0059.077 - @ nhani78 (Done WK)

19/12/15
0059.077 - @ nhani78 (Done WK)
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    Vua theo lời bàn. Sai trả lại những vật họ dâng. Đặt 3 động Thâm Nguyên, Mộng Sơn, Yên Sơn làm phủ Trấn Tĩnh, cho trưởng động là Phọc Khâm Chuân La Ny làm Tuyên uý đồng tri quản lý việc phủ, đổi động làm huyện lệ vào phủ ấy ; lấy thổ mục Tạo Phiến làm thổ tri huyện huyện Thâm Nguyên, Thiệt Tây làm thổ huyện thừa, thổ mục Sân Nô Chức làm thổ tri huyện huyện Yên Sơn, Tạo Hình làm thổ huyện thừa, thổ mục Tạo Hề làm thổ tri huyện huyện Mộng Sơn, Tạo Bồng làm thổ huyện thừa. Đặt Lạc Hoàn làm phủ Lạc Biên, cho trưởng động là Phọc Bô Lâm làm Tuyên úy đồng tri, quản lý việc phủ. Đều cấp cho sắc mệnh ấn triện đồ ký (phủ thì cấp ấn đồng, huyện thì cấp đồ ký đồng, cùng kiềm gỗ mỗi phủ huyện 1 cái). Đến kỳ cống, cống phẩm vẫn theo lệ năm Gia Long. Các phủ huyện liền dâng phương vật (voi đực 5 con, ngà voi 2 đôi, tê giác 2 tảng), dâng biểu tạ. Sai trấn thần thết yến, ban bạc lụa áo quần rồi bảo về.

    Cất nhắc hơn 20 người cai đội các quân Bắc Thành là bọn Đinh Văn Tự làm Chánh phó Quản vệ Quản cơ, giao cho bộ bàn bổ dụng.

    Bọn Tự vì đi thú đã lâu, được triệu vào yết kiến. Vua bảo bộ Binh rằng : "Bọn này đã trải việc quân nhiều có người theo đánh thành Nha Trang ; có người bị vây ở thành Bình Định, năm nay còn trèo đèo lội suối đi thú phương xa, chìm đắm ở bậc dưới, nếu không phải ta thương khó nhọc đã lâu mà cho ra mắt thì còn ai cất nhắc cho". Bèn đều cất dùng cả, lại cho tiền mỗi người 10 quan.

    Quảng Nam, Quảng Ngãi đặt mua đường cát, chở đến Đà Nẵng, cân lại dôi nhiều. Vua nghe biết việc ấy, dụ rằng : "Đường cát là thổ sản 2 hạt Quảng Nam, Quảng Ngãi, cho nên phát thóc đặt mua, thực muốn đủ cho nước, lợi cho dân nguyên không so đo gì. Nay thực mua dôi số là 16 vạn cân mà dôi đến hơn 3 nghìn cân, chẳng qua là kẻ phụng hành cố cân cho nặng để mong lấy thừa, thành ra muốn tiện dân mà lại hại dân. Từ nay về sau nên nghiêm răn họ, phàm cân thì phải cho thăng bằng, nếu để lâu mà hao, xét ra không phải tình trạng gian dối bớt xớ, thì cũng châm chước miễn không bắt đền, chớ nên lấn của dân mọn mà lấy thừa nhiều".

    Thự Hiệp trấn Quảng Yên là Lê Đạo Quảng có tang cha, xin về quê trị tang. Vua cho. Vua nhân nghĩ các quan văn trong ngoài tự Ngũ phẩm trở lên, cùng giáo chức phủ huyện, đều có kỳ hạn nghỉ tang, mà các quan Lục, Thất phẩm thì chưa có lệ, bèn sắc rằng từ nay phàm văn quan lục thất phẩm, nếu gặp tang cha mẹ thì cho nghỉ về quê một tháng, hết hạn lại đi cung chức. Ghi làm lệ.

    Vua se mình mới khoẻ, muốn ngự điện nghe việc. Gặp trời mưa to, bầy tôi sợ lạnh rét can. Vua phê rằng : "Thế đủ biết lòng thành yêu mến, nhưng trẫm vẫn khoẻ, muốn gấp gặp các khanh để thoả lòng các quan trông ngóng, mà lòng trẫm cũng được thư thái, chẳng hơn ngày ngày chỉ thấy lũ đàn bà quan thị không biết nói chuyện gì à ? Bèn ngự điện Cần Chính, bầy tôi lạy mừng ở sân, áo mũ đều bị ướt. Vua cho vời lên trên điện để ngồi, uỷ lạo hồi lâu rồi ban cho tiền vàng và chuỗi ngọc trai theo thứ bậc.

    Bộ Hình tâu dâng sách thu thẩm năm nay. Tội tù có hơn 800 người. Vua xem buồn rầu dụ bầy tôi rằng : "Từ mùa thu đến giờ, nắng mưa chưa được hoà thuận. Huống lại Bắc Thành liền năm bị lụt, nhân dân nhiều người không được ở yên. Xét đến nguyên do hoặc giả vì việc hình ngục chưa được đúng đắn đến nỗi phạm đến hoà khí của trời. Trẫm đương ngày thêm lo tu tỉnh, mong kính thể theo đức hiếu sinh của trời đất. Nay cứ trong sách thu thẩm này, tính tội xác đáng nên xử tử rất nhiều, lòng trẫm thực không nỡ. Các khanh nên hết lòng xét lại, không cứ đã thẩm kết hay chưa xét xem tội tình, hơi có đáng thương đáng ngờ thì trích đem bàn lại tâu trình. Còn những án đáng xử quyết thì hãy đình bắt một lần". Đến lúc tâu lên, đặc cách cho giảm tử hình hơn 150 người.

    Cho con các quan văn làm hành tẩu ở các bộ ấy được cấp lương tháng (tháng mỗi người tiền 2 quan gạo 2 phương). Chuẩn cho từ sau chiếu lệ ấy mà làm.

    Định lại lệ đặt Cai phó tổng ở Bắc Thành. Mỗi tổng đặt một Cai tổng, chọn trong hàng Lý trưởng lấy người nhanh nhẹn giỏi việc cho làm ; tổng nào nhiều việc thì đặt thêm 1 phó tổng ngoại uỷ ; cấp văn bằng mộc triện, cứ ba năm khảo xét để phân biệt người giỏi người kém. Trong hạn ấy, nếu thuế khoá xong xuôi, địa phương yên ổn, dân không điêu hao và không có mối tệ gì khác, thì cho là hạng ưu, theo thứ tự cất nhắc, Cai tổng thí sai thì cho thực thụ, người đã thực thụ thì thăng Tòng bát phẩm bá hộ theo trấn sai phái ; Phó tổng ngoại uỷ thì cho làm Cai tổng thí sai. Nếu các việc thôi đốc tuần phòng chưa được nhất nhất thanh thoả cả, mà xét ra không có tình tiết tham ô gì thì cho làm hạng bình, đều cho lưu làm việc. Ai hèn kém tham ô, cho làm hạng liệt cách đuổi ngay.

    Thượng thư Lại bộ là Trần Lợi Trinh, Thị lang là Phan Bá Đạt làm việc sai lầm, muốn che giấu đi, đến lúc việc phát giác mới làm sớ xin nhận tội đều bị phạt 3 tháng lương.

    Vua bảo thị thần rằng : "Trẫm đãi thần hạ như cùng một thân thể không phân cách khác gì cha con trong một nhà. Muốn khiến trên dưới thông hiểu nhau để nên chính trị tốt, thì nếu ai có sự lầm lỗi, nên nói thật, bằng để lòng sợ hãi, tìm cách che giấu, há chẳng thành cái thói dối trá che đậy ư ? Trẫm vẫn không muốn che việc như thế. Trăm quan các ngươi nên thể tất ý ấy".

    Thừa Thiên được mùa to. Vua mừng bảo Kinh doãn là Đặng Đức Thiêm rằng : "Năm nay trẫm bắt đầu cày tịch điền để khuyến khích thiên hạ mà trong kinh kỳ đã được chứng nghiệm tốt như thế, thực thoả lòng trẫm trọng nông chuộng gốc. Chỉ Bắc Thành liền năm nước lụt, lúa không được mùa là còn có chỗ bất mãn thôi". Bắc Thành liền tâu báo nước sông rút xuống, trong tờ tâu có câu : "dân bị nạn dần dần yên nghiệp". Vua phê rằng : "Câu này hơi được yên lòng, nhưng chưa dám vội tin. Còn phải nhờ người chăn dân giỏi vỗ về thương yêu, xem dân như ruột thịt thì dân ta mới sớm vui tươi được. Trẫm rất trông mong". Đặt thêm viên dịch phòng Binh ở Bắc Thành, Bát phẩm thư lại 1 người, Cửu phẩm thư lại 2 người, Vị nhập lưu thư lại 20 người (Lệ định Bát phẩm 3, Cửu phẩm 4, Vị nhập lưu thư lại 50). Hiệp biện Đại học sĩ lĩnh Thượng thư Binh bộ là Nguyễn Hữu Thận già ốm xin về hưu. Vua bảo Lại bộ rằng : "Thận vốn có văn học, lúc mới đại định, rộng được thu dùng, lần lần lên đến chức khanh. Ta muốn dùng người lão thành nên nhắc lên ban cao, lại uỷ cho công việc toàn hạt Bắc Thành. Nhưng việc phòng đê, bắt giặc lầm lỗi nhiều, trẫm thương tuổi già tài kém không nỡ trách nặng, bèn triệu về Kinh, cho kiêm việc bộ, để xem công hiệu về sau. Bây giờ ốm đau, vin tuổi xin lui, tình thì thực thà, trẫm bất giác thương xót. Vậy giáng bổ chức hàm Thượng thư cho về quê hưu trí".

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN LIV

    THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ

    Mậu tý, năm Minh Mệnh thứ 9 [1828], mùa thu, tháng 9, ngày Mậu tuất, mồng một, nhật thực.

    Thi Hương ở Thanh Hoa, Bắc Thành và Nam Định.

    Sai Tả Tham tri Lại bộ là Lê Đăng Doanh làm Chủ khảo trường Thanh Hoa, Hiệp trấn Quảng Bình là Trần Bá Kiên làm Phó chủ khảo, thự Hữu Tham tri Binh bộ lĩnh Binh tào Bắc Thành là Đặng Văn Thiêm làm Chủ khảo trường Bắc Thành, Hữu Thị lang Lễ bộ là Hà Quyền làm Phó chủ khảo, Hữu Tham tri Lễ bộ là Nguyễn Đăng Tuân làm Chủ khảo trường Nam Định, Hiệp trấn Sơn Tây là Hoàng Văn Đản làm Phó chủ khảo. Lấy đỗ cử nhân cộng 61 người (trường Thanh Hoa 11 người là : Đỗ Công Nho, Đỗ Viêm, Nguyễn Đĩnh, Phan Bạch Như, Trịnh Cẩn, Đoàn Văn Phương, Lê Thức, Vũ Thế Hãn, Nguyễn Hanh, Nguyễn Đăng Sỹ, Lê Lương Tục ; trường Bắc Thành 20 người là : Lê Văn Ngọc, Nguyễn Đăng Huân, Nguyễn Văn Hợp, Phạm Bá Thiều, Phan Huy Vịnh, Nguyễn Tán, Diệp Xuân Huyên, Vũ Công Tốn, Vũ Đinh Biều, Ngô Đình Liêu, Phạm Quỹ Dương, Đặng Dụng, Hứa Văn Cường, Đinh Bạt Nhự, Nguyễn Trọng Nguyện, Vũ Văn Hoằng, Chu Bá Thành, Nguyễn Thế Khản, Hoàng Quý Luyến, Hoàng ức ; trường Nam Định 30 người là : Nguyễn Kim Xuyến, Phạm Thế Trung, Doãn Uẩn, Lưu Nguyên Ôn, Đỗ Trọng Thanh, Bùi Ngọc Quỹ, Nguyễn Đức Hiệu, Vũ Danh Thạc, Nguyễn Thế Bảo, Hoàng Đức Thạc, Tô Quốc Nghi, Trần Duy Vỹ, Phạm Thế Hiển, Lê Sâm, Phạm Chi Hương, Bùi Quang Dao, Phạm Đức Nguyên, Đỗ Quang, Dương Huy Thanh, Nguyễn Văn Hưởng, Phạm Khắc Trạch, Nguyễn Bùi Tôn, Trần Thấu, Đỗ Lệnh Tư, Đoàn Mậu, Phạm Sỹ Ái, Bùi Văn Huy, Nguyễn Đình Án, Nguyễn Duy Thị, Ngô Thế Vinh).

    Khi đệ danh sách lên thấy cử nhân Bắc Thành đều hạng bình, vua bảo Hà Quyền rằng : "Bắc Thành vốn xưng là nơi văn vật, mà kỳ thi này chỉ được những người hạng bình, hoá ra chỉ là hư danh à ?". Quyền tâu rằng : "Bắc Thành gần đây chức giáo huấn không được người tốt. Cho nên học trò không lấy ai mà theo được". Vua nói rằng phải, vì như án Thái Doãn Tư ở Nam Định dung túng người nhà đòi tiền học trò, nhớp nhúa như thế thì còn lấy gì mà làm mô phạm cho học trò được !

    Lấy Lang trung Hộ bộ sung biện Hộ tào Gia Định là Nguyễn Thảng làm thự Hiệp trấn Bình Hoà, Lang trung Binh bộ sung biện Hình tào là Lê Hữu Đức làm Tham hiệp Định Tường, Tri phủ Định Viễn là Bùi Nguyên Thọ làm Lang trung Binh bộ sung biện Binh tào thành Gia Định. Sai Phó vệ uý vệ Tả thuỷ của Thuỷ quân là Đoàn Kim kiêm quản cơ Kiên chu.

    Việc ngục tụng ở các trấn phủ huyện Bắc Thành, nhiều việc để ngừng trệ, thành thần xét ra những án chưa kết hơn 170 án đem tình trạng ấy hạch tâu. Vua bảo bộ Hình rằng : "Hình là việc lớn của nhà nước. Kinh Thư nói : "Chóng việc phạt", :rose: nói : "Không để lâu việc ngục", đều là nói hình ngục không nên để chậm. Đối với việc hình phạt, trẫm rất để ý. Trước đây hạ lệnh cho các nha xét kiện phải xét kết mau, lại đặt ra chương trình tối hậu và định rõ kỳ hạn xét kiện, đó là muốn cho hình ngục xong xuôi không để đình trệ. Nay ngục tụng Bắc Thành chất lại như thế thì dân ta chẳng đà luỵ nhiều lắm sao ! Vậy hạ lệnh cho thành thần nghiêm bắt các nha hết lòng xử đoán, hẹn đến trước ngày đông chí phải xong. Làm trái thì có tội".

    Chuẩn định từ nay về sau, phàm bộ ty và thị vệ đem dụ chỉ, chiếu thư ban cấp cho các địa phương lúc đi lúc về đều do trạm. Ghi làm lệ.

    Hạ lệnh cho vệ Khinh kỵ bắn súng tiểu thạch cơ súng, mã pháo, và các quân tập bắn súng quá sơn.

    Lại sai Đội trưởng Tả hầu Hữu hầu mỗi đội một người đi Thanh Hoa, Nghệ An chỉ thị cho biền binh Oai chấn ở 2 trấn ấy tập bắn súng hoả xa quá sơn.

    Sai Thanh Hoa, Nghệ An xét các đường cái quan trong hạt, những chỗ sông nhỏ khe ngòi, chỗ nào nên xây cầu đá thì trù tính nhân công vật liệu làm sách đệ tâu để lần lượt làm.

    Quản phủ Từ Sơn là Phan Văn Hiền nhận riêng tiền nghỉ việc của quân nhân và tự tiện đem thóc công cho vay để lấy lãi, Bắc Thành xử bắt tội đồ.

    Vua bảo bộ Hình rằng : "Đặt các phủ cho tinh binh lệ theo là cốt để nghiêm việc võ bị mà bảo vệ dân sinh. Từ trước đến nay các quản phủ phần nhiều xem là món hàng bở, ăn của đút mà tha lính, lấy lương chia nhau, đến khi kiểm duyệt, nếu không mượn người thay vào, thì khai gian là lính trốn, cho nên lính phủ chỉ có số không, đến khi đi đánh giặc thì thường lùi rụt, nhân dân khổ về bắt điền, nhiều làng đến điêu tàn, tệ ấy đã từ lâu rồi. Trẫm đã đinh ninh dặn bảo mà nay còn có kẻ coi thường pháp luật chỉ mưu lợi riêng như Phan Văn Hiền, nếu lại nhẹ tha cho, thì lấy gì mà răn những kẻ tham lam coi thường pháp luật. Vậy đổi làm trảm giam hậu”. Lại đem dụ chỉ này chép gửi cho Bắc Thành, bảo sai cấp cho các trại quân và thành phủ để biết mà tự răn.

    Chuẩn định từ nay đường quan sáu bộ không cứ đã được thực thụ hay chưa, đều được dự đình nghị và lần lượt thay ban vào chầu.

    Chế ấn quan phòng nhà cho thống chế bốn dinh Trung, Tiền, Tả, Hậu quân Thần sách.

    Cho Vệ uý vệ Nghiêm võ quân Thần sách là Tạ Quang Cự làm Vệ uý vệ Long võ trung. Lấy Viên ngoại lang Công bộ sung biện Công tào thành Gia Định là Nguỵ Khắc Tuần làm Lang trung Hộ bộ. Cấp lương tháng cho lại dịch đạo Cam Lộ, cũng bằng lại dịch các phủ, huyện.

    Lấy thự Lang trung Hình bộ sung biện Hình tào Bắc Thành là Đoàn Khiêm Quang làm Tham hiệp Quảng Trị, Đốc học Quảng Trị là Hồ Sỹ làm Lang trung Hình bộ sung biện Hình tào Bắc Thành, Giáo thụ Khoái Châu là Nguyễn Hữu Đạo làm thự Đốc học Quảng Trị.

    Bộ Lễ tâu rằng : "Từ trước đến nay, các quan ở Kinh, văn từ Lang trung các nha, Tế tửu, Tư nghiệp Quốc tử giám, võ từ chánh phó Vệ uý trở lên ; các quan ngoài văn từ Tham hiệp các trấn đạo, võ từ Trấn thủ quản đạo trở lên, lệ được chiếu phẩm mà lĩnh mũ áo đại triều. Xin từ nay phàm viên nào trong khi tại chức không có lỗi, chỉ lấy niên lệ xin về hưu, đã có chỉ cho lấy nguyên hàm về hưu, cùng những người tại chức ốm chết thì những quan phục đã được cấp ấy đều cho đem theo". Việc này giao xuống triều đình bàn, cũng cho là phải. Vua y theo.

    Lĩnh Dinh điền sứ là Nguyễn Công Trứ dâng sớ xin trừ cái tệ cường hào. Lời tâu rằng : "Từ lúc Hoàng thượng ta lên ngôi đến giờ, yêu nuôi dân chúng, ơn đức khắp tràn, nhưng mà thiên hạ vẫn chưa được đội ơn thái bình hết. Từ trước đến nay, những người bàn việc đều đổ lỗi cho quan lại, mà không biết phần nhiều là tại hào cường. Cái hại quan lại là 1, 2 phần 10, cái hại hào cường đến 8, 9 phần 10, bởi vì quan lại chẳng qua là kiếm lợi nhỏ ở giấy tờ, đòi tiền ngoài lệ ở thuế khoá, cái hại gần và nhỏ, việc đã phát lộ, thì giáng cách ngay, rồi cũng biết hối. Còn cái hại hào cường, nó làm con người ta thành mồ côi, vợ người ta thành goá bụa, giết cả tính mạng của người ta, hết cả gia tài của người ta, mà việc không lộ, cho nên cứ công nhiên không kiêng sợ gì. Chỗ nào chúng cũng cùng nhau anh chị, chuyên lợi làm giàu, dối cợt quan lại, để thoả lòng riêng. Có công điền công thổ thì chúng thường thường bày việc thuê mướn làm béo mình, những dân nghèo cùng không kêu vào đâu được. Giáo hoá không thấm xuống dưới, đức trạch không đến khắp nơi, chưa hẳn là không bởi đó. Thậm chí còn ẩn lậu đinh điền, ruộng đến nghìn mẫu không nộp thuế, chỉ đầy túi của hào cường, đinh đến trăm suất không đăng sổ chỉ phục dịch riêng cho hào cường. Nay xin trích lấy một vài người đưa ra pháp luật, và bãi lệ thuê mướn ruộng đất công".

    Sớ giao xuống đình thần bàn, đều cho rằng : "Cái tích tệ của hào cường, trăm khoé gian dối trị tội để răn không có điều gì không nên. Duy ruộng đất công lệ được thuê mướn là để giúp việc khẩn cấp cho nhân dân, mà chỉ dùng về việc công mà định hạn chỉ 3 năm. Lúc mới dựng nước đặt ra lệ ấy, thông biến để tiện cho dân đủ làm phép thường, mà bọn hào cường chuyên lợi riêng cho mình là tệ do người chứ không phải là pháp luật không tốt. Huống chi Bắc Thành to rộng như thế, sao lại không có một vài người bây thiếu. Nếu cấm chỉ hẳn việc thuê mướn ruộng đất công, thì người giàu xoay xở chẳng khó gì, mà người nghèo thì chẳng khỏi lúng túng, thực sự muốn cứu tệ mà làm quá đáng. Nay xin theo lệ cũ mà làm, mà nêu rõ điều cấm để trừ cái tệ gian dối lằng nhằng, thời cũng được rồi". Vua theo lời bàn.

    Lại vì việc dinh điền là việc mới bắt đầu làm, cho Nguyễn Công Trứ vẫn ở lại làm việc, đợi đến cuối năm về Kinh phục mệnh.

    Hiệp trấn Quảng Trị là Nguyễn Công Đàm phải tội miễn chức. Lấy Lang trung Công bộ là Nguyễn Danh Giáp quyền ấn vụ Quảng Trị.

    Trước đây tên A Điền Cáo người Mường Vanh vượt ngục trốn. Đàm cho tiền người ngục tốt bảo nhận chịu tội. Đến nay việc phát giác. Vua bảo bộ Hình rằng : "Đàm trước cùng Hà Quyền làm việc, cấm ngừa thưa thớt để cho tù phạm lọt lưới trốn ra. Đến lúc nó làm giặc, Quyền đã cố xin đi đánh giặc, không từ khó nhọc, chỉ một mình Đàm là không biết cố gắng để chuộc lỗi trước cho đến lúc có chỉ mới miễn cưỡng đi Cam Lộ mà đóng quân lại, không có công hiệu gì, chức phận người tôi lại như thế sao ? Huống chi lúc đầu buộc tội cho người rồi đút tiền cho nó bảo nhận tội, tâm địa như thế, thực đáng khinh bỉ". Bèn cách chức giao bộ Hình bàn xử. án thành, Đàm bị tội đeo gông nặng một tháng mãn hạn đánh 100 trượng, phát đi hiệu lực ở Vũ Khố.

    Xưởng thuyền Cự Hải đạo bị cháy. Vệ uý vệ Tả thuỷ quân là Nguyễn Văn An vì sơ phòng bị giáng 2 cấp, Thống chế Nguyễn Tài Năng bị phạt bổng một năm.

    Hiệp trấn Thanh Hoa là Thân Văn Duy chết. Vua thương tiếc, cho 50 lạng bạc, 100 quan tiền, 30 tấm vải lụa, sai trấn thần lấy lính đưa đi đường bộ về chôn ở quê.

    Vua cùng với thị thần bàn bạc kinh sử, nhân bảo quản Văn thư phòng là Trương Đăng Quế rằng : "Bài tổng luận [Bắc sử] của Phan Vinh nói về việc trị loạn việc đắc thất từ xưa về sau, cái gì cũng rõ ràng đầy đủ. Hán Văn đế là vua hiền ở sau Tam đại ((1) Tam đại : ba đời vua xưa là Hạ, Thương, Chu.1) sự nhún nhường khi lên ngôi, mà còn cho là giả dối, thực là lời bàn đích đáng. Trẫm lúc trước ở Dực thất [nhà bên cạnh] bầy tôi dâng giấy xin lên ngôi, Phạm Đăng Hưng lấy nhượng làm đức tốt, khuyên ta nhường. Trẫm dẫu không nghiêm cự ngay, nhưng lòng cho là không phải. Ta lên làm Thái tử đã được 4 năm, thần dân chẳng ai không nghe biết đến nay còn nhường ai nữa. Trời không dối được mà người cũng không dối được, chỉ là tự mình dối mình thôi. Trẫm chịu gánh nặng, sợ đức mỏng, không đương nổi, duy trông mong các quan đồng lòng giúp đỡ, để nối đức trước, đấy là lòng thành thực ở trong, chẳng cần phải nhường giả dối".

    Kinh kỳ lụt to, mặt đất nước sâu hơn 10 thước, nhà cửa của dân bị trôi nhiều chết đuối hơn 60 người. Vua sai Kinh doãn là Đặng Đức Thiệm lấy cơm muối phát chẩn cho dân nghèo gần thành và đốc đồng kinh huyện đi khắp các làng xóm những người bị nạn, đều cấp cho tiền gạo, không ngờ tiền đến hơn 4.000 quan, gạo đến hơn 500 phương. Bọn Thiệm về tâu lên. Vua nói : "Mưa lụt to quá, nhân dân mắc nạn chìm đắm, rất thương. Các ngươi biết thể ý trẫm mà chu cấp không sót, dẫu đến hàng nghìn hàng vạn cũng không tiếc".

    Vua nhân bảo bộ Lễ rằng : "Từ trước đến nay lụt mùa thu, chưa bao giờ ghê như thế. Nước là tượng âm, hoặc giả âm khí u uất mà thành ra thế chăng? Hiện nay cung nhân có danh vị chỉ có 16, 17 người. Tất cả các ban chưa quá 100 người, đủ để sai khiến trong cung mà thôi. Trời báo tai như thế, có phải là sự ngẫu nhiên đâu ? Trẫm nửa đem thức dậy, quanh giường bàng hoàng, tự trách lỗi mình mong sao cho hồi được lòng trời mà khỏi tai biến. Các ngươi nên bàn bạc rõ ràng để giúp trẫm những điều trẫm không nghĩ đến".

    Lấy Tả Tham tri Lễ bộ là Đoàn Viết Nguyên lĩnh Hiệp trấn Thanh Hoa.

    Tham hiệp Hải Dương là Nguyễn Văn Mưu nghỉ tang. Lấy Lang trung Công bộ là Vũ Huy Quýnh làm Tham hiệp Hải Dương.

    Cho Nguyễn Văn Thắng làm Lang trung Hộ bộ. Đặt thổ tri châu và thổ lại mục ở Lạng Sơn. Trước đây thổ ty Lạng Sơn đều là thế tập cai trị dân thổ. Năm đầu Minh Mệnh, Lê Chất mới đặt thổ mục làm phó tri châu, thổ ty không được nối chức coi dân nữa.

    Bấy giờ bọn Nguyễn Đình Hoảng kêu ở Bắc Thành, thành thần đem việc tâu lên, vua giao xuống cho triều đình bàn. Cho rằng thổ ty thế tập đã lâu đời rồi. Lúc mới dựng nước, rộng ơn vỗ về vẫn cho theo tục cũ, là để cho thuận nhân tình. Từ trước đến giờ, các trấn ở dọc biên giới, thổ mục thì làm thổ huyện, thổ ty thì làm thổ châu, đã có lệ sẵn, Chất lấy việc châu giao cho thổ mục, việc ấy là chuyên quyền, nay xin bãi đi, đặt lại mỗi châu một Thổ tri châu, một Thổ lại mục, chọn thổ ty người nào thanh liêm mẫn cán mà bổ dùng. Vua y theo lời bàn.

    Lấy Đốc học Phú Yên là Lê Nguyên Trung làm Viên ngoại lang Hộ bộ thự Lang trung, Giáo thụ Thái Bình là Đoàn Xuân Sảng làm thự Đốc học Phú Yên.

    Đốc học Biên Hoà là Nguyễn Huy Cẩm ốm. Lấy Tri huyện Nghi Xuân là Thiều Nguyên Diệu làm thự Đốc học Biên Hoà. Trấn thủ Sơn Nam là Nguyễn Đăng Khánh, Hiệp trấn là Trần Thiên Tải, Tham hiệp là Nguyễn Nhược Sơn dâng thư kín tâu nói : "Triều đình đặt binh chế, phủ có phủ binh, lại đặt thêm đồn để chia nhau đi tuần bắt. Việc cấm trộm cướp cho dân yên ổn, vẫn là chu đáo. Những phủ thống hạt khi thì 3, 4 huyện, khi thì 5, 6 huyện, đất rộng thì đường xa, sự tuần phòng thế khó khắp được. Huống chi phủ binh chỉ có một trăm người hay hơn một trăm, nếu có giặc nổi lên, để lại một nửa phòng thủ, còn sức 40, 50 người thì đương sao nổi chỗ xung yếu ở 4, 5 huyện đi một đêm khắp sao được hơn trăm dặm không kể kẻ hèn yếu không làm gì được, nếu có người quen trận mạc, tưởng cũng không thi thố gì được. Là bởi thế khiến như thế thôi. Đến như lính đồn chẳng quá 40, 50 người, người cai quản lại hay tha riêng cho nghỉ việc, để lại ở đồn chỉ còn một nửa. Lính đi tuần ngày thì trương thanh thế ở phố chợ, đêm thì xếp binh khí ở trong xóm làng, kẻ cướp nổi ở đằng đông thì lính ở đằng tây, kẻ cướp đánh ở bên tả thì lính lui về bên hữu, cho nên giặc cướp chưa trừ được là bởi thế. Nay xin đặt thêm lính lệ, huyện lớn 200 người, huyện trung 150 người, huyện nhỏ 100 người đều đặt huyện uý để cai quản, phàm việc bắt trộm cướp trong hạt thì hiệp cùng tri huyện hay tri phủ kiêm lý, bàn bạc nhau mà làm. Có giặc cướp thì cho triệu thêm dân phu sở tại cùng tứ bàng họp sức đuổi bắt. Kẻ nào nhút nhát thì lấy quân pháp mà xử. Cứ cuối năm thì làm sổ động tĩnh, hạt nào yên ổn thì được thưởng, không yên ổn thì phải tội. Còn lính phủ lính đồn thì đều xin bãi cả".

    Vua sai đình thần bàn lại. Cho rằng : "Bắc Thành tự khi nhà Lê suy, họ Trịnh lấn, chính giáo chẳng làm được gì, lại đến loạn Tây Sơn, phong tục không có ai tiêu biểu. Cho nên bọn càn bậy họp nhau trộm cướp, làm hại dân không kể xiết được. Nay bọn Khánh tâu bày đều nói đúng vào tệ ấy, đại yếu đều có thể làm được, duy số lính lệ xin đặt thì hơi nhiều. Còn nói ai nhút nhát thì xử theo quân pháp mà không hỏi căn do thì giống như là chưa có phân biệt".

    Vua nói : "Vừa rồi trẫm bảo các quan Bắc Thành tâu việc, nay bọn Khánh đã biết ứng chiếu mà tâu, có thể cho là không thẹn với chức vụ. Dẫu lời nói chưa được phải cả, nhưng châm chước mà làm cũng được". Bèn xuống dụ khen ngợi.

    Hộ tào Bắc Thành là Nguyễn Đức Hội, Hiệp trấn Sơn Tây là Hoàng Văn Đản cùng dâng thư kín tâu việc. Đình thần xem thư không có điều gì dùng được. Hội lại có câu "động làm gì thì bị gièm pha". Sức cho bảo tâu lại cho rõ. Hội tự lấy dùng chữ sai lầm xin nhận tội. Bộ Lại bàn xử tội đồ. Đợi cái án vỡ đê xong, sẽ khép tội nặng hơn.

    Sai Phó tổng trấn Bắc Thành là Phan Văn Thuý kiêm Chưởng cục Bảo tuyền.

    Vua dụ rằng : "Cục này, thói cũ theo nhau, gần đây đã vỡ thành án rồi. Tưởng trong ấy mối tệ hẳn còn nhiều nữa. Ngươi phải gia tâm trông nom, nghiêm sức các người viên dịch, bảo phải gột rửa lòng xấu để được tốt lành là khá".

    Nước Vạn Tượng đến Nghệ An xin quân. Từ chối. Quân Xiêm trước bị quân Vạn Tượng đánh thua tức giận lắm. Tướng Xiêm là Xu Pha Hoạ Di đem quân thuỷ quân bộ vài nghìn người tiến vây thành Viên Chăn, A Nỗ chống cự. Sai bề tôi là Phì Xà Nộn đem thư đến Nghệ An xin ta giúp quân. Trấn thần tâu lên. Vua bảo bầy tôi rằng : "Ta cùng nước Xiêm vốn tình láng giềng tốt. Trước đây sai sứ sang Xiêm, chưa thấy trở về chưa biết ý kiến vua Xiêm thế nào. Nay A Nỗ cố giữ cô thành cầu ta giúp tiếng, triều đình ta phen này xử trí, sự thế cũng là khó đấy. Các ngươi nên vì ta trù tính xem". Bọn Lương Tiến Tường tâu rằng : "Dụng binh là việc lớn, không nên vội vàng, xin nên bảo cho A Nỗ tự lực giữ lấy, đợi sứ thần của ta về, rồi sẽ tuỳ cơ xử trí là phải". Vua nói : "Lời các ngươi nói chính hợp ý trẫm".

    Bèn sai Nghệ An phúc thư trả lời A Nỗ rằng : "Triều đình thương người có nạn, cứu người mồ côi, giúp đỡ nước phiên thuộc đã hết sức chu đáo. Gần đây người Xiêm sinh sự có phải tự chủ ý vua Xiêm, hay là bởi tướng ngoài biên cầu công mà gây việc, cũng chưa biết rõ. Cái nghĩa triều đình đối với nước láng giềng, sao lại có thể gây trước mối động binh ! Nghe nói bộ lạc Vạn Tượng không dưới vạn người, lương ăn cũng đủ, có thể tự giữ lấy được. Vả nên thu vỗ thần dân, giữ yên bờ cõi, quân Xiêm đến thì kháng cự, chúng đi thì không đuổi theo, chớ nên chỉ muốn đánh người, gắng sức tự cường để chờ cơ hội. Triều đình còn đương xét kỹ tình hình động tĩnh của nước Xiêm sẽ có cách xử trí đại đoạn".
  • Chia sẻ trang này