0059.082 - @ nhani78 (Done WK)

22/12/15
0059.082 - @ nhani78 (Done WK)
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    Triệt bỏ binh trú phòng ở các phủ biên thuỳ Nghệ An. Thưởng cho từ Suất đội trở lên, kỷ lục đều 1 thứ ; binh dinh thì thưởng cho hơn 700 quan tiền.

    Đặt Chánh phó quản cơ ở các cơ đồn Uy viễn, đều 1 người. Lệ định ở các trấn thuộc thành Gia Định, vệ thì đặt 1 Vệ uý hoặc Phó vệ uý, cơ thì đặt 1 Quản cơ hoặc Phó quản cơ. Thành thần Gia Định thấy đồn Uy viễn đều là lính ở nơi phiên phụ xa xôi, tình quân có người chưa quen hiểu, xin đặc cách đặt ngoài lệ”. Vua y cho.

    Ngày Quý dậu, lễ Xuân hưởng.

    Sai Thượng thư Hộ bộ là Lương Tiến Tường kiêm quản Khâm thiên giám.

    Đắp thành phủ Lý Nhân và thành 3 huyện Duy Tiên, Nam Xang, Thanh Liêm thuộc trấn Sơn Nam. (Thành phủ Lý Nhân ở xã Cổ Thọ, huyện Bình Lục là huyện kiêm lý, thành huyện Duy Tiên ở xã Ninh Lão, thành huyện Nam Xang ở 2 xã Khê Nga, Nga Thượng, thành huyện Thanh Liêm ở 2 xã Dương Xá, Hương Ngải. Thành phủ dài quanh 266 trượng 2 thước 4 tấc, mé ngoài cao 7 thước 2 tấc, trong cao 4 thước, mặt dày 8 thước, chân thành dày 1 trượng 5 thước ; thành huyện Duy Tiên dài quanh 164 trượng, thành 2 huyện Nam Xang, Thanh Liêm đều dài quanh 186 trượng 6 tấc, đều ngoài cao 7 thước 2 tấc, trong cao 3 thước 7 tấc, mặt dày 8 thước 3 tấc, chân dày 1 trượng 5 thước).

    Trong thành công đường, nhà kho, kho thuốc súng, nhà binh, nhà ngục, đều đủ cả (ở phủ dựng thêm xưởng voi).

    Trước là vua nghĩ phủ huyện nên có thành trì để vững việc phòng thủ nhưng công trình to tát, chưa thể một loạt xây dựng cả được, bàn ở Sơn Nam chọn nơi nào dễ làm thì thử đắp thành 1 phủ và 3 huyện. Bèn sai Tả Thị lang Công bộ là Lê Vạn Công lấy tư cách là Giám thành đến đấy. Đến nơi, xin thuê dân ở Lý Nhân, Duy Tiên, Nam Xang, Thanh Liêm. Đến khi làm, phạm vào phần mộ của dân hơn 280 ngôi. Vạn Công dâng sớ xin nhận tội. Giáng Hồ Văn Đặc là Đội trưởng giám thành làm Bách hộ, Vạn Công bị phạt bổng 1 năm.

    Vua sai thông dụ cho dân sở tại rằng : “Công việc triều đình đắp thành, nguyên muốn lựa chọn chỗ đường đi trung độ, để tiện cho dân. Nay đắp phạm vào nhiều phần mộ là do Giám thành vâng làm không khéo, nhưng đã trót đắp nếu lại đổi chỗ khác thì cũng không khỏi bộc lộ [mồ mả] được cho nên bất đắc dĩ cứ thi hành, không phải là chỉ muốn mau việc đắp thành mà không thương xót đến việc dân phải đem hài cốt di táng. Vậy cấp bội thêm tiền vải để dời mộ”.

    Khi thành đắp song, thành phủ làm bốn dác đài mỗi đài đặt 3 khẩu súng to, thành huyện làm bốn nguyệt đài, mỗi đài đặt 2 khẩu súng to. Lại đặt binh đóng giữ, phủ thì 200 người, huyện 100 người.

    Quản cơ Định man kiêm Quản đạo Cam Lộ là Nguyễn Văn Thạch có tội cách chức, lấy Cai đội Hữu quân là Nguyễn Văn Vân thay.

    Mùa đông năm ngoái, người Xiêm đến cướp châu Tầm Bồn, đòi trả dân man về. Sai Thạch lĩnh 200 cơ binh đi trước, đến châu Ba Lan chống cự. Thạch sợ thanh thế nước Xiêm, mưu hoãn binh, viết thư xin nghỉ. Vua cho là nhát, cách chức, giao bộ Hình nghị xử. Đến nay án dâng lên, tội đáng sung quân, đặc biệt sai đánh 100 trượng, phái đi Ai Lao, cố gắng chuộc tội.

    Vua bảo bộ Công rằng : “Lệ thuế gỗ lim ở Thanh Nghệ, từ trước đến nay đã có lệ sẵn, cây nào có tỳ thì loại ra. Nhưng nghĩ mẩu gỗ đầu tre, còn có thể dùng được, huống chi gỗ lim là thứ nước nhà cần dùng, từng tấc cũng không nên bỏ. Nay dân gian đẵn để nộp rất là khó nhọc, đã không được vào hạng chính cung, lại không dám bán tư, thế chẳng hóa là vật vô dụng à ! Nên hạ lệnh cho trấn thần sức bảo các mộc hộ, có ngọn cây, đốt cây và cành đoạn dài 4, 5 thước, ngang 3, 4 tấc trở lên, cùng những cây có tỳ mà có thể dùng được, muốn đem nộp quan thì châm chước tính giá trả tiền cho”.

    Phố Lương Mã ở ngoài thành trấn Cao Bằng, nhà dân bị cháy, cháy lan hơn 100 nhà, đều là người nước Thanh. Quan Bắc Thành tâu lên, vua bảo: “Cũng đều là dân của ta cả, đều xem như một, không phân biệt”. Sai phát tiền gạo chẩn cấp khắp cả (mỗi nhà cấp tiền 2 quan, thóc 1 hộc).

    Thượng thư Binh bộ gia hàm Hiệp biện Đại học sĩ hưu trí là Nguyễn Đăng Hựu đem gia quyến ngụ ở Kinh. Sai bộ Hộ cấp cho nửa lương.

    Sai vệ Hữu bảo nhị của Kinh binh đi thú Nghệ An ; vệ Hùng cự nhất đi thú Thanh Hoa, 2 vệ Tiền phong tả, Long võ tiền đi thú Bắc Thành.

    Lấy Thành thủ uý Bắc Thành là Nguyễn Văn Cận làm thự Phó vệ uý vệ Nghiêm võ Tả dinh quân Thần sách.

    Lấy Cai đội Hữu quân là Phạm Văn Tường làm thự Phó vệ uý Tiền vệ Long võ, quản lĩnh vệ binh đi thú, Vệ uý Tiền vệ Long võ là Trương Văn Hậu lấy hàm Vệ uý Thị nội, vẫn lĩnh công việc Phó vệ uý vệ Cẩm y, kiêm quản ty trấn phủ.

    Lấy Quản cơ cơ Hữu dực Thuỷ quân là Lê Văn Luận làm Vệ uý vệ Tiền thuỷ, Quản cơ thí sai cơ Tả đực là Nguyễn Văn Quân làm Phó vệ uý, Phó quản cơ cơ Hậu dực là Nguyễn Văn Cẩn làm Vệ uý vệ Hữu thuỷ, Quản cơ lĩnh Quản phủ Bình Giang là Tô Văn Huệ làm Phó vệ uý vệ Tráng võ quân Thần sách.

    Bắt đầu đặt Viện sứ viện Thái y, trật Chánh tứ phẩm, bày ban ở dưới hàng Thiếu thiêm sự phủ Thiêm sự, lấy ngự y Đoàn Văn Hoà làm Viện sứ viện Thái y, Phó ngự y Nguyễn Tăng Long làm ngự y.

    Định lệ lễ miếu Tiên y ((1) Miếu Tiên y : thờ các thánh sư về nghề thuốc.1) (hằng năm, xuân thu 2 kỳ tế, cấp tiền lễ phẩm 80 quan).

    Bắt đầu đặt chức quan Giám đốc Mộc thương [kho gỗ] và viên dịch ty Doanh thiện. Bộ Công tâu rằng : “Nhà nước dựng xưởng gỗ, gỗ lạt dồn chứa cả ở đấy, sổ sách bề bộn, nếu không đặt người chuyên trách thì khó khỏi sơ hở lầm lẫn. Tra xem Thanh điển thì ty Doanh thiện thuộc về bộ Công, mà nơi xếp gỗ phát gỗ ở Kinh gọi là Mộc thương ; có phái riêng một viên quan người Mãn giám đốc, như thế là trọng của công. Nay Mộc xưởng xin đổi là Mộc thương. [Mộc thương] chọn một người Tứ phẩm võ ban sung Giám đốc Mộc thương. Lại đặt các chức Viên ngoại lang, Chủ sự, Tư vụ đều 1 người, Bát phẩm thư lại 2 người, Cửu phẩm 4 người, Vị nhập lưu 20 người, sung vào ty Doanh thiện. Phàm các việc thu vào phát ra ở kho và vẫn giữ sổ sách thì hội đồng với viên giám đốc xét làm”. Vua nghe lời bàn. Lấy Cai đội vệ Tiền nhất quân Thị trung là Trương Đình Uẩn làm Giám đốc Mộc thương, Tham quân thuỷ sư là Nguyễn Hội làm Viên ngoại lang ty Doanh thiện ở kho gỗ.

    Vua đi chơi vườn Thiệu Phương, triệu đình thần vào hầu, cho ngồi ở hành lang chữ vạn, thong dong uống nước chè ăn quả rồi về.

    Trấn thần Bình Định tâu rằng : “Hai nguồn Trà Vân, Trà Bình (thuộc huyện Bồng Sơn) đất giáp Quảng Ngãi, thường có hoang man quấy phá, gần đây chia đặt 32 đồn luân phiên đóng binh phòng thủ không phải là không nghiêm nhặt, thế mà bọn man còn thường thừa sơ hở lẻn xuống làng giết hại dân Hán [Việt]. Cái tệ ấy là tự dân buôn cùng với bọn người Lèo núi mua bán thường dọa nạt lừa dối họ nên họ mang oán, bọn hoang man quấy phá là do bọn Lèo núi dẫn về. Xin cho lượng đem rượu, thịt, mắm muối và áo quần đến trường giao dịch, gọi tù trưởng các sách Lèo núi ở các nguồn đến mà thết đãi cấp cho, bảo cho họ biết đức ý của triều đình, cho họ vui lòng, khiến họ không chứa chấp bọn hoang man nữa. Bọn hoang man đã không được bọn Lèo núi dung nạp, thì không thể quấy phá dân Hán được. Vua cho là phải.

    Cho Trần Thế Nho và Vũ Đức Mẫn làm Lang trung Hình bộ. Đắp thêm 3 sở đê ở Sơn Nam : (Huyện Chương Đức 1 sở, tự Minh Sơn đến Cổ Hào 13 xã, dài hơn 2.300 trượng. Huyện Yên Sơn 1 sở, từ Thạch Nga đến Phương Khê 19 xã, dài hơn 951 trượng, lại 1 sở đến 2 xã Đại An trường và Chúc Lý huyện Chương Đức, dài 215 trượng). Các đê này đều là đê tư một phía gần sông Hát Giang, một phía gần sông Tích Giang, trước bị nước lụt tràn vỡ, công việc nặng nhọc, sức dân không thể làm được, xin trả làm đê công. Bèn sai thành thần cùng quan Đê chính trù tính thuê đắp.

    Đổi thủ Đồng Tranh trấn Phiên An làm thủ Đồng Ninh.

    Hoãn lệ cống năm nay cho đất mới mở và các thuộc quốc. Vua dụ bộ Lễ rằng : “Các phủ huyện phiên phụ Trấn Tĩnh, Lạc Biên cùng nước Nam Chưởng và Mục Đa Hán năm nay đều đến kỳ cống. Nhưng nghĩ bọn họ ở xa, đường sá cách trở mà tháng 4 sang năm lại vừa gặp khánh tiết Chính thọ 40 tuổi của trẫm, các man phía ngoài đều đến chúc thọ, thì lệ cống năm nay nên triển hạn đến tuần tháng 3 sang năm, đều cùng đến Kinh trình tiến đúng ngày ấy đến chúc mừng, cho đỡ sự vất vả. Lại lệ cống hằng năm của Chân Lạp cứ tháng 4 đến Gia Định, tháng 6 đến Kinh. Dụ cho kỳ cống sang năm cũng cho tuần tháng 3 đến Kinh để kịp chầu mừng”.

    Sáu bộ tâu xin đặt thêm ty viên và thư lại. Vua không cho. Dụ rằng : “Đầu đời Minh Mệnh đặt viên dịch, so với đời Gia Long có tăng không giảm. Năm gần đây lại nghĩ hai bộ Hộ, Binh nhiều việc, đặt thêm nhân viên so với trước đã gấp rưỡi. Nay nếu cứ theo lời xin thì đến đâu cho cùng ? Vả lại các nha môn, người liêm cần giỏi giang tuy không thiếu, mà người lười biếng tầm thường cũng không ít, bởi vì lúc đầu cất nhắc có khi lầm ở lời nói coi dáng mạo mà dùng thực cũng không trách làm gì, hoặc giả nể là người làng hay ngấm ngầm đi lại, đến nỗi quan có người không xứng chức, lại có người không được việc, thế là lỗi ở ai ? Nếu không xét cùng đến nguồn gốc mà muốn số ngạch ngày tăng lên, rồi cứ bắt chước nhau mà ngồi rồi ăn không, thì dẫu nhiều mà có ích gì ! Nay nên một lòng giữ công bằng trung tín, các người thuộc viên quan trên, thường kiểm xét luôn, giỏi thì tiến lên, hèn thì cho về, sao cho quan to thì làm gương mẫu, quan nhỏ thì giữ thanh liêm để đều tròn chức vụ cả, như thế thì chính trị xếp đặt tốt đẹp, sao đến nỗi thiếu người sai khiến mà phải cầu xin thêm. Nếu không nghĩ cách gạn lọc, để kẻ dở lọt vào lạm dự, thì duy đường quan chịu trách nhiệm không được mượn tiếng là sai phái không đủ người”.

    Ngày Bính tuất duyệt binh. Vua ngự ở Nam đài để xem. Có người ở Nghệ An là Lê Diễm đón giá vua dâng nói 8 điều : 1) Cấm cùng họ không được lấy nhau ; 2) Cấm tả đạo ; 3) Lập thi võ ; 4) Bàn phép thi văn ; 5) Định việc đánh thuế cửa quan và bến ; 6) Đổi y phục. Đó là những việc đã thi hành rồi, góp nhặt để tâu bày. Còn hai điều về phong kiến và tây thuỳ ((1) Tây thuỳ : biên giới phía tây.1) là việc xin xếp đặt lại càng điên dại. Lại đem việc nước lụt hạn hán cho là vì dụng binh gây nên, lời nói rất càn giỡ. Vua xem, nói rằng : “Từ trước đến nay, mở rộng đường nói, thật muốn biết hết những nỗi khổ ở hương thôn, nếu kẻ dân mọn không danh vị có biết đích thấy rõ việc gì, cho được cứ việc tâu thẳng, gián hoặc nửa trúng nửa sai, cũng không nỡ vội quở trách. Đến như việc lớn của nước không phải là thường dân được dự biết, là sợ làm hỗn hào lẽ phải của nước. Nay Lê Diễm dám đem việc phân phong và quân vụ là việc tối trọng đại mà nói bậy bàn càn, nếu khoan hồng mà tha thì sao cho nghiêm được hình pháp ? Vậy giao xuống bộ Hình nghiêm trị”. Rồi Diễm bị tội trảm giam hậu.

    Đổi thự Thượng bảo khanh là Phan Đình Sỹ làm thự Hiệp trấn Quảng Bình. Sỹ dâng biểu xin từ. Vua bảo bộ Lại : “Sỹ là người thật thà, lại ít học, trẫm muốn cho biết việc trị dân, để cho có thành tích. Nay hắn cố từ, không kham bổ ra ngoài, thì cũng nên cho tòng sự ở Bộ, có lẽ nào cứ giữ mãi một chức đến già. Cho bỏ thự hàm, đổi làm Lang trung Công bộ”.

    Lấy Tả Tham tri Công bộ là Bùi Đức Minh làm Tả Tham tri Binh bộ, thự Tả Tham tri Binh bộ là Lê Văn Đức đổi làm thự Hữu Tham tri, Tả Thị lang Lễ bộ là Hồ Hữu Thẩm làm Thị lang Vũ Khố vẫn kiêm quản Quang lộc tự, Lang trung Công bộ là Nguyễn Danh Giáp làm thự Hữu Thị lang Hình bộ, thự Vệ uý vệ Nghiêm võ là Trần Văn Tiến trước phái đi coi việc biên ở Trấn Ninh, rồi đổi đi thú Bắc Thành, bị bệnh chết. Thành thần tâu lên. Vua thương xót, truy tặng Vệ uý quân Thần sách, cho thêm 200 quan tiền.

    Trao chức hàm Thổ tri châu cho ấp Ma Hạt Khâm Xỷ ở phủ Trấn Tĩnh theo Tuyên uý Đồng tri là Phọc Khâm làm việc phủ. Phọc Khâm trước làm tù trưởng. Khâm Xỷ làm phó. Phọc Khâm thật thà chậm chạp, các việc từ trát ứng tiếp ở phủ đều giao cho Khâm Xỷ cả. Đến bấy giờ Phọc Khâm làm Quản phủ, cùng với Tri huyện huyện thừa 3 huyện Thâm Nguyên, Yến Sơn, Mộng Sơn thuộc phủ ấy, suy cử Khâm Xỷ. Trấn thần Nghệ An xin hộ nên trao cho chức ấy.

    Định quy thức các thuyền ở Kinh ở ngoài. Bộ Công tâu : “Từ trước đến nay, chế tạo thuyền ghe, đều tuỳ việc mà họp thợ để làm quy chế chưa đều. Nay ngạch thuyền trong ngoài đã định, thì dạng thức cũng nên phải thống nhất. Xin châm chước bàn rằng : Như hạng thuyền kim loại, thuyền lớn bọc đồng, và các thuyền Hải đạo, sam bản ở Kinh khi có tu tạo thì đều lâm thời tâu xin làm cùng thuyền Điện hải ở các địa phương, đã có định quy thức gửi đến thì thôi, còn các thuyền khác thì đều định quy thức như sau :

    Thuyền hiệu Ba : dài 6 trượng 6 thước 1 tấc, ngang 1 trượng 6 thước, sâu 8 thước 2 tấc ; không có mái chèo.

    Thuyền hiệu Lãng : dài 5 trượng 8 thước 7 tấc, ngang 1 trượng 5 thước, sâu 8 thước 2 tấc, 44 cái mái chèo.

    Thuyền hải đạo : dài 6 trượng 1 thước, ngang 9 thước 8 tấc, sâu 4 thước 1 tấc 3 phân, 46 cái mái chèo.

    Thuyền lê hạng lớn : dài 5 trượng 2 thước 6 tấc, ngang 7 thước 2 tấc, sâu 3 thước 1 tấc, 36 cái mái chèo.

    Thuyền ô, thuyền son, thuyền sai : đều dài 4 trượng 8 thước, ngang 8 thước 4 tấc, sâu 3 thước 2 tấc, 30 cái mái chèo.

    Thuyền sam bản : dài 3 trượng 6 thước 5 tấc, ngang 8 thước 5 tấc, sâu 2 thước 2 tấc 5 phân, 32 cái mái chèo.

    Thuyền khoái : dài 3 trượng 3 thước, ngang 3 thước 3 tấc, sâu 1 thước 3 phân, 12 cái mái chèo.

    Thuyền sam bản nhỏ, đi theo thuyền Điện hải : dài 1 trượng 8 thước, ngang 5 thước 3 tấc, sâu 1 thước 7 tấc, 10 cái mái chèo.

    Thuyền sam bản nhỏ, đi theo thuyền hiệu : dài 2 trượng 1 thước 5 tấc, ngang 5 thước, sâu 2 thước, 10 cái mái chèo.

    Thuyền sai ở các tấn cửa biển : dài 3 trượng 8 thước, ngang 5 thước 5 tấc, sâu 2 thước 3 tấc, 26 cái mái chèo.

    Vua theo lời bàn rồi thấy thuyền ở Kinh còn thiếu, sai Thống chế thuỷ quân là Nguyễn Tài Năng đem binh và thợ đóng 5 chiếc thuyền lớn bọc đồng (các hiệu Định dương, Thanh hải, Bình hải đều 1 cái, hai hiệu Tuần hải nhị và Tuần hải tam), 11 chiếc thuyền hiệu 3 lãng (Định lãng, An ba đều 1 cái ; Thanh ba, Bình ba, Định ba, đều 3) ; một thuyền Hải đạo lớn ; bốn thuyền Hải đạo, ba thuyền Điện hải ; 24 thuyền lê, còn thiếu 22 chiếc, bộ Công xin lấy hạng thuyền ngoại ngạch mà thức dạng tương tự để điền vào cho đỡ công sức.

    Lê thuyền thiếu bốn chiếc điền các thuyền Long tứ, Long ngũ, Long lục, Long lê đều một ; thuyền khoái thiếu ba chiếc điền các thuyền hoa, thuyền tiểu hải, tiểu sam bản mỗi thứ một chiếc, thuyền sam bản thiếu một chiếc, điền thuyền hoành long ; xuống thiếu 1 chiếc, điền thuyền kim bản, thuyền sử thiếu 1 chiếc, điền thuyền bồng năm trượng. Còn các hạng khác thì đóng dần cho đủ ngạch (tiểu thuyền khoái nhỏ 5 chiếc, thuyền sai 7 chiếc). Vua y cho. Lại thấy bánh lái thuyền Điện hải theo thức cũ dùng bánh lái nghiêng, sai đổi làm bánh lái thẳng gửi cho các địa phương làm mẫu.

    Bắc cầu Ninh Bình. Trước kia đạo thần tâu rằng phía trước thành, mặt bên hữu có cầu Sơn Thuỷ, đường cái có cầu Vân Sàng, ván gỗ nát cả mà hai cầu không xa nhau mấy, xin hợp làm một cầu. Vua sai họp thợ bắc cầu ở chỗ cầu Vân Sàng cũ. Đến bấy giờ cầu xong, cho đặt tên là cầu Ninh Bình.

    Gửi thức cờ ngũ hành cho các trấn trong ngoài, sai theo kiểu mà chế, gặp khi có việc binh, quan địa phương thân lĩnh biền binh đi tuần bắt thì dùng để chỉ huy quân sĩ. Lại cấp nhung phục cho các sắc biền binh, khi có sai phái về việc đóng thú và việc bắt giặc thì cho mang mặc.

    Thành thần Gia Định tâu rằng : “Binh khí của các vệ cơ đội thuộc thành đều có sắm riêng, phần nhiều không đúng thức, xin chi vật hạng để tu bổ cho đủ dùng”. Bèn sai phát đồng và kẽm ở kho Kinh (đồng khối đỏ Tụ Long 3.000 cân, kẽm 2.000 cân) chở cấp cho.

    Thống chế Hữu dinh quân Thần sách là Nguyễn Văn Hạnh chết, cho 500 quan tiền, 3 cây gấm Tống. Sai thự Trung quân là Tống Phước Lương quyền lĩnh ấn triện Hữu dinh quân Thần sách.

    Châu Tầm Bồn ở Quảng Trị có dân man Mục Đa Hán đến ngụ ở biên giới hơn 1.400 người, Quản đạo Cam Lộ là Nguyễn Văn Vân báo, trấn tâu lên. Vua nói : “Người Man ấy vốn không đi lại cống hiến, nay đến ngụ ở biên giới chẳng kẻo như cái bướu, có ích gì cho ta. Huống chi lòng dạ lang sói chợt đi chợt lại, tức như bọn Lèo bị nạn Hân Ma Lạt năm trước là chứng nghiệm rõ ràng. Đất đai bờ cõi 9 châu rất quan hệ cho việc biên phòng, không thể xem thường. Nên nghiêm sức ngay cho thổ ty đuổi hết đi”. Rồi thì man Ba Thắc nước Xiêm đưa thư đến 3 châu Tầm Bồn, Ba Lan, Mường Bổng, xin đuổi dân ấy về đất cũ. Bèn sai Nguyễn Văn Vân viết thư đáp lại, đại lược nói rằng : “Phép lệnh triều đình rất nghiêm, các dân man ấy đã đuổi ra khỏi địa phận, không còn sót ai. Vả lại bờ cõi đã ngăn cách hẳn, từ sau không được thư từ đi lại nói càn nữa”.

    Chuẩn định từ nay đội các vệ cơ đội dồn bổ lại, các viên thừa ra nên chi nửa lương, mà tiền không đủ 1 quan, gạo không đủ 1 phương thì nay cấp cho mỗi tháng, tiền đủ 1 quan, gạo đủ 1 phương, quần áo mùa xuân thì đình cấp.

    Sai bọn Lang trung Hộ bộ là Lê Nguyên Trung, Viên ngoại lang là Đào Đắc Hiếu và Hà Thúc Giao xem xét việc ở Bắc Thành. Bắc Thành năm ngoái đắp đê công, phần nhiều không đúng quy thức lâu không tâu báo việc chi tiêu. Đê chính cũ là Ngô Phúc Hội giao cho Đê chính mới là Lê Đại Cương, Cương không chịu nhận. Thành thần tâu lên. Vua bèn sai bọn Trung đi. Liền xét ra. Các hạt Sơn Nam, Sơn Tây, Bắc Ninh, số tiền công đắp đê, phần nhiều tiêu lạm. Bèn dụ quan Bắc Thành xét rõ chức danh niên phận của người đốc tu, giám tu, thừa tu ((1) Đốc tu : đốc suất việc đắp đê, như chức Đê chính. Giám tu : trông coi việc đắp đê, như chức quan trấn. Thừa tu : thừa hành việc đắp đê như các phủ huyện và nha lại.1), theo số lạm chi chia từng phần bắt phải đền bồi, lại chiếu luật tham tang mà xử tội.

    Vua thấy nguyên Thống chế, quyền Chưởng Bắc Thành Tổng trấn ấn là Trương Văn Minh và thự Hộ bộ Tham tri lĩnh Đê chính là Nguyễn Đức Hội, can phạm nhiều án, đã do Hữu ty đề nghị xử cách và đồ, đương chờ kết tội nặng, mà vẫn cứ còn giữ nguyên hàm không khác gì người hiện chức, bèn hạ lệnh đều cách chức trước và lưu ở thành đợi án.

    Lấy Phó vệ uý vệ Tiền nhất quân Thị trung là Nguyễn Văn Khoa sung chức Tham biện công việc Đê chính Bắc Thành.

    Sai quan biên soạn tôn phả. Lấy thự Lang trung Binh bộ là Nguyễn Văn Điển sung chức Tổng toản tu, Viên ngoại lang Lại bộ là Nguyễn Vĩnh Trinh sung chức Toản tu. Gia phả làm xong, sai để bản chính ở điện Trung Hòa, như lệ. Bản chính lần trước đem cất ở Quốc sử quán, tự nay theo tôn phả ấy mà làm. Thưởng từ Tổng toản tu đến người đằng lục, bạc và lụa theo thứ bậc. Lại sắc dòng dõi tội nhân tên Hợp biên ở sau phả hiện ăn lương tôn thất thì gia ân vẫn cấp cho như cũ, sau có người nào khai tiếp thời giảm một nửa lương.

    Thượng thư bộ Lại là Trần Lợi Trinh bị tội, cách chức. Trinh trước tư túi nhận giữ tài sản của Trần Nhật Vĩnh gửi. Có chỉ bắt tâu trả lời nhưng lời tâu nhiều điều giấu giếm. Vua dụ Văn thư phòng rằng : “Lợi Trinh đã biết Nhật Vĩnh là người có tội, lại không thân thích gì, cớ sao trong khi có bệnh, đã không làm việc bộ, dự bàn công việc mà lại thong dong cùng Nhật Vĩnh đi lại chuyện trò, thậm chí lại nhận gửi vợ, gửi của, rõ thật là đặt mình ngoài vòng, để được theo bên cạnh khuyên nhủ, che chở kẻ phạm. Đến khi án nặng phát giác, lại làm ra bộ trước không dự biết, làm sớ tự bày tỏ, dụng tâm như thế, thật là xảo trá, kín đáo. Vả lại, Lợi Trinh vốn là một viên quan nhỏ, đầu đời Minh Mệnh điều vào dùng ở Kinh, chưa được vài năm đã nhắc đến đầu ban ((1) Đầu ban : chức quan đứng đầu bộ như Thượng thư.1) nhà nước đặc cách dùng người, đối với hắn như thế không phải là không hậu. Thế mà không nghĩ lấy lòng công trung thờ trên, lấy thanh liêm khuyên dưới, lại dám coi thường pháp luật, mưu cầu lợi riêng, dối vua giúp bạn. Nếu theo điển khoan hồng thì không lấy gì mà chỉnh đốn được kỷ luật của triều đình. Vậy giải chức ngay, giao xuống cho bộ Hình nghiêm nghị”. Lợi Trinh sợ tội, rồi bị bệnh cấp mà chết, vua nghĩ đến việc đánh giặc năm trước, có dự chút công, đặc ân giáng hàm Tham tri và chiếu phẩm trật cấp tiền tuất.

    Thượng thư bộ Hộ là Lương Tiến Tường cũng vì nhận của gửi của Nhật Vĩnh mà bị phạt.

    Lấy Vệ uý Hậu vệ dinh Tiền phong là Nguyễn Khoa Bằng làm thự Vệ uý vệ Hữu nhị quân Thị trung, Vệ uý Tả vệ dinh Tiền phong là Vũ Đức Hựu làm Vệ uý Hậu vệ, Phó vệ uý vệ Cung võ là Nguyễn Tiến Tá làm Phó vệ uý Tả vệ, Vệ uý Hữu vệ dinh Hổ oai là Trần Văn Trí làm thự Vệ uý vệ Hữu nhất quân Thị trung, Phó vệ uý Tiền vệ dinh Hổ oai là Nguyễn Văn Mỹ làm Phó vệ uý Hữu vệ, Phó vệ uý vệ Tráng võ quân Thần sách là Trần Tiến Lưu làm thự Vệ uý vệ Nghiêm võ, thự Phó vệ uý vệ Nghiêm võ là Tống Phước Minh làm thự Phó vệ uý vệ Tráng võ.

    Trấn thủ Thanh Hoa là Lê Văn Hiếu, Hiệp trấn là Đoàn Viết Nguyên bị tội miễn chức. Lấy Chưởng cơ gia hàm Thống chế là Hồ Văn Trương lĩnh chức Trấn thủ Thanh Hoa. Nguyên trước Thanh Hoa đấu giá về thuế cửa quan và bến đò người lĩnh thầu tư túi hối lộ cho người thiếp của Hiếu 20 lạng bạc, và người con của Nguyên 40 lạng bạc. Sau khi xong việc lại có quà tạ, bọn Hiếu đều nhận, chỉ một mình Tham hiệp Tôn Thất Lương từ chối, không nhận. Khi việc phát giác, sai Lang trung Nguyễn Văn Thắng, Thừa chỉ Trương Phước Cương đi tra xét. Khi án thành, bộ Hình nghĩ xử Hiếu tội cách, Nguyên tội đồ.

    Vua đặc ân giáng Hiếu xuống Chánh thất phẩm thiên hộ, phát đi hiệu lực ở đài Điện Hải, Nguyên bị cách chức, phát đi hiệu lực ở Nghệ An. Lương giữ liêm khiết, xuống dụ khen ngợi thưởng cho sa và đoạn đều 3 cuốn nhỏ, lụa màu 10 tấm, để khuyến khích người làm quan thanh bạch. Hiếu bị giáng, nhưng chỉ cấp bằng ở bộ không có chiếu chỉ. Nhân thế sắc rằng từ nay phàm chức quan văn võ, người nào có tội bị giáng bổ bắt đi gắng sức chuộc tội thì cứ chiếu lệ ấy mà làm.

    Tháng 2, vua cùng bọn Lễ bộ Phan Huy Thực bàn về lễ nhạc nói : “Trẫm ngày nọ sai nhạc công Thanh Bình tấu một tiết đăng ca cũng còn nhiều sơ lược, nhân thấy tiếng tơ, tiếng trúc hòa nhau nghe hay. Hỏi ra thời họ nói rằng đấy là ở các ngón tay nắn nót mà thôi, đến gốc của nhạc thì lan man không biết gì cả. Trẫm thấy là buổi đầu gây dựng, lễ nhạc còn thiếu, thường muốn sáng chế, mà chưa nắm được cốt yếu. Các khanh có từng nhớ được nhã nhạc của triều Lê không ?”. Thực đáp : “Nhạc của triều Lê chỉ có đội Bả lệnh mà thôi”.

    Vua nói : “Triều Lê có tiếng là thịnh vượng mà việc lễ nhạc thô bỉ như thế. Nay tuy nhạc xưa đã bỏ mất, mà các đồ bát âm còn có thể khảo được. Nên tìm người hiểu âm nhạc, cùng bọn các ngươi chế tác”. Lại nói : “Khổng Tử là bậc chí thánh, các đời tôn sùng có đời xưng là Tố vương ((1) Tố vương : có đạo của vua mà không có vị của vua.1) có đời xưng hô là Văn Tuyên vương ((2) Văn Tuyên vương : năm Khai Nguyên nhà Đường truy tôn Khổng Tử làm Văn Tuyên vương.2). Tự trẫm xem, đức Khổng là bậc thầy, muôn đời tôn trọng, không thể xưng cho cùng được, duy đời Minh xưng là Chí thánh tiên sư, đời Thanh cũng theo, không đổi, thế là phải”.

    Sau Hữu Tham tri Lễ bộ là Phan Huy Thực kiêm quản các ty Lý thiện.

    Sai Thống chế Nguyễn Văn Trọng kiêm quản Thị vệ Thượng trà, Ngân bài, Nha bài, Chưởng cơ Nguyễn Tăng Minh kiêm quản 2 đội Ứng sai vệ Dực bảo, Cai đội Giáo dưỡng, sung Ngân bài thị vệ là Tôn Thất Nghị kiêm quản các đội Phú thuận, Phó vệ uý vệ Phi kỵ là Vũ Văn Giải kiêm quản thự Hòa Thanh.

    Nhà dân ở quanh trấn cũ Hà Tiên bị thất hỏa, cháy lan hơn 140 hộ. Thành thần Gia Định xin nhân thế dời dân đến trấn lỵ mới ở Giang Thành để cho nhân dân đông đúc. Vua y cho. Sai theo lệ tuất tai mà cấp mỗi hộ 3 quan tiền.

    Đốc học Quảng Ngãi là Vũ Xuân Biều tuổi già về hưu trí. Lấy Chủ sự Lễ bộ là Nguyễn Chước làm thự Đốc học Quảng Ngãi.

    Trấn thủ Thuận Thành là Nguyễn Văn Vĩnh chết.

    Cháu công thần Phùng Khắc Khoan đời Lê là Phùng Khắc Hanh xin nối chân nhiêu ấm, không cho. Đầu đời Gia Long cho cháu các công thần khai quốc và trung hưng đời Lê làm nhiêu ấm hơn 40 người, tha thuế thân và các việc binh dao giữ việc thờ cúng đời đời, cháu Khắc Khoan cũng dự vào đấy. Đến nay lại xin kế tập.

    Bộ Lễ bàn rằng : “Cho là lệ thưởng liên tiếp về đời sau là nhà nước báo đáp người có công đặc biệt. Riêng hạng công thần này ở đời Lê thực là có công, nhưng đối với bản triều thì chưa có tý chút công lao. Từ khi giặc Tây Sơn gây loạn, vua Lê mất ngôi, các nhà thân biền ((1) Thân biền : quan văn và quan võ.1) cũ, cũng đều xuống làm dân cả. Buổi đầu Thế tổ Cao hoàng đế mới đại định, nghĩ tới những người có công cũ của triều trước, không nỡ xem họ chìm đắm, mới cho con cháu họ nhiêu ấm để được thừa tự, đấy là đặc ân, chứ không thể vin vào đó làm lệ được. Nay Hoàng thượng nối theo mối lớn trau dồi quy mô, châm chước cân nhắc, tất cầu cho đúng lẽ, hợp nghĩa. Tức như công thần của bản triều con cháu được tập ấm đời đời mà còn phải chước lượng để phân biệt, huống chi dòng dõi công thần nhà Lê đã được đặc ân, thế là may rồi, lại còn đòi thế tập nữa sao ! Xin từ nay dòng dõi công thần nhà Lê đã từng được nhiêu ấm thì vẫn cho miễn thuế dịch về sau không được kế tập ấm. Việc cấp phu mộ cũng đều đình bãi”. Vua theo lời bàn.

    Chuẩn định từ nay thuộc ty các nha đã từng bị xét tâu là nhân dân không phục mà tài năng còn có thể sử dụng được, thì cho cứ thực tâu lên, sẽ lượng cho bổ dụng. Nhưng không được sung chức phủ huyện.
  • Chia sẻ trang này