷ lục 2 thứ ; trấn quan thưởng kỷ lục 1 thứ ; Bình Thuận thêm 9 phần, tuyển quan trấn quan đều thưởng kỷ lục 1 thứ ; Bình Định, Phú Yên hơn 7 phần trở xuống, Hoài Đức thêm không được 1 phần, đều không được dự).

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN LIII

    THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ

    Mậu tý, năm Minh Mệnh thứ 9 [1828], tháng 7, ngày mồng 1, lễ Thu hưởng.

    Thi Hương ở Thừa Thiên, Gia Định, Nghệ An. Sai Thượng thư Hộ bộ là Lương Tiến Tường làm Chủ khảo trường Thừa Thiên, thự Hữu thị lang Lại bộ là Phan Bá Đạt làm Phó chủ khảo, thự Hữu tham tri Hộ bộ là Lý Văn Phức làm Chủ khảo trường Gia Định, Hữu thị lang Hình bộ biện lý Hình tào thành Gia Định là Nguyễn Bá Uông làm Phó chủ khảo, thự Hữu tham tri Binh bộ là Đặng Văn Thiêm làm Chủ khảo trường Nghệ An, Hiệp trấn Quảng Bình là Trấn Bá Kiên làm Phó chủ khảo. Đến khi danh sách dâng lên, lấy đỗ Cử nhân cộng 52 người. (Trường Thừa Thiên 13 người là Lê Tập, Hoàng Thu, Nguyễn Đức Hoan, Lê Tư Duệ, Đỗ Bá Đại, Trần Lý Đạo, Phan Khánh Hội, Phạm Lân, Lâm Duy Nghĩa, Nguyễn Tất Thái, Trương Công Liêm, Hoàng Văn Nhã, Lê Quốc Trinh ; trường Gia Định 16 người là Mai Hữu Điển, Nguyễn Quang Tự, Đặng Trung Hy, Trần Văn Triện, Nguyễn Tuấn Đức, Phạm Khắc Nhượng, Nguyễn Ngọc Chấn, Trương Tiến Sĩ, Nguyễn Song Thanh, Phan Đan Quế, Nguyễn Khiêm Quang, Phan Văn Thành, Nguyễn Văn Nhan, Cao Phục Lễ, Phạm Như Bách, Phạm Ngọc Quang ; trường Nghệ An, 23 người là Tạ Hữu Khuê, Nguyễn Hoằng, Hồ Vĩnh Trinh, Nguyễn Huy Tuấn, Hà Học Hải, Bùi Đức Mậu, Nguyễn Hữu Bích, Đặng Huy Khuê, Nguyễn Đăng Thái, Nguyễn Trọng Hựu, Trần Doãn Đức, Nguyễn Đình Thực, Nguyễn Lâm, Phan Văn Nhã, Lê Trọng Hàn, Hồ Trọng Tuấn, Nguyễn Thị, Hoàng Trọng Cảnh, Lê Văn Vỹ, Nguyễn Chí Đạo).

    Bắc Thành dâng chim trĩ trắng. Thưởng 30 lạng bạc, sắc rằng về sau đừng

    dâng nữa.
  • Chia sẻ trang này