0059.081 - @ nhani78 (Done WK)

22/12/15
0059.081 - @ nhani78 (Done WK)
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    Vua chuẩn theo lời bàn. Lại mỗi năm cấp tiền công nhu cho phủ 60 quan, huyện 40 quan.

    Lại cấm thuyền buôn Bắc Thành bán trộm gạo. Vua nghe tin Bắc Thành gạo đắt, dụ thành thần rằng : “Vụ mùa này được mùa, thóc mới thu hoạch, vừa đầy tháng, mà giá gạo đã nhảy vọt lên, khiến người không hiểu tại sao ? Gần nay nghe nói thuyền buôn người Thanh tụ tập ở hải phận Quảng Yên, bọn dân mọi hám lời, tất nhiên kẻ chở giấu thóc gạo, bán chác cho họ, giá gạo trong dân gian đắt, chưa hẳn là không bởi đó. Nay nên sức rõ điều cấm : phàm thuyền buôn ra biển chỉ được đem theo lương ăn thôi, nếu dám chở vụng thóc gạo để bán giấu, thì trị tội nặng. Quan sở tại không hay kiểm soát, hoặc cấp bậy giấy thông hành thì bị hặc tội”.

    Phó đô thống chế Hậu doanh quân Thần sách gia hàm Đô thống là Trần Đăng Long chết. Tặng chức Đô thống cho 200 lạng bạc, 5 cây gấm Tống. Kinh lý Cam Lộ Biên vụ là bọn Phạm Văn Điển, Lê Đăng Doanh tiến đóng ở châu Làng Thìn, truyền hịch khiến Nguyễn Văn Phượng đem binh thẳng tiến đến Ai Lao để hội đồng trù biện. Bọn Nguyễn Danh Giáp, Lê Văn Huyên thì tiến đến châu Ba Lan, sai người đưa thư cho tướng Xiêm trách sao gây việc. Tướng Xiêm không nói sao được bèn rút đi. Bọn Điển tâu lên. Vua nói : “Trẫm vẫn biết họ chả làm gì được. Nhưng nơi bờ cõi là quan yếu, không thể không phí một phen trù biện. Nay binh nước Xiêm đã lui, có thể bảo bọn Nguyễn Danh Giáp dẫn binh về, chỉ lưu Nguyễn Văn Thạch ở lại vỗ về dân Thổ cho được yên nghiệp, vài ngày rồi cũng rút về”.

    Triệu bọn Phạm Văn Điển và Lê Đăng Doanh đến Kinh. Khi đến, họ đem bản đồ từ Khung Giang đến Ai Lao dâng lên.

    Vua hỏi tình trạng người Xiêm và phong tục nhân vật chín châu ((1) Chín châu thuộc đạo Cam Lộ.1). Đáp rằng : “Người Xiêm mới đến đã có lấn cướp. Từ khi quân ta tiến đến, họ bèn nghe hơi là chạy trốn. Còn như bộ lạc chín châu, đã nhờ uy đức triều đình từ lâu, nên nghe hịch triệu, thì theo ngay như tiếng vang. Trong ấy thì châu Mường Vanh lại đến trước nhất khi biên cương có việc, thì châu ấy rất đắc lực”.

    Vua nói : “Từ Ai Lao đến Quảng Trị, đường đi không đầy 10 ngày, thật là một nơi quan yếu, sau này nên mở mang ra, nhân chỗ hiểm, đặt đồn để làm hàng rào bên ngoài thì không ngoài 10 năm, người chín châu sẽ đều là quân dân của triều đình cả”. Bèn thưởng Phạm Văn Điển, Lê Đăng Doanh được kỷ lục quân công và bọn Nguyễn Văn Phượng, Lê Văn Huyên 7 người kỷ lục thường đều 1 thứ. Biền binh, thì cho dự yến tiệc và xem tuồng. Người ốm chết thì cấp tuất ưu hậu.

    Triệu Tả Thị lang Lễ bộ quyền lĩnh việc trấn Quảng Trị là Hồ Hữu Thẩm về bộ nhận chức.

    Khi trước đạo Cam Lộ có việc, vua mật dụ cho Tổng trấn Gia Định là Lê Văn Duyệt phải phòng bị, đại lược nói : “Người Xiêm, dẫu mang bất trắc, nhưng việc lo ngoài của họ, như nước Hồng Mao, nước Diến Điện cho đến các man ở Vạn Tượng, có thể nào một loạt kinh lý ổn thoả được cả ư? Huống chi lại thêm mối lo trong nữa, thì lo việc mình chẳng xong, khó lòng bỗng chốc đem cả nước đến xâm lược được. Nếu chúng gây sự mà đến Gia Định thì một mặt tuỳ cơ đánh dẹp, một mặt thì tấu ngay, trẫm tất sai đại phát Kinh binh, chia đường thuỷ lục đều tiến, sẽ cho một trận tan tành sào huyện của chúng, cứ gì ngăn chống mà thôi đâu !. Chỉ sợ chúng chẳng dám phát trước”. Đến bấy giờ Duyệt dâng sớ nói rằng : “Thánh nhân làm việc tất là vạn toàn. Nay người Xiêm quấy nhiễu, chưa rõ hẳn là tự ý vua Xiêm hay tự biên tướng cần công. Vả lại hắn lấy cớ đòi hỏi Vạn Tượng mà quân ta vội động thì phải trái chưa rõ, mà tin tức việc binh lại lộ ra trước, nước họ lại nhân thể mà củng cố phòng bị, như thế chưa phải là mưu vạn toàn thủ thắng. Xin hạ lệnh cho quan kinh lý biên vụ, đóng binh không động, để xem việc biến chuyển ra sao. Lại sai sứ đưa thư sang Xiêm, đem việc thiết trách. Nếu họ cố ý gây chuyện thì ta lợi dụng vin cớ ấy, binh ta tuyên bố nghĩa lớn, thẳng tới kinh đô nước Xiêm, phá tan sào huyện của họ cũng chưa là muộn”. Vua phê bảo rằng : “ý kiến của khanh đại khái cũng giống trẫm. Nay việc biên giới đã xong, trước đã sắc mà cho bộ Binh tư cho khanh biết rồi. Việc sai sứ sang Xiêm cũng đương bàn để thi hành”. Duyệt lại tâu : “Có thám tử tự Chân Bôn (tên đất Xiêm) về báo rằng nghe nói có người Xiêm sắm sửa binh thuyền 50 chiếc, ý muốn đến lấn, nhân bắn súng chết mất 2 người binh sĩ cho là việc bất tường, nên lại thôi. Còn đợi tù trưởng Lục Khôn đến họp, sẽ mưu tái cử”. Vua dụ : “Nếu họ quả có mưu gian thì thế tất đem hết quân mà đại cử, há lại chỉ có 50 thuyền sao ư? Huống chi việc lớn trong nước, là việc tế tự cùng việc binh nhung, có lẽ nào vì một cớ nhỏ mà lại thôi ngay. Chính là chỉ nghe lời nói của người đi đường. Song việc biên phòng vẫn không thể không sẵn sàng. Khanh nên lại sai người thám thính đích xác tâu cho biết”. Lại sai Trấn thủ Biên Hoà là Nguyễn Hữu Thuyên đem 400 biền binh thẳng đến Hà Tiên hiệp cùng quan sở tại để trấn áp.

    Ngày Canh thìn, lễ Hợp thưởng.

    Đổi Lai cảng ở trấn Vĩnh Thanh làm cửa biển Định An, đặt thủ An Thái (thủ ở thôn An Thái trung nên gọi thế). Lấy Cai đội Nguyễn Văn Sương làm thủ ngự. Có một nhánh sông Hậu Giang ở Vĩnh Thanh thông ra biển, cửa biển có nhiều đảo, phía tả gọi là Lai cảng, phía hữu gọi cửa biển Mỹ Thanh. Từ trước đến giờ, ở Mỹ Thanh thú sở lập đổi Thanh Hải để giữ. Còn Lai cảng chỉ tạm phái người đóng giữ thôi. Đến nay thành thần Gia Định cho rằng Lai cảng là nơi xung yếu mà cách Mỹ Thanh cũng xa, tâu xin đổi danh hiệu đặt thêm thủ sở, lập thủ binh gọi là đội Bình hải, sai quản thủ mộ người sung vào. Vua y lời tâu.

    Lễ bộ lấy số học trò thi đỗ nhiều ít của các hạt về kỳ thi Hương năm nay làm danh sách dâng lên. Vua sai bộ Lại bàn định thưởng phạt các học quan theo thứ bậc. Ban tiền cho giám sinh. Vua bảo thị thần rằng : “Mùa đông năm nay giá rét, bọn giám sinh đèn sách cần khổ, lấy gì chống rét, nên cho tiền mỗi người 10 quan”.

    Cho lấy Quản cơ cơ Hữu kính là Lương Văn Liễu làm Phó thống thập cơ Kính tiệp Tiền quân.

    Trấn thủ Bắc Ninh là Nguyễn Cửu Lợi, Hiệp trấn là Hoàng Văn Tú, Tham hiệp là Nguyễn Mẫn, đem việc thóc kho mục nát người nọ đổ lỗi cho người kia, đều bị giải chức, giao Bắc Thành xét xử và chọn phái nhân viên thuộc thành quyền coi việc trấn.

    Định lệ khoá bổng mãn ((1) Bổng mãn : ăn lương ở trật nào đã đủ niên hạn được thăng gọi là bổng mãn. 1) cho các quan trong ngoài. Hai bộ Lại, Binh tâu rằng : “Lệ cũ quan ngoài thì 6 năm là một khoá, ai trật ấy đã mãn 6 năm, thì cứ tháng xuân mỗi năm làm danh sách ; quan kinh, văn từ Tam phẩm, võ từ Tòng nhị phẩm trở xuống thì 3 năm là một khoá, ai trật ấy đã mãn 3 năm thì cũng mỗi năm một lần khai danh sách, đều do quan bộ xét, chia hạng mà bàn định thăng giáng. Phàm phép xét công là để xem thành tích. Làm việc ở trong hay ngoài đều là việc công cả, sao lại xem khác nhau, mà mỗi năm một lần làm sách, thì cũng phiền lắm. Vả lại muốn nêu rõ kẻ hay người dở, phải nên đem công và lỗi mà thừa trừ. Trước kia, hễ bị giáng phạt là xếp vào hạng liệt, giống như là quá đáng. Lệ 3 năm khảo công đời xưa nên châm chước làm theo. Xin từ nay, các liêu thuộc trong ngoài, văn từ cửu phẩm, võ từ suất đội trở lên, đều định các năm sửu, thìn, mùi, tuất, 3 năm một khoá do thượng ty lập danh sách, chia làm 4 hạng ưu, bình, thứ, liệt. Như bị giáng phạt mà lại có gia cấp kỷ lục thì cũng cho tính toán hoà nhau. (Phàm có gia cấp kỷ lục mà không giáng phạt, là công hơn lỗi, là hạng ưu ; công và lỗi ngang nhau là hạng bình ; không công mà có lỗi hoặc lỗi nhiều hơn công, nhưng tình trạng làm việc còn khá một chút, là hạng thứ ; sự trạng tầm thường là hạng liệt). Đều giao cho bộ kiểm duyệt, châm chước bàn định thưởng phạt. Ai được ưu bình thì được thăng chuyển, quan trong thì bổ ra ngoài, quan ngoài thì bổ vào trong, khiến cho ra vào đều nhau, hạng thứ thì vẫn giữ chức cũ. Hạng liệt phải giáng truất. Ai chưa mãn hạn thì đợi khoá sau. Còn như ở Kinh, các ấn quan văn từ tam phẩm, võ từ nhị phẩm trở lên cùng quan thượng ty phủ Thừa Thiên và các thành trấn đạo, thì cứ đến khoá lệ 3 năm cho đều tự trình bày công và lỗi, đợi chỉ thăng giáng”. Vua cho là phải.

    Bãi việc đúc tiền kẽm ở Bắc Thành, vì đồng tiền đã đầy đủ.

    Thưởng quản lý Đê chính là Lê Đại Cương 100 quan tiền. Nhà vua thấy việc đê điều bận nhiều mà Tham biện là Ngô Tiến Đức lại ốm chết, duy một mình Cương làm, kể cũng khó nhọc, nên thưởng cho Cương, nhân đó tâu rằng quê nhà xa xôi, trước bị phạt bổng, nay xin lĩnh một nửa để chi dùng. Vua bảo bộ Hộ rằng : “Cương xin là muốn tỏ cho trẫm biết là thanh bạch thôi”. Không nghe.

    Lê Đại Cương tâu : “Hai đoạn đê các xã Dục Dương và Đường Sâm tỉnh Nam Định hai xã thuộc huyện Chân Định, viên Đê chính trước thiện tiện bồi đắp cao rộng quá”. Giao xuống hai bộ Hộ, Công nghị xử. Khi lời bàn dâng lên, cho là đê ấy chỉ ngăn nước biển, chứ không phải như đê sông giữ nước lụt xiết mạnh. Ví bằng vì việc lợi nông cũng phải trù tính kỹ tính giá cho xác đáng mà tâu lên rõ ràng, thế mà lại khinh thường vội đắp đê ngăn chặn nước mặn mà làm như đê chống nước lụt, đến nỗi hại nhiều công của thế là trong việc không đúng lại không đúng nữa. Vậy quản Đê chính trước là Nguyễn Đức Hội và Nguyễn Văn Nghị xin đều xử tội đồ, trấn thần là Hồ Văn Tân, Nguyễn Hựu Nghi, Nguyễn Nhược Sơn, dự có trách nhiệm giám tu mà không có ý kiến nên chăng thì đều giáng 2 cấp. Số tiền chi phí quá là hơn 7.400 quan phải chia phần mà bồi thường”. Vua cho rằng : “Đức Hội còn can án khác, đợi sau sẽ kết nặng hơn. Nguyễn Văn Nghị là võ biền ngu độn chẳng qua là theo đuôi người ta thì đổi làm cách lưu. Còn trấn thần thì y lời nghị bắt giáng mà miễn bồi”.

    Sai bọn Phó vệ uý vệ Khinh kỵ, lĩnh Viện sứ viện Thượng tứ là Nguyễn Trọng Tính và Phó vệ uý vệ Trung thuỷ là Đoàn Dưỡng, quản lĩnh binh thuyền đi sang đảo Hạ Châu ((1) Hạ Châu : tức Tân Gia Ba.1) làm việc công. Bèn chuẩn định từ sau phàm quan và binh phải đi nước ngoài xa như đảo Giang Lưu Ba ((2) Giang Lưu Ba : tức Gia các ta.2) và Quảng Đông((3) Quảng Đông : tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.3) thì dự chi cho 3 tháng, gần như Hạ Châu, Lữ Tống thì chi 2 tháng. Khi đi trở về việc được thanh thoả mà chi thiếu thì sẽ theo lệ cấp cho ; không thiếu thì thôi. Ghi làm lệ.

    Lấy Chưởng cơ lĩnh Trấn thủ Bình Định là Nguyễn Văn Quế làm thự Thống chế Hậu dinh quân Thần sách, Chưởng cơ lĩnh Trấn thủ Quảng Bình là Lê Văn Quý làm thự Thống chế Tượng quân chuyên quản cơ Hùng cự và cơ Ngũ kích. Trấn thủ Bình Hoà là Trương Văn Thịnh làm Chưởng cơ lĩnh Trấn thủ Bình Định.

    Hiệp trấn Quảng Bình là Trần Bá Kiên dung túng người nhà đòi hối lộ, việc phát, bị giải chức đợi xét. Lại vì án tha lầm kẻ tử tội, nên sai cách chức trước. Rồi Kiên chết.

    Định lại lệ quan viên tử của các quan thời quốc sơ, trước đây quan tuyển trường tâu rằng : “Những viên quan tử mà cha có chỉ sai, chỉ truyền, giấy phó của công đồng vẫn cho vào hạng ấy như cũ. Vua giao việc ấy xuống đình thần bàn. Cho là các quan thời quốc sơ được chỉ sai, chỉ truyền, hoặc có giấy phó công đồng cũng đều là được ơn nhà vua cả. Song trong ấy sự trạng phần nhiều không đủ chứng thực, nên phải theo đó mà châm chước nghĩ định. Xin phàm người theo đi Vọng Các, xếp vào hạng Vọng Các công thần thì con vẫn là Vọng Các viên tử như cũ. Còn những người khác nếu hiện dự chức gì thì giao cho người cai quản, xét tâu xin đổi cấp bằng sắc. Người nào đã chết, hoặc về hưu, đều cho cứ giữ hàm cũ, từ Chánh tam phẩm trở lên, các con đều cho là quan viên tử, từ Tòng tam phẩm đến Thất phẩm, đều cho 1 con làm quan viên tử. Còn các đạo chỉ sai, chỉ truyền và phó từ của công đồng khi trước đều thủ tiêu cả.

    Vua theo lời bàn. Lấy thự Vệ uý Trung vệ dinh Thần cơ là Nguyễn Văn Nghĩa làm Phó vệ uý vệ Hữu nhị quân Thị trung, Cai đội Cẩm y là Tôn Thất Thiện thăng thự Phó vệ uý Trung vệ dinh Thần cơ.

    Thượng thư Hộ bộ là Lương Tiến Tường nghỉ về thăm cha mẹ, hết hạn trở về Kinh, vào bệ kiến. Vua hỏi về dân sự ở Gia Định. Tường đáp là được mùa. Vua mừng lắm. Đặt 5 đội mộ binh ở phủ Lạc Hoá, cho thuộc phủ là bọn Kim Di, Kim Kỳ, Kim Phê, Sơn Đột, Sơn Mâu đốc suất, theo Tuyên phủ sứ Bùi Phụ Đạo sai phái.

    Định trình hạn khai sổ chi tiêu cho các địa phương. Phàm có chi tiêu về việc tu tạo thì làm 3 bản sách tâu. Về tiền lương thì do bộ Hộ, tre gỗ vật liệu thì do bộ Công, trong sách phải khai rõ ngày tháng làm xong. Lấy ngày khởi công, việc thường hạn 3 tháng, việc trọng lớn hạn 5 tháng, hiện đã đệ sách đến bộ y cho chi tiêu, còn việc khó khăn không thể đúng hạn, thì mới được xin thêm hạn.

    Lính 2 cơ Thanh thuận, An thuận đóng thú ở Gia Định bị chết dần, chỉ còn hơn 140 người. Thành thần tâu xin dồn lại làm 3 đội nhất, nhị, tam cơ An thuận, vẫn lưu lại đóng thú. Vua y cho.

    Định lệ cấp binh khí cho các vệ cơ đội, từ Quảng Nam về nam đến Bình Thuận, và từ Quảng Trị về bắc đến Ninh Bình. Bộ Binh tâu rằng : “Gia Định ở phía nam, Bắc Thành ở phía bắc, binh khí cần dùng đã có chuyên khổn đại thần trù biện. Duy từ Quảng Nam đến Bình Thuận, từ Quảng Trị đến Ninh Bình, tất cả 11 trấn đạo, biền binh thuỷ bộ ở các vệ, cơ đội thuộc những hạt ấy, từ trước tới nay, các hạng binh khí cần dùng như súng tay, giáo trường, giáo cờ, có cái do quan cấp, có cái tự biện lấy, cũng có nơi giáo trường, giáo cờ tự sắm thì số nhiều, mà không có súng tay quan cấp. Cũng có khi súng tay thì có súng máy Trung Quốc cấp trước mà không có súng máy đá, cũng có nơi có súng máy đá cấp trước mà không có súng máy Trung Quốc, chưa được hoạch nhất. Nay xin chiếu theo lệ các vệ Ban trực quân Thần sách về khinh binh, mỗi đội cấp súng tay và giáo trường, đều 20 cây, cờ đuôi nheo 4 cây. Mỗi vệ cơ không cứ đã đủ hay chưa đủ 10 đội, đã gọi là vệ cơ thì đều cấp cho một cây cờ vuông to lớn đề hiệu vệ cơ (mặt cờ viết tên hiệu vệ cơ nào). Nếu số đội dẫu nhiều mà không được gọi là vệ cơ, thì không được cấp bừa).

    Quảng Nam : Cơ Quảng Nam 10 đội, 4 đội trấn binh nhất, nhị, tam tứ, cấp súng tay máy Trung Quốc 280 cây, giáo trường 280 cây, giáo cờ 57 cây, cơ Điện hải 2 đội nhất, nhị, cấp súng tay máy đá 40 cây, giáo trường 40 cây, giáo cờ 9 cây.

    Quảng Ngãi : Tĩnh man nhất, nhị, tam, tứ, ngũ, lục, mỗi cơ 6 đội cấp súng tay máy Trung Quốc 720 cây, giáo trường 720 cây, giáo cờ 150 cây ; cơ Quảng Ngãi hiện ngạch 8 đội, theo lệ 10 đội, cấp súng tay máy Trung Quốc 200 cây, giáo trường 200 cây, giáo cờ 41 cây, trấn binh 3 đội nhất nhị tam, cấp súng tay máy Trung Quốc 60 cây, giáo trường 60 cây, giáo cờ 12 cây.

    Bình Định : Cơ Bình Định 10 đội và trấn binh năm đội nhất nhị tam tứ ngũ cấp súng tay máy Trung Quốc 300 cây, giáo trường 300 cây, giáo cờ 61 cây.

    Phú Yên : Cơ Phú Yên hiện ngạch 4 đội theo lệ 10 đội, cấp súng tay máy Trung Quốc 200 cây, giáo trường 200 cây, giáo cờ 41 cây ; trấn binh 3 đội nhất nhị tam cấp súng tay máy Trung Quốc 60 cây, giáo trường 60 cây, giáo cờ 12 cây ; 3 đội Kiên thuỷ nhất, nhị, tam, cấp súng tay máy Trung Quốc 60 cây, giáo trường 60 cây, giáo cờ 12 cây.

    Bình Hoà : Cơ Hoà thắng 8 đội, nguyên là lính giản, theo số ấy cấp súng tay máy đá 160 cây, giáo trường 160 cây, giáo cờ 33 cây ; cơ Bình hoà hiện ngạch 6 đội, theo lệ 10 đội, cấp súng tay máy Trung Quốc 200 cây, giáo trường 200 cây, giáo cờ 41 cây ; trấn binh 3 đội nhất, nhị, tam cấp súng tay máy Trung Quốc 60 cây, giáo trường 60 cây, giáo cờ 12 cây ; 4 đội hoà thuỷ nhất nhị tam tứ cấp súng tay máy Trung Quốc 80 cây, giáo trường 80 cây, giáo cờ 16 cây.

    Bình Thuận : Cơ Thuận nghĩa nhất 10 đội, cơ Thuận nghĩa nhị 8 đội, nguyên là lính giản, theo số ấp cấp súng tay máy đá 360 cây, giáo trường 360 cây, giáo cờ 74 cây ; cơ Bình thuận hiện ngạch 3 đội theo lệ 10 đội, cấp súng tay máy Trung Quốc 200 cây, giáo trường 200 cây, giáo cờ 41 cây ; trấn binh 3 đội nhất, nhị, tam cấp súng tay máy Trung Quốc 60 cây, giáo trường 60 cây, giáo cờ 12 cây ; 5 đội Thuận thuỷ cấp súng tay máy Trung Quốc 100 cây, giáo trường 100 cây, giáo cờ 20 cây.

    Quảng Trị : Cơ Định man 10 đội cấp súng tay máy Trung Quốc 200 cây, giáo trường 200 cây, giáo cờ 41 cây ; cơ Quảng trị hiện ngạch 5 đội theo lệ 10 đội, cấp súng tay máy Trung Quốc 200 cây, giáo trường 200 cây, giáo cờ 41 cây ; trấn binh 3 đội nhất, nhị, tam cấp súng tay máy Trung Quốc 60 cây, giáo trường 60 cây, giáo cờ 12 cây.

    Quảng Bình : Vệ Tuần thành 5 đội và trấn binh 3 đội nhất, nhị, tam cấp súng tay máy đá 160 cây, giáo trường 160 cây, giáo cờ 33 cây ; cơ Quảng bình hiện ngạch 2 đội nhị, tam, theo lệ 10 đội, cấp súng tay máy Trung Quốc 200 cây, giáo trường 200 cây, giáo cờ 41 cây.

    Nghệ An : Quân Thần sách các vệ Dương võ, Toàn võ, Uy võ, Minh võ, thuộc Trung dinh ; các vệ Tuyển phong tiền, Phấn võ, Trung võ, Trang võ thuộc Tiền dinh ; các vệ Tuyển phong tả, Nghiêm võ, Diệu võ, Định võ thuộc Tả dinh ; các vệ Tráng võ, Cường võ thuộc Hậu dinh, tất cả 14 đội, cấp súng tay máy Trung Quốc 2.800 cây, giáo trường 2.800 cây, giáo cờ 574 cây; cơ Trung tập Thuỷ quân 10 đội cấp súng tay máy Trung Quốc 200 cây, giáo trường 200 cây, giáo cờ 41 cây ; 5 đội vệ Võ thành, cấp súng tay máy Trung Quốc 100 cây, giáo trường 100 cây, giáo cờ 21 cây ; đội Kiên uy, cấp súng tay máy Trung Quốc 20 cây, giáo trường 20 cây, giáo cờ 4 cây ; 2 đội Tiền thuận nhị tứ thuộc Tiền quân cấp súng tay máy Trung Quốc 40 cây, giáo trường 40 cây, giáo cờ 8 cây.

    Thanh Hoa : Quân Thần sách các vệ Tuyển phong hữu, Túc võ, Cung võ, Nghĩa võ thuộc Hữu dinh ; các vệ Tuyển phong hậu, Quảng võ thuộc Hậu dinh ; cộng 6 vệ cấp súng tay máy Trung Quốc 1.200 cây, giáo trường 1.200 cây, giáo cờ 246 cây ; cơ Trung dực thuỷ quân 9 đội nguyên là lính giản, theo số ấy cấp súng tay máy Trung Quốc 180 cây, giáo trường 180 cây, giáo cờ 37 cây.

    Ninh Bình : Cơ Hữu kích 9 đội, cơ Hậu kích 10 đội, cộng 19 đội, nguyên là lính giản theo số ấy cấp súng tay máy Trung Quốc 380 cây, giáo trường 380 cây, giáo cờ 78 cây ; 2 cơ Ninh bình, Ninh dũng, mỗi cơ 5 đội cấp súng tay máy Trung Quốc 200 cây, giáo trường 200 cây, giáo cờ 42 cây.

    Ngoài ra vệ Thần cơ nguyên đóng thú ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, 5 đội ngũ lục thất bát cửu của vệ Chấn uy ở Quảng Bình, đội thập vệ Chấn uy ở Quảng Trị, 2 đội Uy chấn ở Nghệ An và Thanh Hoa, các đội pháo thủ ở Phú Yên, Bình Hoà, Bình Thuận vẫn theo trước, chuyên giữ súng ống, cùng các đội thuộc binh Quy nghĩa, Hoà thiện, Thiên thiện ở Quảng Ngãi, Bình Hoà, Bình Thuận, Thanh Hoa, nguyên là tù phạm được tha làm binh, con số không nhiều, các đội thuộc binh Thiên hùng, Tề võ ở Thanh Hoa và các đội Thuận uy, Kiên nghĩa ở Nghệ An, số binh rất ít, không cần cấp nữa.

    Lại xin chiếu xét địa hạt lớn hay nhỏ, việc binh nhiều hay ít, châm trước cấp súng dự trữ để làm ngạch nhất định.

    Nghệ An cấp sung tay 500 cây, giáo trường 1.000 cây.

    Quảng Nam súng tay 400 cây, giáo trường 800 cây.

    Thanh Hoa, Quảng Bình, Bình Định, Bình Hoà, Bình Thuận súng tay đều 300 cây, giáo trường đều 600 cây.

    Quảng Ngãi, Ninh Bình súng tay đều 250 cây, giáo trường đều 500 cây.

    Quảng Trị, Phú Yên súng tay đều 200 cây, giáo trường đều 400 cây. Vua bằng lòng.

    Lấy Chưởng cơ Thống quản thập cơ Chấn định Trung quân là Nguyễn Văn Quyền, thăng thự Thống chế, Phó vệ uý vệ Hữu nhị quân Thị trung là Đoàn Vũ Thắng thự Vệ uý, sai đi Gia Định, theo Tổng trấn Lê Văn Duyệt để diễn tập quân sĩ. Vì số binh mới điều mới mộ ở thành hạt Gia Định chưa am thuộc hàng ngũ, Duyệt xin cho họp lại tất cả ở thành để tập luyện, cho sẵn để dùng, cho nên sai bọn Quyền đến.

    Khâm sai Chưởng cơ Chánh vệ vệ Kỳ võ Hữu quân hưu trí là Nguyễn Văn Tứ chết. Sai chiểu theo lệ tiền tuất Tòng nhị phẩm mà cấp.

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHỊ KỶ QUYỂN LVII

    THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ


    Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10 [1829] (Thanh Đạo Quang thứ 9), mùa xuân, tháng giêng, giảm thuế thân năm nay cho Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam 3 phần 10, cho Nghệ An trở ra Bắc, Quảng Ngãi trở vào Nam 2 phần 10. Bắt đầu làm lễ Nghinh xuân, Tiến xuân ((1) Lễ Nghinh xuân, Tiến xuân : mùa xuân, đầu năm vua làm lễ đón xuân và tiến thần Câu mang, với con trâu đất, để cầu nguyện cho thời tiết được lành, mùa màng được thuận.1). Trước đây bộ Lễ tâu rằng : “Kính xét thiên Nguyệt lệnh Lễ ký tháng quý đông, sai Hữu ty cho trâu bằng đất ra để tống khí rét. Tiên nho bàn rằng tháng bắt đầu ở sửu (tháng 12), sửu là trâu, thuộc về hành thổ, đất có thể ngăn được nước, cho nên làm trâu đất, để tống hết khí rét đi. Lại nói : Đất thắng được nước, trâu thì giỏi cày. Thắng được nước nên chống được rét, giỏi cày nên có thể chỉ bảo việc làm ruộng sớm hay muộn. Sách Hậu Hán thư chép rằng : Ngày lập xuân, lậu ((2) Lậu : tức đồng hồ nước.2) đêm chưa hết năm khắc thì các quan đều mặc áo xanh, dựng cờ xanh, đem con trâu và người cày bằng đất đưa ra ngoài cửa. Sách Tuỳ thư, Lễ nghi chí chép : trước ngày lập xuân 5 ngày làm con trâu, người cày và cái cày bằng đất, để ở ngoài cửa Đông môn. Sớm tinh sương ngày ấy, quan lại đều cầm cái roi [cuốn chỉ] màu đánh vào con trâu ba roi, để tỏ ý khuyên đi cày. Sách Mộng hoa lục chép rằng : triều Tống trước ngày lập xuân 1 ngày, phủ Khai Phong dâng con trâu đất vào cấm thành, hai huyện Khai Phong và Tường Phù đều để trâu đất ở trước cửa phủ. Lại xét Thanh điển, ngày lập xuân cung tiến Mang thần và trâu đất đặt trên núi xuân, đều bày trên án. Phàm rước xuân là để dẫn hoà khí cũng là một cách gây dựng giúp đỡ, mà lấy roi đánh trâu là có ý khuyên việc cày cấy, lại là ngụ ý trọng nông. Nay Hoàng thượng ta chăm lo nguồn sống của dân, để tâm về việc canh nông, cái gì có quan hệ đến việc khuyến khích thì có lẽ nên phỏng theo đời xưa châm chước mà làm. Còn như lễ Tiến xuân, ngoài Mang thần và trâu đất còn có núi xuân, đúng là điển lớn của thời thăng bình, xin hằng năm sai Hữu ty chế Mang thần và trâu đất đều ba bộ, xuân sơn bảo tọa hai vị, trước ngày lập xuân 1 ngày, phủ Thừa Thiên bày đàn làm lễ trước ở nơi Đông giao, gọi là lễ Nghinh xuân, lễ xong, rước hai án Mang thần, trâu đất, và núi xuân để ở nhà Lễ bộ. Đến ngày lập xuân, quan bộ, cùng viên Kinh doãn và viên Khâm thiên giám, đều mặc triều phục, đem đến cửa Tiên Thọ và cửa Hưng Khánh, thái giám tiếp nhận dâng lên gọi là Tiến xuân. Còn một án Mang thần và trâu đất thì bày ở phủ thự, viên Kinh doãn đánh vào con trâu ba roi để tỏ khuyên việc cày cấy”. Vua theo lời bàn. (Hằng năm, ngày thìn sau tiết Đông chí, Khâm thiên giám hội đồng với Vũ Khố lấy đất nước ở phương tuế đức((1) Tuế đức : vị sao tốt của năm ấy gọi là tuế đức.1), chế tạo Mang thần và trâu đất 3 bộ, dùng gỗ dâu làm cốt, xét sách Thổ ngưu kinh, xem tháng kiến năm ấy và ngày lập xuân là can chi gì mà tính theo ngũ hành và âm luật để biện rõ hình sắc. Thân trâu cao đủ 4 thước để tượng trưng 4 mùa ; cái cốt từ đầu đến đuôi dài 8 thước để tượng trưng 8 tiết, đuôi dài 1 thước 2 tấc để tượng trưng 12 tháng ; Mang thần thì cao 3 thước 6 tấc 5 phân, để tượng trưng cho 365 ngày ; cái roi bằng cành liễu, dài 2 thước 4 tấc để tượng trưng 24 khí.

    Thừa Thiên tâu rằng hạt phủ yên ổn. Vua phê bảo : “Thừa Thiên là nơi đứng đầu trong phong hóa được yên ổn liền năm, có thể làm gương mẫu cho các nơi. Lời chúc khai xuân, còn gì tốt hơn câu nói “yên thịnh” ấy”.

    Gọi 4.000 người biền binh ở Bắc Thành, Ninh Bình, Thanh Nghệ về Kinh
    thao diễn.

    Cho con Quốc trưởng Vạn Tượng A Nỗ là Chiêu Sơ, Chiêu Thiển trú ngụ ở phủ Trấn Tĩnh. Khi trước A Nỗ bỏ nước chạy, Sơ, Thiển và bọn phìa tạo quân dân đi theo 60 người. Đến phủ Trấn Tĩnh, A Nỗ để Sơ, Thiển ở lại đấy trú ngụ mà tự mình đem quân dân về nước. Phòng ngự sứ Trấn Ninh là Chiêu Nội sai người đón bắt đưa sang nước Xiêm. Sơ, Thiển nghe tin xin dời đến ở Nghệ An. Trấn thần trình tư lên bộ. Bộ Binh đem việc tâu lên. Vua sai đình thần bàn cách xử trí, đều nói : “A Nỗ đã thua, Sơ Thiển không nơi nương tựa, từ chối thì cũng bất nhẫn, song để cho đến trấn thì tiếng lại ầm lên chi bằng cho ở phủ Trấn Tĩnh, sai trấn thần mật sức cho phủ viên, phải kín đáo phòng vệ, có thiếu thì giúp đỡ cho cũng được”. Vua cho là phải.
  • Chia sẻ trang này