0059.079 - @ nhani78 (Done WK)

19/12/15
0059.079 - @ nhani78 (Done WK)
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    Nỗ, khuyên ta không nên che chở để giữ tình lân nghị lâu dài như thế là khéo mưu việc nước, ta có muốn đánh sợ không viện cớ gì được".

    Sai trấn thần Nghệ An chia phái Hiệu úy Nguyễn Văn Lễ và Chủ bạ Đinh Phiên đến hai phủ Trấn Ninh, Trấn Tĩnh theo quản vệ trú phòng sai phái làm việc. Sai hai bộ Binh Lại xét các quan ngũ lục phẩm ở trong ngoài, ai tại chức lâu ngày, tâu lên.

    Vua dụ rằng : "Vừa rồi trẫm xem sổ các quan thấy châu huyện có người làm việc quan không lỗi gì mà đến hơn 10 năm không được thăng ? Cũng có Cai cơ, Quản cơ theo việc binh lâu ngày, có công khó nhọc, mà không được cất nhắc. Phàm cất nhắc nhân tài, phải căn cứ ở đạo chí công, nếu nghĩ rằng người ấy vốn không quen biết mà không tiến cử thì những người yên lặng không cầu cạnh, vẫn bị chìm đắm, mà kẻ xu mị lại được ăn may, thế có phải là đạo công dùng người đâu ? Vậy phàm các quan ngũ lục phẩm ở trong ngoài, ai làm việc đã lâu, mà dưới tên trong sổ có ghi được cấp kỷ thì nên biên thành sách tâu lên, đợi chỉ chọn dùng".

    Tha cho các tù phạm cùng quân lưu làm nô ở các địa phương dồn bổ làm lính.

    Vua bảo bộ Hình rằng : "Những người phạm tội quân lưu bị giam hãm lâu ngày, lòng trẫm thực có chỗ không nỡ. Trước đã tha cho ra làm lính, là muốn khoan dung ở ngoài pháp luật, để họ đổi ác làm lành, khỏi làm người bỏ đi ở đời này. Nay cứ bộ Hình kê khai từ tháng 3 năm Minh Mệnh thứ 9 đến cuối tháng 8 những người tù phạm quân lưu làm nô phát vãng đi Cam Lộ, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Hoà, Bình Thuận, Thanh Hoa cùng Gia Định, Bắc Thành, cộng 154 người đều biết yên phận. Vậy nên gia ơn đổi phát 20 người đi Trấn Ninh tân cương còn bao nhiêu thì vẫn ở chỗ nguyên phối, do quan địa phương cởi bỏ xiềng xích mà sung bổ làm lính. Nếu dám bỏ hàng ngũ mà trốn thì giết không tha".

    Sai đúc ấn đồng cho các tự Đại lý, Quang lộc, Thái bộc, Hồng lô, đúc lại ấn quan phòng đồng cho Nội vụ phủ và Vũ Khố, đúc lại ấn đồ ký đồng cho cục Tạo tác thành Gia Định, cục Bảo tuyền và cục Tạo tác Bắc Thành.

    Sửa làm năm xe lộ (bằng vàng, ngọc, ngà, gỗ, da).

    Vua cho rằng năm xe lộ là trọng khí trong đồ lỗ bộ, sai Vũ Khố bày ở sân điện lần lượt chỉ bảo, đổi xe tay làm xe da cho hợp với danh sắc.

    Sai Chưởng cơ Lê Thuận Tĩnh đốc thợ chỉnh sức xe da và sửa chữa các xe vàng, ngọc, ngà, gỗ, cho được vững chắc.

    Cho Trần Văn Dưỡng làm Trấn thủ Quảng Ngãi, Nguyễn Văn Đoài làm Trấn thủ Quảng Yên, Tống Văn Trị làm Trấn thủ Thái Nguyên. Khởi phục viên quan bị cách là Tôn Thất Bạch làm Tư vụ Nội vụ phủ.

    Chuẩn định từ nay về sau, những nhân viên thực thụ những cấp kỷ được nghị tự ((1) Cấp kỷ được nghị tự : cấp kỷ được xét bàn để thăng bổ.1) đã theo lệ rồi thì không cần đeo theo, ai phải phạt bổng biên vào sách kỷ quá ((2) Sách kỷ quá : sách biên tội lỗi.2) thì đều cho khoan miễn. Còn các quan lại trong ngoài phải chịu bổng chiết trừ chưa xong mà lại can tội đồ lưu trở lên thì đều miễn không đòi nữa. Ghi làm lệ. Thống chế thuỷ quân là Nguyễn Tài Năng, Chưởng cơ Trung vệ dinh Thần cơ quân Thị nội là Trương Công Tuyên, tuổi già xin về hưu. Vua thấy sức vóc còn khoẻ, không cho. Lấy Vệ uý vệ Cường võ là Nguyễn Văn Sỹ làm án thủ thành phủ Diễn Châu kiêm quản việc phủ.

    Bộ Hình tâu rằng : "Các thành trấn đạo, những án từ năm Minh Mệnh thứ 7 trở về trước còn đọng lại chưa kết rất nhiều, xin phân biệt giáng phạt, để răn".

    Vua dụ rằng : "Xét xử hình án kiện đã có định kỳ, mà từ trước đến nay các nha xét hình cứ để chứa chất lại. Trước đã y lời đình nghị cho từ năm thứ 7 về trước không ở lệ xét công thì đáng phải làm xong sớm đi, nay còn để chậm nữa, đáng lẽ phải nghị tội. Nhưng lại nghĩ phép xét công này là việc mới bắt đầu, phải để hằng tuần hằng tháng mới thanh thoả được, vậy gia ơn cho bao nhiêu án đọng đến cuối năm phải xét xử xong. Làm trái sẽ nghiêm trị".

    Bộ thần lại trích những án sai lầm trong sách hình cuối cùng về năm thứ 8 để nghị tội. Vua cũng cho là chương trình mới định mà miễn cho. Sách ấy giao sang bộ Lại theo lệ mà làm. Lại chuẩn định từ nay, trong sách hình danh cuối cùng, những chỗ đáng nghị thưởng hay đáng giáng phạt, ở Kinh chỉ cứ vào đường quan bộ Hình, ở ngoài chỉ cứ vào ấn quan các thành trấn đạo, phủ, huyện mà nêu rõ thăng giáng, còn những thuộc viên thừa biện đều miễn nghị. Tặng con trưởng Kiến An công là Lương Kỳ làm Phụng ân tướng quân, thuỵ là Mẫn Tuệ, cho 1.000 quan tiền, 40 tấm vải lụa.

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN LV

    THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ

    Mậu tý, năm Minh Mệnh thứ 9 [1828], mùa đông, tháng 11, bọn thự Lang trung Công bộ là Lê Nguyên Hy, Cai đội Hậu vệ Thần cơ là Nguyễn Văn Lễ, Chủ sự Thái thường tự là Bùi Ngọc Thành, tự nước Xiêm trở về. Trước đây bọn Hy vâng mệnh sang nước Xiêm. Nước Xiêm đãi ngộ rất hậu. Khi vào yết kiến vua Xiêm, vua Xiêm mời ngồi hỏi han và nói rằng vì mấy năm nay trong nước bận việc chưa kịp sai sứ sang giao hiếu, nay sứ từ xa đến, lấy làm mừng lắm. Lại nói : "Vạn Tượng có tội to, sắp sai người nói rõ cho sứ thần biết".

    Bọn Hy lui về công quán. Vua Xiêm sai bọn Phi Nhã Phi Phạt đến nói rằng : Nước Xiêm ngày thường đãi Vạn Tượng rất hậu. Năm trước A Nỗ sai con là Hạt Xà Bông đuổi dân man Cổ Lạc, rồi lại đem quân đánh cướp biên giới nước Xiêm, giết hại rất nhiều, tiến đến Xa La Bô Di. Vua Xiêm sai nhị vương đem đại quân đón đánh, Vạn Tượng thua chạy. Quân Xiêm đến thẳng thành Viên Chăn. A Nỗ phải đem vợ con chạy ra nước ngoài. Đến lúc về nước, vì có quân ta hộ tống, lại nghe nói A Nỗ tuân theo lời dụ, sẽ sai người sang nước Xiêm tạ lỗi, tướng Xiêm tin lời nói ấy, rút lui quân, không phòng bị. Cha con A Nỗ nhân lúc sơ hở lẻn đến thành úp giết tướng sĩ Xiêm hơn 200 người. Sứ thần đem việc ấy về tâu. Bọn Hy nói rằng : "Lần này đi chỉ vì việc giao hiếu, lúc về sẽ tâu lại dám đâu nói phiếm đến việc khác". Vài ngày nữa vua Xiêm lại mời bọn Hy đến bảo rằng : "Vừa rồi A Nỗ gây hấn trước, mà lại nói là bị quân Xiêm bức bách, hoàng đế biết điều đó là dối thực là thông minh. Nghe nói có sắc dụ cho A Nỗ sai người tạ lỗi. Cái nghĩa giúp đỡ nước nhỏ hoà hảo nước láng giềng hai điều có thể nói là tốt cả. Nhưng A Nỗ về nước lại làm kế đánh úp, thế là không những gây oán với nước Xiêm mà phụ lòng tốt của hoàng đế nhiều lắm. Sứ thần về triều nên tâu với Hoàng đế đừng tin lời xin A Nỗ". Bọn Hy nói rằng : "Việc Vạn Tượng, sứ thần không được chỉ đi thăm hỏi, không dám tâu nhàm".

    Vua Xiêm lại hỏi : "Năm ngoái có sứ Chân Lạp đến, đã sai Chiêu Phi Nhã Phạt Lăng đem việc Vạn Tượng gây hấn đưa thư đến Gia Định, do sứ Chân Lạp nhờ quan bảo hộ chuyển đạt, quan bảo hộ chối từ không nhận như thế có phải lễ không ?" Bọn Hy nói rằng : "Hai nước đã giao hiếu với nhau, nếu có việc cần đưa thư thì cho người đệ đi mới phải, chứ gửi sứ Chân Lạp theo lễ thì không nên giản tiện sơ sài như thế. Hơn nữa người làm tôi nghĩa không được giao thiệp riêng, biên thần chối không nhận là phải lễ đấy".

    Lại hỏi năm ngoái thuyền nước Xiêm đến Hà Tiên, nghe trấn thần bắt phải báo mỗi thuyền tốn đến vài trăm quan tại sao vậy ? Bọn Hy nói : "Việc ấy, hẳn là không có, người hiếu sự bịa đặt ra đó thôi". Vua Xiêm nói : "Trước kia muốn sai sứ đi giao hiếu, chỉ vì quan bảo hộ chối không nhận thư, mà Hà Tiên lại bắt giữ người buôn nước Xiêm, nên sợ sứ giả đi lại bị giữ lại, có hại đến tình láng giềng, nên không sai nữa. Từ nay về sau, hai nước đi lại, nếu có việc gì không hợp lẽ, cũng nên châm chước, chứ đừng câu nệ thì đạo giao lân trọn vẹn được". Lại hỏi : "A Nỗ gây hấn như thế, phải hay trái ? nên đánh hay nên tha ?". Bọn Hy nói : "Lấy nước nhỏ thờ nước lớn là thuận. Kẻ dưới chống người trên là nghịch ; thuận thì gia ân, nghịch thì gia oai. Nước Vạn Tượng đối với bản quốc chỉ thấy cung kính phục tùng, mà đối với nước Xiêm thì nghe có việc gây hấn, cái lẽ thuận hay nghịch nên đánh hay nên tha, Phật vương tự nghĩ chứ sứ thần không thể biết". Vua Xiêm nói : "Tội A Nỗ là nghịch cho nên bất đắc dĩ mà đánh thôi". Bèn sửa soạn quốc thư cùng phẩm vật đáp tạ, khiến bọn Hy đem về. Bọn Hy thấy quốc thư kể tội trạng A Nỗ, cùng trách quan bảo hộ không nhận thư, lời ý không nhã, mà tạ vật lại gửi ngay sứ thần, lễ không phải như thế, cho nên cố chối không nhận, cưỡng hai ba lần, cũng vẫn không nhận.

    Vua Xiêm sai Phạt Lăng làm thư trả lời bộ Lễ, chỉ nói một việc giao hiếu thì mới nhận.

    Về đến nơi, vua khen là không nhục quốc thể, cho Hy làm Lang trung, Lễ làm Phó vệ uý, Thành làm Viên ngoại lang.

    Vua hỏi bọn Hy việc nước Xiêm. Tâu rằng : "Vua Xiêm rất tín đạo Phật, bố thí không có chừng mực, đánh thuế nặng nề đến cả chim muông cây cỏ, thậm chí đàn bà dài vú cũng đánh thuế. Dân không yên nghiệp làm ăn. Dẫu bề tôi túc vệ của vua mà cũng có người đối với sứ thần tỏ ra lời oán".

    Vua nói : "Nếu quả như thế thì lấy gì mà trị nước ?" Nhân nói : "Trẫm lúc bé nghe đức Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế từng nói chuyện rằng nước ấy có Phật vương, nhị vương và tam vương. Khi ra chầu xét xử các việc, gặp việc tử hình thì Phật vương nói tha, nhị vương nói giết, tam vương thì nắm cả hai ý kiến mà hoà giải, giống hệt như trò hát bội. Vì thế quyền nước dần dần xuống tay người dưới, mối hoạ ngấm ngầm nổi lên. Trước kia nhị vương muốn gây nạn, vì Phật vương có cơ mưu nên cuối cùng việc không phát được. Nay nhị vương cho mình là hàng tôn mà ở ngôi dưới, mà Phật vương không biết xem xét, cứ theo lối cũ, sợ nước ấy khó lòng giữ vô sự được".

    Đưa sứ thần Xiêm bị nạn về nước. Trước đây sứ Xiêm vượt biển sang cống nước Thanh. Thuyền chánh sứ bị bão mắc cạn ở hải phận Bình Thuận, thuyền phó sứ cũng bị vỡ chìm ở hải phận Hà Tiên. Việc ấy đến tai vua. Vua bảo bộ Lễ rằng : "Ta đối với nước Xiêm vốn giữ tình hữu nghị. Tuy gần đây nghe có điều không được nhã, nhưng việc chưa rõ, mà việc cứu giúp kẻ bị nạn, quốc thể phải nên thế". Bèn hạ lệnh cho trấn thần hai trấn đều mời họ đến công quán, tiếp đãi tử tế, rồi sắc cho Bình Thuận đưa chánh sứ đến Hà Tiên, để gặp phó sứ, sai Chánh đội trưởng Mạc Hân Hy lấy thuyền công hộ tống về.

    Sai bộ Lễ tư về cho các địa phương rằng phàm dân gian quen thói xưng hô lạm như gọi mả là lăng, đình từ là điện, cùng là yết thăm quan trưởng xưng là thiên tuế, thọ xưng là tiên linh những điều giống như loại ấy đều nghiêm cấm cả.

    Phủ Diễn Châu ở Nghệ An có sâu ăn lúa. Tri phủ là Đỗ Huy Cảnh cầu đảo, trời mưa to, có nhiều sáo đen mỗi đàn hàng trăm hàng chục con mổ sâu ăn, chốc lát hết cả. Trấn thần tâu lên. Sai lấy hương lụa trong kho làm lễ tạ.

    Lấy Giáo thụ Anh Sơn là Nguyễn Ái làm thự Đốc học Quảng Bình.

    Xã Phù Bài phủ Thừa Thiên có đê vệ nông, vì nước lụt xói lở, dân xã ấy xin phép cho biền binh xã ấy về góp sức bồi đắp. Sai phủ thần trù tính công việc, hạn cho 5 tháng. Sai sứ sang nước Thanh (nộp hai lễ cống năm Đinh hợi và năm Kỷ sửu). Lấy Hiệp trấn Hưng Hoá là Nguyễn Trọng Vũ làm Hữu Thị lang Công bộ sung chức Chánh sứ, Lang trung Lại bộ là Nguyễn Đình Tân làm Thiếu thiêm sự Thiêm sự phủ, Viên ngoại lang Lễ bộ là Đặng Văn Khải làm Thái thường tự Thiếu khanh sung Giáp phó sứ và ất phó sứ. Chuẩn định rằng ngày sứ bộ đến Bắc Thành, phàm mọi sự cung ứng thì chi tiền công 100 quan, do phủ Hoài Đức sung biện, không bắt dân chịu. Ghi làm lệ.

    Gia Định tiến phương vật bằng quả dừa Xiêm, thêm 200 quả để dâng cung Từ Thọ, tự xuất tiền bạc riêng thuê phu trạm chạy đệ. Vua bảo rằng : "Dâng "cần bộc" là lòng thành của thần tử, nhưng thuê riêng người mang là sự thể gì ?" Sai lấy 10 lạng bạc trả công thuê. Và sắc từ nay về sau, có tiến dâng cái gì thì cho phát trạm. Hữu Tham tri Hình bộ hưu trí là Ngô Đình Giới chết. Tham hiệp Hà Tiên là Trần Văn Tam ốm về hưu. Lấy Viên ngoại lang Hộ bộ biện lý công việc tiền lương đồn Châu Đốc là Trần Văn Đản thay. Thự Tế tửu Quốc tử giám hưu dưỡng là Phạm Đình Hổ dâng sách Hổ trướng khu cơ (sách có một quyển, của Lộc Khê hầu Đào Duy Từ soạn).

    Tri phủ phủ Thiên Trường là Nguyễn Thường vì tham tang phải tội giảo hậu. Con là Huyễn xin thay tội. Vua không cho, bảo thị thần rằng : “Dân tâm xu hướng không trông vào ý thích của nhà vua, người trên thích gì, thì người dưới tất làm quá lên. Trẫm tự lúc lên ngôi đến nay vẫn khen ngợi người hiếu hạnh. Huyễn chẳng qua giả thác để cầu ơn thôi. Trẫm chỉ xử theo đạo trung chính, phải trái yêu ghét, có thiên lệch đâu. Đời Minh Thái tổ xưa, có một người tuổi 17, xin chịu thay tội chết cho cha, Thái tổ ngờ là giả dối triệu đến dưới cửa khuyết giả cách giận mà bắt bẻ, người ấy thần sắc thản nhiên ; lúc đem đi thụ hình cũng không hối hận gì. Bèn tha tội cho. Do đó nhiều người bắt chước. Thái tổ than rằng pháp luật đã định mà việc xin thay thực giả khó biết. Những người xin thay không phải thực tình còn không nên giết, huống chi có 1, 2 người xuất tự lương tâm. Nếu nghe mà cho chết thay, thì ra người bị giết là con hiếu mà người tội to ác cực lại được rộng tha, thế có phải là ý nghĩa dùng pháp luật đâu ?”. Bèn cấm hẳn. Phàm cái người trên thích là chính đáng mà người ta còn hy vọng hùa theo, huống chi cái thích lại là thanh sắc chơi săn thì ai chẳng chiều theo mà nịnh ! Cho nên người làm vua ham thích không nên thiên. Vua Ngô thích múa gươm mà trong thành nhiều người bị thương. Vua Sở yêu người nhỏ lưng mà trong cung nhiều người chết đói. Há chẳng nên cẩn thận ru ?”

    Lại có Đặng Đình Tuấn, Thái Bá Thu cũng đều xin thay tội cho cha. Vua xét sự thực giả, bác Tuấn mà cho Thu.

    Vua bèn dụ bộ Hình rằng : “Minh vương đời xưa đặt ra hình luật lấy điều điển thường làm quý, mà tuỳ nghi châm chước, cũng là căn cứ theo nhân tình. Đời xưa nàng Đề Oanh là một con gái ít tuổi xin chịu tội thay cha, Hán Văn đế xét là thành khẩn, bèn tha cho nhục hình. Đấy cũng là gián hoặc có một việc, không nên lấy làm thường. Năm Minh Mệnh thứ 4, Nguyễn Cư Sỹ 14 tuổi, xin thay tội đi đày cho cha là Cư Tuấn. Trẫm theo lời xin, rồi tha cho. Là bởi Cư Tuấn đã là con người huân thần phải tội nhẹ, mà lòng thành của Cư Sỹ lại cũng nên thương, cho nên mới có đặc ân, đó là lòng nhân ở ngoài pháp luật. Theo phép thường của nhà nước, có tội thì xử hình, nếu cứ nghe cho con thay thì tương lai họ bắt chước nhau, há chẳng phải là tha kẻ có tội mà phạt người vô tội sao ! Vả lại như thế sẽ khiến bọn giả dối được theo đó mà ra mánh khoé, cho nên luật không có điều thay cha chịu tội, thực là để nghiêm hình luật mà dứt đường cầu may vậy. Gần đây có 3 người xin thay tội cho cha, con Tri phủ Nguyễn Thường là Huyễn, bình nhật không biết can cha giữ gìn kỷ luật, đến lúc tham tang bị tội lại xin chịu thay. Con Thiêm sự Đặng Đinh Dương là Tuấn khinh nhờn pháp luật làm càn, trước sau Dương vẫn che chở nên phải tội đồ, tội của Dương thực là bởi Tuấn làm ra, nay lại xin nhận thêm tội đồ dịch để giảm nhẹ tội cho cha, hai việc ấy đều là do thấy ý triều đình dạy hiếu làm trung, nên khéo đặt ra lời lẽ để mong ân điển khoan hồng, vốn không phải do lòng chí thành, sao lại theo lời xin ấy ? Duy Thái Bá Ngũ bị cáo là theo giặc, tra tấn không nhận, trước đã sung quân làm lực dịch đã lâu, nay đã được tha ra làm binh, con là Thu cố xin thay cho, đã không bỏ phép cũng nên thương tình cho nó thay cũng không hại gì. Từ nay các tù phạm có tình trạng giống nhau như thế sẽ xét tình lý mà cho. Còn những án tội nặng xử quân lưu, đều không được cho con thay. Lệ này nên viết vào luật để tỏ là có cân nhắc”.

    Đúc lại ấn đồng cho Hàn lâm viện, Thái thường tự và Khâm thiên giám.

    Chuẩn dịnh lệ lương lại dịch ở các nha (Thừa Thiên, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Thương bạc, Tào chính) sung bổ vào Nội vụ phủ, chiếu theo công việc nhiều ít chia hạng mà cấp khác nhau (Kho hạng nhất, Bát phẩm thư lại mỗi tháng 3 quan tiền, 2 phương gạo, Cửu phẩm thư lại 2 quan 8 tiền, 1 phương 25 uyển gạo, kho hạng nhì, Bát phẩm thư lại 2 quan 8 tiền, 1 phương 25 uyển gạo, Cửu phẩm thư lại 2 quan 5 tiền, 1 phương 20 uyển gạo, kho hạng ba, Bát phẩm thư lại 2 quan 5 tiền, 1 phương 20 uyển gạo, Cửu phẩm thư lại 2 quan 3 tiền, 1 phương 15 uyển gạo. Vị nhập lưu thư lại cùng các người y ty thì mỗi tháng 2 quan tiền, 1 phương gạo). Tập trận voi. Thưởng ba vệ Thị tượng 500 quan tiền. Sai lính thị vệ và lính giáo dưỡng tập bắn súng tay.

    Người sai phái của thành Gia Định là Nguyễn Thanh Khuê đi trạm qua Bình Hoà đánh chết phu trạm. Hạ lệnh cho hữu ty theo pháp luật trị tội nặng. Các trạm từ Quảng Nam trở về nam nhân thế sinh ra kiêu căng lười biếng, có người bỏ không trực. Có phái viên có việc khẩn phải đệ ngay, mà việc lấy phu trạm chậm trễ.

    Vua nghe tin, bảo bộ Binh rằng : “Cái án Thanh Khuê là để răn người tạ sự sai phái mà làm trái phép. Còn như chạy vạy truyền đệ, vẫn là phận sự của bưu dịch há lại có chỗ trông ngóng mà sinh lười biếng à ! Thói ấy không nên nuôi cho lớn. Vậy truyền dụ cho các địa phương răn bảo các cai trạm phu trạm, phàm có nhân viên thừa sai đi trạm đến trạm mình đều phải lập tức chuyển tống. Nếu dám trễ nải chậm trễ làm hỏng việc thì phải tội nặng. Thượng ty cũng phải nghị xét”.

    Lấy Viên ngoại lang Hộ tào Gia Định là Nguyễn Đăng Khải làm thự Lang trung Hộ bộ, vẫn theo Hộ tào làm việc, kiêm biện việc từ chương ở thành. Trước đây vua mật dụ cho Tổng trấn Lê Văn Duyệt về việc biên giới, bảo tâu bày ý kiến. Duyệt sai Khải đến Kinh, và dâng sớ tâu nói những việc phòng trước đã xếp đặt sẵn, duy những việc nên tâu bút giấy không ghi hết cho nên uỷ Khải vào tâu cho hết tình trạng. Khải đến Kinh. Triệu vào vườn Thiệu Phương mật tâu. Bèn nhắc lên chức ấy rồi sai về thành. Dụ rằng : “Ngươi về bảo Lê Văn Duyệt đã già rồi nên khéo giữ gìn, phàm việc đã có người phụ trách, nên nắm đại cương, không nên khó nhọc quá. Lại nói Nguyễn Khoa Minh gần đây đã chăm làm việc, ta đã biết rồi, cố lên”.

    Sai Thống chế Tượng quân là Phạm Văn Điển quản lĩnh binh và voi đi kinh lý việc biên cương Cam Lộ, Tả Tham tri Lại bộ là Lê Đăng Doanh sung chức Tham tán đại thần.

    Quảng Trị tâu rằng tướng Xiêm là Vi Xiết Xâm Kiềm đem quân đến lấn châu Tầm Bồn thuộc Cam Lộ, nói thác đi bắt người Vạn Tượng, nhân đó cướp bóc thổ dân, lại đòi hỏi cống thuế của các châu cùng những người thuộc man di cư đến đấy. Vua bèn sai bọn Điển đi. Lại hạ lệnh cho trấn thần là Nguyễn Danh Giáp thân đem trấn binh đi theo quân thứ điều độ. Dụ rằng : “Nếu quân Xiêm mà càn láo đi sâu vào quấy rối chín châu ((1) Chín châu : chín châu thuộc đạo Cam Lộ.1) thì ngươi nên chia đường ngăn chặn, chớ cho một người nào tiến vào một tấc. Nếu có gây hấn trước mà bắn súng thì phải ra sức đánh cho chúng một phen rất đau, để về sau không dám dòm ngó nước ta nữa. Lại sai thự Thống chế Tả dinh Thần sách là Nguyễn Văn Phượng quản lĩnh Kinh binh 400 người đến đóng ở Quảng Trị, sai Quản đạo Cam Lộ là Nguyễn Văn Thạch đem 200 lính cơ Định man đến châu Ba Lan điều bát thổ binh chín châu đi tuần dò xét. Bọn Điển đã đến Cam Lộ, uỷ Nguyễn Danh Giáp cùng Vệ uý vệ Hùng cự nhị là Lê Văn Huyên đem 200 biền binh và 5 con voi tiến đóng ở Ai Lao, để làm thanh viện cho Nguyễn Văn Thạch.

    Lấy Lang trung Hình bộ sung biện Hình tào Bắc Thành là Hoàng Văn Quyền quyền thự Hiệp trấn Quảng Trị.

    Trong kinh kỳ mưa, từ Quảng Trị trở về Bắc cũng báo được mưa.

    Vua mừng nói rằng : “Việc nông đương bận, mấy nghìn dặm cùng ngày được mưa, đó đều là ơn trời, ta có đức gì mà được như thế, chỉ có thêm lòng kính sợ mà thôi”.

    Sai Gia Định chọn học trò trong hạt sung bổ làm thuộc lại các tào.

    Vua bảo thị thần rằng : “Ngày trước Nguyễn Đăng Khải nói lại dịch Gia Định nhiều người hèn kém, phong tục ngày càng kiêu ngoa. Đất ấy vốn có tiếng là thuần hậu, sao bây giờ lại như thế ! Bắc Thành nhân cuối nhà Lê quá chuộng nghề văn hoa, dân tục khinh bạc. Nay Gia Định chỉ cách tình hình ấy một quãng thôi. Trẫm bồi dưỡng nhân tài, điều gì cũng là chu đáo, không ngờ dưới sự sai khiến của nhà nước không khỏi thiếu người, thực không hiểu làm sao ? Vả lại ngày xưa nói văn thần võ tướng, đầy rẫy đông đúc, để nên sự nghiệp trung hưng, không ai không phải là người Gia Định, mà sao ngày nay lại vắng vẻ như thế ?”

    Sai phát 1.000 cây súng tay máy đá, 1.000 cây súng tay máy Bắc, 10.000 viên đá lửa, 50.000 cân diêm tiêu ở Kinh chở đi giao cho thành Gia Định trữ sẵn để dùng.

    Hiệp trấn Phiên An là Bùi Đức Mân, Hiệp trấn Định Tường là Trần Văn Lộc, Hiệp trấn Biên Hoà là Nguyễn Minh Châu đều vì ốm về hưu. Lấy Hiệp trấn Quảng Ngãi là Nguyễn Tú làm Hiệp trấn Phiên An, Hiệp trấn Bình Thuận là Phan Phước Thiệu làm Hiệp trấn Định Tường, Tham hiệp Quảng Nam là Đặng Chương làm thự Hiệp trấn Biên Hoà.

    Lấy Hữu Thị lang Công bộ là Vũ Du làm Hữu Thị lang Hộ bộ biện lý Hộ tào thành Gia Định, Hiệp trấn Bình Định là Nguyễn Công Tiệp làm Hữu Thị lang Binh bộ biện lý Binh tào, Lang trung Hình bộ là Vũ Xuân Cẩn làm thự Hữu Thị lang Hình bộ, biện lý Hình tào.

    Lấy quyền thự Hiệp trấn Quảng Trị là Hoàng Văn Quyền làm thự Hiệp trấn Bình Định, Tham hiệp Bình Thuận là Phạm Quang Nguyên làm thự Hiệp trấn Bình Thuận, Tham hiệp Bình Định là Tôn Thất Gia làm Tham hiệp Bình Thuận, Tham hiệp Quảng Ngãi là Lê Công Tường làm Tham hiệp Quảng Nam, Tham hiệp Phú Yên là Nguyễn Công Thiện làm Tham hiệp Phiên An, Hàn lâm viện Tu soạn là Lê Bá Tú làm Viên ngoại lang Binh bộ thự Hiệp trấn Bình Định.

    Khởi phục viên bị cách là Trần Đăng Nghi làm Viên ngoại lang Lễ bộ thự Tham hiệp Quảng Ngãi.

    Hiệp trấn Phú Yên là Trần Đình Trưng chết. Lấy thự Thị lang Vũ Khố là Nguyễn Công Liêu làm thự Hiệp trấn Phú Yên.

    Bắc Thành nhiều giặc cướp. Hạ lệnh cho Tả Thị lang Binh bộ lĩnh Binh tào Bắc Thành là Nguyễn Đức Nhuận tạm nghỉ việc tào đem lính đi dẹp bắt.

    Thành thần Gia Định tâu rằng : “Người xưa lượng số thu mà chi để chế định việc chi dùng của nhà nước. Hạt Gia Định ruộng đất màu mỡ mà kho vựa chứa đầy. Vì sự thu vào ít mà chi ra nhiều, số thu một năm không đủ chi trong một năm. Xin tự nay về sau lương quan lại binh lính trong hạt đều phát bằng tiền”.

    Vua dụ rằng : “Nhà nước lập pháp cốt nhằm thi hành được lâu dài. Nếu nhất khái chiết cấp bằng tiền, thì giá gạo lên cao, không phải là ý làm lợi cho nhân dân. Vậy thuế điền thu mỗi năm phàm nộp 1 hộc thóc thì cho nộp đèo 2 hộc mà trả tiền giá (1 hộc thóc giá 1 quan tiền), tiền thân dung cũng thu bằng thóc (tiền 1 quan nộp thóc 1 hộc) để cho kho vựa được đầy”.

    Chuẩn định từ nay về sau, phàm quan lại hết phép nghỉ đến làm việc, đều lấy tháng sau chiếu theo phẩm trật mà chi lương. Ghi làm lệ.

    Bắt đầu đặt vệ Loan giá, lấy 2 đội Nội hầu Trung hầu tôn thất cùng chọn 200 người trong đám tôn thất nhàn tản cải bổ làm quân hộ vệ ty Hộ vệ vệ Loan giá, 3 đội Tả hầu, Hữu hầu, Trung hầu nhất làm 3 đội nhất nhị tam ty Cảnh tất vệ Loan giá. Hậu vệ Thần cơ sung đội Loan nghi cải bổ làm đội Loan nghi nhất ty Loan nghi vệ Loan giá, đội Thị nghi cải bổ làm đội Loan nghi nhị, 4 đội Võ dực nhất nhị tam tứ đổi lệ vào ty Loan nghi ; ty Kỳ cổ vệ Cẩm y cải bổ làm ty Kỳ cổ vệ Loan giá. Lại cải bổ 3 đội Tả vệ, Hữu vệ, Kim đao làm 3 đội nhất, nhị, tam ty Trấn phủ vệ Cẩm y, 2 đội Tiều hầu nhất, nhị làm 2 đội nhất, nhị thự Hoà thanh, đội Việt tường làm thự Thanh bình.

    Lấy Chưởng cơ Trung vệ dinh Thần cơ quân Thị nội là Trương Công Tuyên làm thự Thống chế quản lý vệ Loan giá, kiêm quản dinh Thần cơ cùng 2 kho súng ống và đạn dược, chế ấn đồ ký đồng và kiềm gỗ vệ Loan giá cấp cho.

    Lấy Chưởng cơ gia thống chế hàm là Hồ Văn Trương kiêm quản ty trấn thủ vệ Cẩm y, Chưởng cơ Lê Thuận Tĩnh kiêm quản các thự Hoà thanh, Thanh bình.

    Bớt đội Tiểu sai, chọn lấy những người siêng năng làm được việc bổ làm thị vệ Nha bài. Dồn 10 đội hiện binh của Tiền vệ Hổ oai và vệ Nội hầu làm vệ Hổ oai tiền, 10 đội hiện binh của Trung vệ Tiền phong và đội Tiểu sai làm Trung vệ Tiền phong, 10 đội hiện binh của 2 vệ Tiền hậu Tiền phong làm vệ Tiền phong tiền ; đổi vệ Kỳ võ làm hậu vệ Tiền phong.

    Lấy Chưởng cơ Quản vệ Nội hầu là Phạm Văn Tín quản Tiền vệ Hổ oai, Phó vệ uý Trung vệ Hộ lăng là Tôn Thất Tường, Phó vệ uý Tiền vệ là Tôn Thất Đạo đều làm Vệ uý, Cai đội Tôn Thất Tự làm Phó vệ uý Trung vệ Hộ lăng, Phó vệ uý Trung vệ Hổ oai là Lê Văn Thảo làm Phó vệ uý vệ Tiền nhị quân Thị trung, Cai đội Cẩm y là Tống Văn Tự làm thự Phó vệ uý vệ Trung vệ Hổ oai, Phó vệ uý Tả vệ Hổ oai là Nguyễn Văn Nghĩa làm thự Vệ uý Trung vệ Thần cơ, Cai đội Cẩm y là Quách Đạo Lâm làm thự Phó vệ uý Tả vệ Hổ oai.
  • Chia sẻ trang này