0059.076 - @ nhani78 (Done WK)

18/12/15
0059.076 - @ nhani78 (Done WK)
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    Chuẩn định từ nay về sau, phàm các địa phương phái người đến Kinh, lúc trở về, duy có Gia Định đường xa thì cho theo như cũ đi trạm công, còn thì nếu có việc quan khẩn cần bắt trạm đệ, phải tâu rõ đợi chỉ, không được cấp bừa.

    Đặt kho Đà Nẵng chở đường cát nhà nước mua ở Quảng Ngãi về chứa, khiến chọn uỷ lại dịch binh lính thuộc trấn coi giữ.

    Tham hiệp Phiên An là Vũ Hành phải tội miễn chức. Trước đây chủ thuyền ở Phiên An là Trần Văn Ngoạn đút lót bọn lại ở trấn, man khai việc đóng lại thuyền để giảm bớt tiền thuế, trấn thần không biết nó gian, y cho. Gặp có thị vệ là Vũ Huy Dụng và Lê Văn ý nhân đi việc công, xét được chuyện gian ấy tự hỏi bắt. Hành nghe việc ấy, cho là bọn Dụng trái phép khinh quan, bắt nạt dân, báo cho tào thần thành Gia Định tham tấu. Giao xuống cho bộ Hình nghị tội. Bọn Dụng sợ trốn đi. Lời nói của Hành cuối cùng xét ra không có thực trạng. Đến đây án dâng lên, Hành bị tội vu cáo cho người ta tội chết, xin bắt tội đồ. Tào thần ở thành là bọn Nguyễn Văn Tuyên, Hoàng Văn Diễn, Nguyễn Bá Uông tham tâu hàm hồ, đều bị giáng 3 cấp đổi đi. Đồng liêu là Trấn thủ Phạm Văn Châu, quyền Hiệp trấn là Ngô Đức Chính, tuy không dự việc tham tâu, mà việc đóng thuyền ấy cũng có phê chuẩn, đều phải giáng 2 cấp lưu.

    Vua dụ rằng : “Tội bọn Hành theo luật xét nghĩ cũng chẳng oan gì. Nhưng việc ấy thuộc về người hầu cận, nếu theo nguyên nghị sau này thị vệ cận thần, hoặc có chuyện sách nhiễu thực, người không biết lại lấy việc này làm răn, nghĩ trước nghĩ sau, không dám tâu thực. Hơn nữa, nếu gặp hoàng thân quốc thích cậy thế cậy thần làm việc trái phép, người ta khắc sẽ liếc mắt trông, ai dám tâu lên nữa. Vậy nên miễn tội đồ cho Hành, đổi làm cách chức. Trấn thần đồng sự và tào thần đều giáng một cấp lưu. Đến như Vũ Huy Dụng và Lê Văn ý phụng mệnh đi làm việc, chỉ nên làm việc của mình cho chóng xong. Trần Văn Ngoạn gian dối việc đóng thuyền thì đã có quan lại địa phương trừng trị, việc gì đến mình, mà tự mình bắt giam, để mong còn được thưởng, dẫu không có tình tệ gì mà đã bị người ta tâu hạch thì nên bó mình đợi lệnh, sao lại được tự tiện trốn đi ! Vậy giao cho phủ Thừa Thiên tìm bắt cho được để giao sang bộ Hình nghị tội mà răn kẻ khác. Trẫm xử đoán như thế là muốn các người thị vệ giữ phép theo công, mà các quan địa phương cũng không được để lòng thiên vị, thì mới xứng chức vụ. Sau này không những bọn hầu cận nếu thấy rõ hoàng thân quốc thích văn võ đại thần dám làm việc mọt nước hại dân, can đến pháp luật thì đều cho cứ thực tham tâu. Nếu để lòng gian xảo vì lợi ích mình mà vu cho người, hoặc che chở cho nhau, không chịu bày tỏ, một khi phát giác thì tất trị nặng. Bộ Hình nên đem dụ này sao chép phát cho các thành trấn đạo đều biết”.

    Ban yến cho các quan văn võ tự tam phẩm trở lên ở điện Văn Minh, cho mỗi người một cái túi hương.

    Lấy Viên ngoại lang Công bộ là Dương Tam làm Tham hiệp Lạng Sơn.

    Phủ Khai Quảng tỉnh Vân Nam nước Thanh cho lính sang địa giới Tuyên Quang tìm bắt giặc trốn là Triệu Ứng Lũng không được, rồi lại ra ải. Quan Bắc Thành đem việc tâu lên. Vua bảo bộ Lễ rằng : “Kẻ tội ác trong thiên hạ đều như nhau, kẻ phạm tội trốn đi xa, cố nhiên cần phải bắt cho được. Nhưng giới hạn bờ cõi, Nam Bắc rõ ràng, sao lại xông xáo vượt qua giới hạn như thế. Nếu cho là việc nhỏ mà im đi, thì lấy gì mà nghiêm phòng bờ cõi ? Nên sai Tuyên Quang tư giấy sang các phủ thuộc Vân Nam rằng về sau có người nước Thanh trốn sang thì nên báo cho quan biên giới bắt hộ giải sang, không được vượt qua biên giới. Rồi thì phủ Khai Hoá gửi hai trát một trát gửi đến Tuyên Quang nhờ bắt ứng Lũng, giao cho Nguyễn Thế Thự giải đến cửa ải Mã Bạch, một trát đưa sang Bắc Thành xin hoãn thu thuế đồng mà Nguyễn Thế Thự còn thiếu để cho hắn giúp sức bắt kẻ phạm tội. Thành thần lại tâu việc ấy lên. Vua dụ rằng : “Nguyễn Thế Thự là bảo mục Vị Xuyên, trước nhân việc thiếu thuế, đương định hạn đòi ngặt, nó lại dám vượt cõi đi cầu cạnh, rất là trái lẽ. Nên bắt trói đem về thành trị tội. Đến như Khai Quảng, Khai Hoá chỉ là một phủ thuộc Vân Nam, có việc thì quan báo với Tuyên Quang là được, sao lại hạ trát cho thành thần là Thượng ty chuyên giữ phương diện ? Trấn thần không biết viện lẽ mà khước đi, thành thần lại theo mà nhận trát, sao không hiểu việc đến như thế ; nên trả trát ngay, sai trấn thần biện rõ lệ tiếp thu công văn. Từ nay về sau, phàm việc bang giao nên đo đắn sự lý để tôn trọng quốc thể, không được sơ suất như thế nữa”.

    Nguyên Chưởng cơ lĩnh Trấn thủ Biên Hoà là Đào Quang Lý, trước vì việc ăn bớt tiền công phải tội, rồi được khởi phục làm hiệu uý vì già về hưu ; đến bấy giờ chết. Thành thần Gia Định tâu lên. Vua nghĩ có công Vọng Các, cho truy phục chức hàm Chưởng cơ.

    Truy tặng mật sai Cai đội là Nguyễn Văn Giảng làm Quản cơ. Giảng là người Bình Định, đầu đời trung hưng, thám báo tình hình giặc, không ngại khó nhọc. Khoảng năm Gia Long cấp cho ruộng quan trại 5 mẫu, ăn riêng không phải nộp thuế. Giảng đã mất, trấn thần tâu lên. Bèn gia tặng chức ấy ; ruộng vẫn cho để thờ cúng.

    Lấy nguyên Tham tri lĩnh Hiệp trấn Nghệ An là Nguyễn Khoa Hào làm thự Thượng thư Lễ bộ.

    Lấy Cai đội Vũ Khố là Trần Văn Hiệu làm Giám đốc quản lý sở Nội tạo.

    Khởi phục cho viên quan bị cách chức là Vũ Trọng Đại làm thự Tư vụ Nội vụ phủ, sung hành tẩu kho cẩm đoạn, Lê Bá Tú làm Hàn lâm viện Đãi chiếu, sung hành tẩu Văn thư phòng.

    Định lệ cho Bắc Thành chọn đặt Lý trưởng. Trước đây Tả thị lang Binh bộ lĩnh Binh tào Bắc Thành là Nguyễn Đức Nhuận vào chầu, bày tỏ cái tệ lý chính hương hào ở dân gian. Vua muốn sửa đổi lại, dụ bầy tôi rằng : “Bọn hào cường ở Bắc Thành hiếp tróc dân làng khi bầu Lý trưởng, hoặc đem đồng đảng ra để tiện làm việc gian, hoặc giao cho người hèn nhát để tiện sai khiến. Đến lúc gặp các việc quan thuế khoá binh dao thì tạ sự mà chia nhau ăn, lại còn xúi giục bình dân, ẩn giấu kẻ gian, mối tệ chẳng phải một việc mà thôi. Đến khi binh lương kiện tụng, có việc trở ngại, cần phải đốc thúc, thì thượng ty địa phương cũng chỉ đổ về dân nghèo, trách cứ người phần việc, mà bọn hương hào vẫn khôn khéo mà được thoát ngoài lưới pháp luật. Gần đây lính trốn thuế thiếu, kiện tụng rối ren, phạm nhân trốn thoát, các tệ chính bởi đấy mà ra, chưa có thể đổ cho bởi dân nghèo túng bởi tục ngoan bạc được. Bây giờ phải lập phép thế nào để trừ bỏ thói tệ ấy đi, nên bàn kỹ tâu lên”.

    Đến bấy giờ lời bàn tâu lên, xin cho các xã thôn các phường đều đặt 1 lý trưởng, định số 50 người trở lên thì đặt thêm 1 Phó lý trưởng, định số 150 người trở lên thì đặt thêm 2 Phó lý trưởng. Đều lấy người vật lực cần cán cho làm, do Cai tổng cùng dân làng đồng từ bầu cử, phủ huyện xét kỹ lại, bẩm lên trấn để cấp văn bằng và mộc triện cho. Phàm công việc trong làng đều chịu trách nhiệm. Làm việc được 3 năm, xét ra giỏi giang thì tâu xin khen thưởng, Lý trưởng sẽ bổ làm Phó tổng ngoại uỷ hay Cai tổng thí sai, Phó lý trưởng sẽ bổ Lý trưởng. Người hèn kém tham ô thì cách đi, người bầu cử cũng phải tội thất sát. Vua y theo lời bàn.

    Lấy Đô thống chế thự ấn vụ Hậu quân là Phan Văn Thuý lĩnh Phó tổng trấn Bắc Thành.

    Nguyên quyền trưởng ấn Tổng trấn là Trương Văn Minh nhiều lần bị phân xử giáng đến 5 cấp, bộ Binh tâu xin cách chức. Hạ lệnh cho thôi việc thành, mà cho Thuý thay. Thuý bệ từ. Vua dụ rằng : “Trẫm biết khanh tuổi già, vừa mới đi biên vụ khó nhọc, trẫm rất thương. Duy Bắc Thành là chỗ quan trọng không phải khanh thì không được. Vậy nên cố gắng làm việc, chẳng bao lâu sẽ triệu về”. Lại nói : “Gần đây nghe nói dân Bắc Thành có đơn kiện quan sở tại, quan trên không xét chỉ giao về cho nha môn vốn xét, xét hỏi lại. Như thế thì dân tình oan uổng bày tỏ sao được ? Khanh nên nghĩ làm thế nào để sửa cái tệ ấy thì hay ?”. Bèn ban cho triều phục nhất phẩm, phái 300 lính Thần sách đưa đi.

    Lấy Thống chế dinh Tiền phong là Phạm Văn Lý làm Thống chế Tiền dinh Thần sách.

    Tha tội cho người phạm sung quân là Trần Văn Tuân cho đi theo Phan Văn Thuý đến Bắc Thành để sai phái, ra sức làm việc.

    Truy cấp tặng sắc cho công thần Vọng Các là Đoàn Cảnh Cư. Cảnh Cư lúc đầu trung hưng làm Vệ uý vệ Ban trực tuyển phong hậu quân Thần sách, Khâm sai tổng nhung cai cơ, năm Ất mão đi theo đánh giặc, chết trận, được gia tặng Minh nghĩa công thần Phụ quốc thượng tướng quân, Chưởng cơ thuỵ là Uy Dũng, nhưng chưa cấp sắc. Đến bấy giờ con là Phi kỵ uý Đoàn Cảnh Thạc đem việc ấy tâu xin. Sai bộ Lễ chiếu y nguyên hàm và thuỵ hiệu mà truy cấp.

    Lấy Quản cơ cơ Tả uy Hậu quân là Trần Ngọc Trung làm Trấn thủ Tuyên Quang.

    Man Mục Đa Hán quy phục. Mục Đa Hán ở hai bờ sông Khung Giang, tiếp giới với Tam Động, Lạc Hoàn và Cam Lộ. Man trưởng là Phọc Chân Xa cai quản dân bên bờ sông nam, em là Lạt Xà Bông làm Phó man trưởng, cai quản dân bên bờ sông bắc, vẫn bị Xiêm La và Vạn Tượng chèn ép. Năm ngoái quân Vạn Tượng đến đánh, Phọc Chân Xa đem bộ thuộc chạy sang nước Xiêm, ngụ ở động Yên Sơn. Bèn đem phẩm vật địa phương đến cửa ải xin nội phụ. Trấn thần Nghệ An đem việc tâu lên. Vua đưa việc ấy xuống cho bầy tôi bàn. Bàn rằng vương giả đối với người cõi xa, không có ý vời họ đến, mà đức hoá đến nơi thì người cõi xa tự đến, cũng chưa từng vì họ là Man Lão mà bỏ ra ngoài. Mục Đa Hán tiếp giáp với các cống man, nay đã mộ nghĩa mà về với ta, nên theo lời xin để tỏ rõ ta không bỏ họ ra ngoài. Xin định lấy các năm sửu, mùi, thìn, tuất, cứ 3 năm một lần cống (cống phẩm dùng voi đực 1 con, ngà voi 1 đôi, sừng tê 1 tảng) đến Nghệ An làm lễ tiến cống.

    Vua theo lời bàn. Thấy sang năm là kỳ cống cũng chẳng xa, sai trả lại các đồ dâng. Cho sắc thư bạc lụa và áo quần rồi bảo về.

    Khâm sai Cai cơ Phó quản đồn Uy viễn thự lý chính quản đồn là Hồ Văn Thất, vì già ốm về hưu, lấy Quản cơ cơ Tĩnh biên là Nguyễn Văn Vỵ lĩnh Phó quản đồn đồn Uy viễn. Vỵ đến Kinh chiêm bái. Vua hỏi tình hình biên thuỳ. Tâu rằng : “Người Man Lão đã thấm nhuần giáo hoá, đồ ăn mặc của dân gian phần nhiều theo người Hán [Việt]”. Vua nhân dụ rằng : “Ngươi là dòng dõi nhà binh, cất nhắc đến chức này, phải cố gắng, vỗ nuôi quân lính, cho họ vui theo làm việc không thẹn với chức vụ tức là không phụ tiếng tăm nhà mình, thì đạo làm tôi làm con đều được cả. Chớ thấy ở chỗ xa xôi hẻo lánh mà không chịu hết lòng làm việc”.

    Lấy Kỵ đô uý Nguyễn Văn Lân lĩnh Quản đạo đạo Quang Hoá, kiêm 2 thủ Thuận Thành và Quang Phong.

    Vua se mình. Hoàng trưởng tử, các hoàng tử túc trực ở nhà Duyệt thị, thái y dâng thuốc, tất xem xét trước. Vua chăm làm việc, dù ở trong cung cấm cũng xem sớ tâu các nơi, phê phát không lúc nào nghỉ. Văn thư phòng là bọn Nguyễn Hữu Khuê và Trương Phúc Cương dâng sớ nói : “Y gia có nói: Uống thuốc tất phải bình tâm không lo nghĩ. Nay các sớ tấu trong ngoài đều do [Hoàng thượng] phê bảo, công việc đến hàng vạn, sao có thể không tổn tinh thần. Xin tĩnh dưỡng tinh thần thì thuốc men mới chóng có hiệu”. Vua xem sớ, phê rằng : “Không ngờ lũ tôi đòi nhỏ mọn mà có lòng yêu lo như thế”. Bèn truyền các nha cứ ngày lẻ dâng lục đầu bài ((1) [;' : bài trên đầu sơn màu lục.1), ngày chẵn thì thôi. Duy việc gì quan trọng thì cho tâu ngay. Thái y viện tiến thuốc, chưa công hiệu, vua chán, liền mấy ngày không uống, Hoàng trưởng tử cùng các hoàng tử dâng sớ can khéo. Vua nói : “Thánh nhân chưa từng bỏ thuốc. Cha chúng mày lại trái với mọi người à !”. Bèn sai dâng thuốc uống vài ngày khỏi. Vua ngự điện Cần Chính, các hoàng tử tước công và trăm quan văn võ lạy mừng. Cho gọi lên điện, thung dung cho uống nước chè rồi lui.

    Ban tiền cho các nhà trạm địa phương theo thứ bậc.

    Vua bảo bộ Hộ rằng : “Sang mùa thu nắng gắt quá, cửa cao nhà rộng còn thấy nóng nực nữa là người bưu dịch chạy vạy ở dưới nắng dữ. Vậy cho các trạm từ Quảng Bình về nam mỗi trạm 60 quan tiền, từ Nghệ An trở ra bắc, mưa luôn, nóng ít hơn, cho mỗi trạm 30 quan tiền”.

    Trong kinh kỳ hiếm mưa. Kinh doãn đảo ở miếu Vũ sư, chưa thấy ứng. Vua lại sai Tham tri Lễ bộ là Phan Huy Thực đảo ở miếu Hội đồng. Hôm sau mưa. Thưởng cho kỷ lục 1 thứ.

    Bắc Thành nước sông lên to. Xã Kim Quan, Bắc Ninh (thuộc huyện Gia Lâm), xã Thành Nga Nam Định (thuộc huyện Hưng Nhân), xã Phụng Nghĩa Sơn Tây (thuộc huyện Yên Sơn), xã Võng Phan Sơn Nam (thuộc huyện Phù Dung) đê đều vỡ, đê Kim Quan hại nhất, nước lụt chảy tràn sang hạt láng giềng, các huyện thuộc Sơn Nam Hải Dương ruộng bị ngập, nhân dân nhiều người chết đuối. Việc đến tai vua. Vua dụ rằng : “Đê điều Bắc Thành là để giữ nước lụt giúp nhà nông, quan hệ đến lợi hại của đời sống nhân dân. Từ trước đã đặt Đê chính cho việc chuyên trách, lại sai thành thần trông nom việc ấy. Từ năm Gia Long đến nay, các đê tu bổ hay đắp thêm, tiền của phí hơn trăm vạn, cũng không tiếc gì, chỉ là mong cho nhân dân được yên ở làm ăn mà thôi. Mùa hè năm ngoái nước sông làm hại, hai ba lần dụ cho bọn Trương Văn Minh trù tính chỗ nào nên bồi chỗ nào nên đắp tất xuất tiền vật hạng ở kho làm, cốt cho mười phần chắc chắn để mà phòng việc nước lụt trở lại. Sau đó cứ lời tâu báo đều nói là chắc chắn lắm rồi. Nay như thế thì chẳng những kho nhà nước tốn không, mà dân lại bị hại nặng thêm một tầng nữa. Cái tội của bọn ấy xao cho xiết ! Nguyên thành thần Trương Văn Minh, Đê chính Nguyễn Đức Hội và Nguyễn Văn Nghị, cùng các quan trấn và phủ huyện sở tại đều giao cho bộ Hình phân biệt nghị tội. Quan Đê chính mới là Ngô Phước Hội cũng xét nghị luôn, rồi tâu lên”. Vua lại dụ thành thần rằng : “Mỗi người dân chết đuối cấp tiền tuất 3 quan, người đói khổ rất nghèo thì cấp mỗi người 2 quan tiền gạo 1 phương, người nghèo vừa thì tiền 1 quan, gạo 1 phương. Khi nước lụt đã rút thì khuyên dân cấy bù, ai nghèo túng thì cho vay thóc giống. Ruộng lúa bị tổn thương thì đợi án khám tâu lên, sẽ lượng cho giảm thuế”.

    Mỗi khi vua ra chầu, nói đến vỡ đê ở Bắc Thành, sắc buồn không vui, bảo bầy tôi rằng : “Năm trước bệnh dịch lưu hành đời sống của dân chưa thoả, rồi lại đến thổ phỉ ở Nam Định quấy rối, nhiều nhà giàu đến trú ngụ ở thành, cuối cùng bị nạn cháy nhà, của cải mất hết. Người nghèo ở tản mác ở làng xóm lại bị nạn vỡ đê, tình trạng khổ sở, nói sao cho xiết. Trẫm gần đây se mình, lại nghe tin vỡ đê, ăn ngủ chẳng yên, ngày đêm lo nghĩ nhưng chỉ tự trách mình mà thôi. Có lẽ đức ta làm vua chưa trọn, hình ngục còn có oan uổng, chính sự còn có thiếu sót, cho nên lòng trời thương yêu lấy thế để răn chăng ? Nếu không thế thì nhân dân tội gì mà phải chịu riêng tai nạn như thế? Nhân đó ta nghĩ rằng dân mọn no ăn đủ mặc còn khó bắt buộc vào lễ nghĩa, nữa là vì đói rét thúc bách thì giữ sao được lòng thường. Hoặc có kẻ nổi lên trộm cướp thì chẳng khỏi bắt tội, há chẳng phải làm khổ dân ta một lần nữa hay sao ? Trẫm lo điều lo của dân, chẩn tuất, giảm thuế, xá thuế đều không tiếc gì, còn sợ nhân dân chưa thấu suốt được lòng trẫm”.

    Gặp có người thị vệ đi việc công ở Bắc Thành về, vua gọi hỏi về việc dân, nhân bảo thị thần rằng : “Việc đắp đê giữ lụt trẫm thường đến nửa đêm lo tính suy nghĩ đời sống của dân mà chưa được kế gì hay. Phàm đắp đê giữ lụt chẳng qua là tranh lợi với nước, tưởng cũng là vì địa thế khiến phải vậy thôi. Đất kỳ phụ ((1) Miền đất ở gần Kinh kỳ.1) ở gần biển, nước lụt tràn lại rút ngay, không đê cũng được. Còn ở Bắc Thành thì địa thế phẳng rộng, nước lũ mùa thu tiến đến, nguồn xa dòng dài, không đắp đê ngăn lại thì cái nạn ngập lụt không thể tính hằng tuần được, ruộng đất nhà cửa của dân ta đều ở đấy cả. Nếu muốn dời đi nơi khác thì đi đâu được ? Muốn cho tiện dân thì đê không thể bỏ được. Các đời trước đắp đê đã lâu. Nay chi bằng nhân đê cũ mà bồi đắp thêm. Nhưng trước khi làm cũng nên xét kỹ hình thế. Trẫm xem địa đồ, thấy gần đây các nơi đắp đê, có chỗ nhân lấy đất gần, có chỗ theo tư đê để đỡ nhân công, đều không phải là thuận thế nước mà dẫn dòng, vì thế nước sông chảy xiết dữ dội, đê không ngăn được. Thế thời việc của người chưa được chu đáo”.

    Lấy Hữu tham tri Binh bộ lĩnh Binh tào Bắc Thành là Nguyễn Đăng Tuân làm Hữu tham tri Lễ bộ, thự Hữu tham tri Binh bộ là Đặng Văn Thiêm thay lĩnh Binh tào Bắc Thành. Hiệp trấn Sơn Tây là Ngô Bá Nhân làm Hữu thị lang Hình bộ lĩnh Hình tào Bắc Thành, Hiệp trấn Hưng Hoá là Hoàng Văn Đản làm Hiệp trấn Sơn Tây, Tham hiệp Nam Định là Nguyễn Trọng Vũ làm Hiệp trấn Hưng Hoá, thự Lang trung Lại bộ là Hoàng Tế Mỹ làm thự Tham hiệp Nam Định, Tham hiệp Sơn Tây là Phan Thế Chấn làm Tham hiệp Quảng Yên, Viên ngoại lang Binh bộ là Hoàng Sỹ Quang làm thự Tham hiệp Sơn Tây.

    Tham hiệp Bình Định là Lê Quang chết. Lấy Tham hiệp Quảng Trị là Tôn Thất Gia làm Tham hiệp Bình Định.

    Giáng chức Vệ uý vệ Tiền nhị quân Thị trung là Trần Văn Lộc làm Phó vệ uý vệ Tiền phong hữu quân Thị nội. Lộc trước làm Phó vệ uý vệ Trung nhất, có thư lại là Hoàng Thiên Chiểu nhũng lạm đối với quân lính mà Lộc không biết, đến nay việc phát giác, bộ Hình nghị Chiểu phải tội sung quân, Lộc bị phạt. Vua cho rằng Chiểu thân làm cấm vệ mà dám coi thường pháp luật, đổi làm tội trảm giam hậu. Lộc phải giáng chức đổi đi.

    Lấy Phó vệ uý vệ Tiền phong hữu là Phạm Văn Thuyên làm Phó vệ uý vệ Trung nhất Thị trung, Vệ uý vệ Khinh kỵ lĩnh Thượng tứ viện là Hoàng Đăng Thận làm Vệ uý vệ quân Tiền nhị Thị trung, Phó vệ uý vệ Kỳ võ là Nguyễn Khả Bằng làm Vệ uý.

    Trấn thần Thanh Hoa tâu rằng : “Người Minh Hương trong hạt nhiều người trốn đi nơi khác, chỉ còn hơn 20 người đều là túng thiếu, xin cho đăng vào hộ tịch sở tại, cùng với nhân dân chịu sai dịch, mà miễn cho thuế bạc theo lệ cũ (mỗi năm mỗi người nộp 2 lạng bạc)”. Vua y cho.

    Tháng 8, làm duyệt tuyển ở bốn trấn Biên Hoà, Phiên An, Vĩnh Thanh, Định Tường thuộc thành Gia Định (Hà Tiên phụ vào tuyển trường Vĩnh Thanh).

    Sai Trấn thủ Hà Tiên là Mạc Công Du, Tả thị lang Lễ bộ là Hồ Hữu Thẩm, Trấn thủ Biên Hoà là Nguyễn Hữu Thuyên, thự Hữu tham tri Binh bộ lĩnh Binh tào thành Gia Định là Hoàng Văn Diễn, Trấn thủ Phiên An là Phạm Văn Châu, Hữu thị lang Hình bộ lĩnh Hình tào thành Gia Định là Nguyễn Bá Uông, Vệ uý vệ Hổ lược là Nguyễn Lương Huy, Hiệp trấn Phiên An là Bùi Đức Mân, chia nhau đi làm việc ấy.

    Hộ bộ tâu rằng : "Đất Mỹ Thanh phủ Ba Thắc, trước có người nước Thanh kiều ngụ, dẫu không dự lệ duyệt tuyển, nhưng họ đến đất ta ở làm dân phố năm nào cũng nộp thuế đã thành sổ ngạch. Nay xin đều cho ứng tuyển, chỉ người Thanh mới trú ngụ, chưa hiểu lệ luật, thì đợi họ yên ở làm ăn rồi sau sẽ lệ ấy mà làm".

    Vua theo lời tâu. Đến lúc sổ gộp dâng lên, dân số tăng lên hơn vạn người. Vua thấy Tổng trấn Lê Văn Duyệt khéo việc săn sóc vỗ về dân, số hộ khẩu dần dần tăng thêm, xuống dụ khen ngợi.

    Trấn thủ Thái Nguyên là Phan Văn Hài can vào án tham tang của người quan võ thuộc quyền, phải giải chức đợi xét. Lấy Vệ uý vệ Cường dũng Hậu quân là Tống Văn Trị quyền Trấn thủ Thái Nguyên. Đến lúc án thi hành, Hài bị phạt. Lại vì việc xét kiện thiên tư bị giáng 2 cấp, đổi đi. Bèn giáng xuống hàm Quản cơ, bắt về hưu trí.

    Nghệ An có sớ báo trời mưa luôn mấy ngày, lúa tốt đẹp lắm. Vua phê rằng : "Cố gắng đi, quan tư mục hiền thì dân có quang cảnh đầy đủ yên vui".

    Đốc học Nam Định là Thái Doãn Tư dung túng người nhà đòi tiền ở học trò kể đến vài ba trăm quan. Trấn thần hặc, bị cách chức, giao Bắc Thành tra xét. Đến lúc án dâng lên, vua nghĩ rằng Tư ngoài tuổi 70, phát đi Cam Lộ gắng sức làm việc, hạn 3 năm tha cho về làng.

    Dựng viện Vân Cẩm (ở bên tả lầu Minh Viễn một toà 13 gian).

    Cho Tô Trân làm Lang trung Lại bộ. Lấy Viên ngoại lang Lại bộ là Nguyễn Đình Tân làm Lang trung Lại bộ, Viên ngoại lang Công bộ là Vũ Huy Quýnh làm Lang trung Công bộ.

    Quan Bắc Thành xin sửa chữa súng ống và binh khí. Vua y lời tâu. Nhân bảo bộ Binh rằng : "Trị nước phải biết lo xa. Trẫm từ khi thân chính đến nay lo sách lược xây dựng nhà nước lâu dài, sửa đắp trường thành ở Quảng Bình, xây cửa hùng quan ở Hải Vân ; những nơi xung yếu dọc biển như Thuận An, Tư Dung, chỗ nào cũng lập pháo đài ; nhân chỗ hiểm trở của núi sông để mạnh thêm sự bảo vệ đất nước. Đến như thành trì các trấn cũng đều lần lượt đắp xây. Lại chứa nhiều súng tay để phòng khi có việc dùng đến. Thực là ở lúc yên mà lo lúc nguy, không bao giờ dám quên. Ngày nay nhân dân yên lành bốn cõi phẳng lặng, quân giỏi đều đóng cả ở Kinh sư, sợ không phải là thế làm mạnh phên giậu. Nên phải một phen xếp đặt để đặt thiên hạ vững bền muôn đời. Các ngươi nên vì ta nghĩ xem. Phàm siêng năng sổ sách chỉ là việc nhỏ trong chức vụ của bề tôi mà thôi. Duy vì nước mưu xa, hết lòng hết sức là điều trẫm rất trông cậy. Nếu lúc vô sự mà văn ngồi yên, võ vui chơi thì có phải là đạo người xưa cùng nhau giữ thịnh trị đâu ?".

    Vua lại bảo thị thần rằng : "Người có nước có hai việc sửa đức và thiết hiểm đều không thể thiếu được. Nay trẫm chế tạo tàu đồng là muốn giữ những chỗ yếu hại ven biển, làm xưởng chứa sẵn đấy, để lúc có việc dùng đến. Vả lại chỗ yếu lại không đâu bằng vụng Trà Sơn. Tàu ngoại quốc đến chỉ có thể đỗ ở đấy, mà chướng khí rất dữ, giếng độc hơn 10 cái. Trước có tàu Tây dương tránh gió đến đấy, cuối cùng bị nước độc làm hại, do đấy mà nói rằng người ngoại quốc dù có muốn dòm ngó cũng không sao làm được. Hơn nữa do đó ta lại giữ được chỗ hiểm để có thể vận dụng tàu thuyền kia mà. Vả lại lấy hình thế nước ta mà nói, Gia Định thì dòng sông quanh co, Bắc Thành thì đồng nội bằng phẳng, đều không có chỗ hiểm yếu đáng cậy được. Bình Định địa thế hơi mạnh nhưng lại chật hẹp ; Quảng Nam non nước cũng tốt, nhưng lại lệch xiêu ; cả đến Quảng Bình, Thanh Hoa đều không phải là chỗ đóng kinh đô được. Tóm lại không đâu bằng Phú Xuân, đất cát cao sáng, núi sông yên lặng ; đường thuỷ thì có Thuận An, Tư Dung là nơi hiểm yếu, đường bộ thì có Quảng Bình, Hải Vân, ngăn che sông lớn quanh quất ở đằng trước, đèo cao giữ ở bên hữu, rồng lượn hổ ngồi, thế khoẻ hình mạnh. Đó là trời đất đặt ra để làm chỗ cho Liệt thánh ta đóng đô mà để lại cho con cháu đến ức muôn năm mãi mãi. Hoặc có kẻ nói Kinh sư đất nhiều đá sỏi người ta thường xem là nơi củi quế gạo châu. Nhưng giáp biển dựa núi, các thứ cá các thứ gỗ, dùng không thể hết, vốn các trấn không so sánh được ; huống chi đô thành ở đấy, thấm nhuần đức trạch đã lâu. Trẫm lại tha thuế giảm thuế cho kinh kỳ trước nhất, đời sống của dân há chẳng thừa thãi hay sao ? Đó thực là nơi kinh đô tốt nhất của đế vương, muôn đời không thể đổi được vậy".

    Cho các đại thần văn ban mỗi người một quyển sổ tay. Vua dụ rằng : "Sổ ấy là người Tây dương chế, có việc gì biên nhỏ vào để xem cho tiện. Những khi trẫm thị triều xong được rỗi, có việc gì thì biên ngay vào đấy, để theo thứ tự mà thi hành, không quên việc gì. Các ngươi có điều gì quy hoạch bàn bạc có ích cho chính trị, thì tóm tắt mà biên lấy, cũng như người đời xưa biên vào giải áo vậy".

    Định lại lệ trừ hao vàng sắt. (Lệ trước, vàng 7 tuổi đến 10 tuổi đem chế tạo đồ vật, như chế làm chỉ vàng, mỗi lạng trừ hao 1 phân 5 ly, chạm trổ mỗi lạng trừ hao 1 phân, nay định lại vàng 10 tuổi chế làm chỉ vàng mỗi lạng trừ hao 5 ly, chạm trổ trừ hao mỗi lạng 4 ly. Lệ trước, sắt Hà Sung ((1) Tên sắt gọi theo những địa phương sản xuất.1) rèn làm đinh sắt đồ sắt mỗi 100 cân trừ hao 50 cân, nay tăng lên 5 cân ((2) Định tăng lên năm cân, nghĩa là trước 100 cân trừ hao 50 cân, còn 50 cân, nay tăng lên 5 cân là còn 55 cân, như thế là trừ hao 45 cân thôi.2) ; rèn làm bánh lái âm dương trước trừ hao 60 cân, nay thêm lên 10 cân, rèn làm mỏ neo sắt, trước trừ hao 62 cân, nay thêm 2 cân, sắt Bắc Thành ((1), (2), (3), (4), (5), (6) : tên sắt gọi theo những địa phương sản xuất.1) rèn làm đinh sắt trước 100 cân trừ hao 30 cân nay thêm 5 cân, rèn làm đồ sắt trước trừ hao 35 cân, nay thêm 5 cân, rèn làm dây neo trước trừ hao 50 cân nay thêm 10 cân, sắt Thuận Thành (2) sắt Thanh Hoa (3) rèn làm đinh sắt đồ sắt, trước 100 cân trừ hao 45 cân, nay thêm 5 cân ; sắt Quảng Nam, sắt Hà La (4), rèn làm đinh sắt đồ sắt, trước 100 cân trừ hao 60 cân, nay thêm 10 cân ; sắt Nghệ An(5) rèn làm đinh sắt đồ sắt, trước 100 cân trừ hao 65 cân, nay thêm 5 cân ; sắt Tây dương(6) rèn làm đinh sắt đồ sắt, trước 100 cân trừ hao 25 cân, nay thêm 5 cân ; rèn làm bánh lái âm dương trước 100 cân trừ hao 38 cân, nay thêm 2 cân ; sắt cũ rèn làm đinh sắt đồ sắt, trước 100 cân trừ hao 25 cân, nay thêm 5 cân, sắt vụn rèn làm đinh sắt đồ sắt, trước 100 cân trừ hao 50 cân, nay thêm 10 cân, chỉ đóng thuyền tàu thì theo lệ mới này, còn đều theo lệ cũ).

    Cấp thêm ngựa trạm dọc đường cho các địa phương. (Lệ trước mỗi trạm 2 con nay cấp thêm 1 con), định mỗi tháng chạy trạm hai lần, tự trước rằm trở lên đầu tháng thì từ Kinh chạy ra ngoài, từ rằm về cuối tháng thì tự ngoài chạy về Kinh, đều theo lệ thời giờ tối khẩn. Trạm nào gặp nước lụt thì cho đệ bằng người. Chế thêm cờ có chữ "Mã thượng trì đệ" cấp cho, 2 năm đổi một lần.

    Lại thấy tấn Đà Nẵng ở Quảng Nam là chỗ địa đầu quan yếu, cũng cấp cho 2 con ngựa ; tấn thủ sở tại hễ gặp việc thượng khẩn thì cho phi ngựa đệ đi. Việc tối khẩn và thứ khẩn thì cho đệ bằng ngựa.

    Lại sai chế biển nhà trạm (biển dài 3 thước 2 tấc, rộng 1 thước 5 tấc 5 phân, mặt biển khắc ba chữ tên trạm, bên cạnh khắc ngày tháng năm chế biển ấy ; sơn son thiếp vàng).

    Bắt đầu đặt hai phủ Trấn Tĩnh, Lạc Biên thuộc trấn Nghệ An. Trước đây các tù trưởng cống man Tam Động, Lạc Hoàn đem sản vật địa phương dâng ở trấn Nghệ An, xin vua ban cho sắc ấn chức hàm, để được cùng hàng bờ cõi với các phủ Trấn Ninh, Trấn Biên, Trấn Định mà đời đời nộp cống. Trần thần tâu lên. Vua giao cho đình thần bàn. Cho rằng : "Thánh nhân ở ngôi trên, uy đức tràn đến nơi xa, nước láng giềng lớn nhỏ, không nước nào là không đến chầu. Nếu người phương xa mộ nghĩa mà đến thì cũng nên tỏ ra là không ngăn trở huống chi là hai man ấy vào cống đã lâu. Cái hội mũ đai ((7) Hội mũ đai : chỉ lễ chầu vua.7) sao lại để riêng họ phải chậm ? Song ân mệnh ban ra không thể không có hơn kém. Xin chiếu theo lệ Trấn Ninh giảm một bậc mà cho".
  • Chia sẻ trang này