0059.083 - @ nhani78 (Done WK)

23/12/15
0059.083 - @ nhani78 (Done WK)
  • PDF
    GoogleDocs

    k
    :rose::rose::rose:

    Sai sứ đưa thư sang nước Xiêm. Lấy Lang trung Hộ bộ là Bạch Xuân Nguyên sung Chánh sứ, Cai đội Tiền vệ dinh Long võ quân Thị nội là Trương Văn Phượng và Viên ngoại lang Lễ bộ là Nguyễn Hữu Thức sung Giáp ất phó sứ. (Thư đại ý nói : “Nước tôi cùng nước Xiêm đời đời kết tình lân nghị, hơn 40 năm vui buồn cùng nhau, hòa hiếu không dứt, không những các nước phụ thuộc vẫn ưa mến hai nước lớn chúng ta, mà tưởng các nước phương xa cũng đều kính trọng. Đến như nước Chân Lạp và Vạn Tượng, lòng thành đối với nước lớn, cống hiến rất cẩn thận.

    Năm Minh Mệnh thứ 8, bỗng tiếp Nghệ An tâu báo rằng Quốc trưởng Vạn Tượng là A Nỗ đem gia quyến đến xin ở, nói là bị nước Xiêm đuổi, muốn đến làm dân biên giới. Tôi nhân nghĩ hai nước từ trước đến nay, hễ có việc gì tất báo cáo cho nhau ; lần này không từng sai người cho biết thì vị tất đã là sự thật. Nhưng vì Vạn Tượng là nước triều cống, nhân nạn đến nương tựa, lẽ nào lại coi như người ngoài, nên chuẩn cho ở yên tại Nghệ An. Mùa hạ năm ngoái, A Nỗ xin về sửa sang việc nước ; đã nhận lời xin, sai phái quan binh đi hộ tống, và sắc bảo sau khi về nước, nên uỷ bề tôi tin cẩn đến tạ nước Xiêm giữ lễ phiên thần mãi mãi. Đã sai sứ thần là bọn Lê Nguyên Hy mang quốc thư sang trước để tỏ tình giao hảo và đem nguyên uỷ tỏ bày. Sau tiếp được biên giới báo rằng A Nỗ về đến thành cũ, cùng tướng nước Xiêm tranh chiếm kho tàng gây việc lôi thôi, cũng đã xuống lời nghiêm dụ, bảo A Nỗ thu nhặt những súng ống khí giới của người Xiêm bỏ sót lại và chọn ngay người bồi thần đi tạ lỗi, cho trọn vẹn lễ đối với nước lớn. Lại sắc cho quan bộ Lễ soạn công văn, do thành Gia Định phái người mang giao cho Phật Lăng chuyển đạt.

    Mùa thu năm ngoái, bỗng thấy Nghệ An phi báo rằng những người phái đi là Cai đội Phan Văn Thống, Hiệp thủ Lê Đình Duật cùng thông ngôn, thổ binh man binh 50 người, mang tờ dụ đi Vạn Tượng mới đến đồn Phô Khâm thì bị tướng Xiêm là Thung Ni Sây giả cách ra đón rồi lừa giết. Duy chỉ để lại Lê Đình Duật và 2 người man thuộc, với cái ống rồng để tờ sắc dụ, nộp cho chủ tướng là Xù Pha Họa Di đưa sang Xiêm.

    Mùa đông năm ngoái, lại tiếp đạo Cam Lộ tâu rằng tỳ tướng nước Xiêm là bọn Vi Xiết Sâm Kiều Lũng Na La, đem quân chia đóng châu Tầm Bồn thiện tiện bắt trói viên lại mục để đòi của cải, thác cớ đòi hỏi cống thuế của thổ ty chín châu và tìm kiếm dân phiêu lưu. Đã sắc cho quan lại biên cương lấy lẽ bảo cho biết, nhưng không chịu rút lui, đợi quân nước tôi kéo đến rồi mới đi, và nói rằng những trâu ngựa cướp được đợi sau sẽ trả lại. Việc ấy hiện có bộ lạc Lạc Hoàn là Chiêu Bông Khiêm Mà Lạt và Chiêu Xà Nát báo cáo đủ làm bằng cứ. Làm như thế thật là không giữ điều tin về giao hiếu cho trọn đạo tốt. Vả lại tôi với nước Xiêm vẫn noi theo lệ cũ, đời đời giữ tình láng giềng. Thuyền bị nạn của Xiêm đậu ở phần biển nước tôi, tôi đều cứu giúp ; dân man phiêu giạt của Xiêm đến ở biên giới tôi cũng đều chẩn cấp cả. Diến Điện là nước thù địch với Xiêm, trước thường sai sứ đến giao thiệp để mưu đánh Xiêm tôi cũng cự mà không nhận. Tấm lòng thành thực lấy tin giữ hòa có thể chứng với thần minh, tỏ rõ xa gần vậy. Đến như việc khu xử nước Vạn Tượng, chính vì thương người tai nạn, giúp kẻ chơ vơ đó là việc nghĩa, chứ không phải muốn lợi về đất đai và nhân dân đâu. Thế mà thư từ đi lại, bày tỏ khúc nôi mà Xiêm không từng một lần sai sứ nào đến. Và Vạn Tượng làm tôi hai nước lớn, nếu A Nỗ quả thật có tội với Xiêm, thì cũng nên cho tôi biết rõ để lựa chọn người giỏi lập lên, để giữ việc thờ cúng. Nay cứ im lặng, không nói cho biết, mà cứ bắt lấy dân bỏ đất trống là nghĩa gì ? Đến như phái người mang thư dụ sang bảo Vạn Tượng tạ lỗi với Xiêm vốn là việc hay mà đến, Thung Vi Sây thù gì mà vội gây mưu ác ? Bọn đi sứ tội gì mà bị độc thủ ra tay ? Việc ấy lại càng trái lẽ. Huống chi đất đai hai bên giới hạn đã cách hẳn, thổ ty 9 châu nguyên thuộc bản đồ nước tôi đối với Xiêm vốn không quan hệ gì. Năm xưa, nạn dân Hân Ma Lạt đến ở nhờ ; tôi thương là cùng khổ mà tạm dùng rồi lại cho đi về, thế mà bọn Vi Xiết bỗng dưng kiếm cớ lấn bờ cõi, quấy nhiễu dân biên giới nước tôi, sao có nước lễ nghĩa đối với nhau mà lại dung túng biên tướng để vượt cõi làm càn như thế. Lẽ phải trái đã rạch ròi không đợi biện bạch mà tự rõ.

    Tôi trọng nghĩ tình thân thiện hòa mục, nên sai sứ thần là bọn Bạch Xuân Nguyên mang thư đi, [nước Xiêm] nên tự xét mà nghĩ cho kỹ. Vạn Tượng nếu nên đặt Quân trưởng khác, thì sự thể xử trí thế nào nên sớm trả lời. Lê Đình Duật và đạo sắc thư, thì phải giao trả ngay. Lại giao kèm cả tên thủ ác Thung Vi Sây, để hỏi cái tội thiện tiện giết người đi sứ, Thiên tỳ ((1) Thiên tỳ : tỳ tướng ở địa phương.1) là bọn Vi Xiết thì tự nên nghiêm trị cho biết lấy làm răn. Như thế thì sau này có thể sửa chữa mà còn có thể không trái với sự giao hiếu. Nếu không thế thì gây mối xích mích là tự Xiêm khởi đầu. Đến lúc ấy, sự cong, ngay phải trái, trên có trời soi, dưới có những lời phê bình của các nước các phiên, chớ có bảo nước tôi không tốt với Xiêm”).

    Trước là vua cho rằng việc đi sứ này không ví như việc tầm thường đi lại để giao hiếu khác, sắc cho văn võ thuộc các nha sáu bộ, ai có thể lĩnh sứ mạng cho tự tiến lên. Rồi có hơn 10 người dâng biểu xin đi, vua sai đình thần sát hạch, đều cho Nguyễn Hữu Gia, Bạch Xuân Nguyên và Trương Văn Phượng có thể sung tuyển. Vua đặc cách sai Nguyễn Hữu Thức cùng Nguyên và Phượng đi, Nguyên và Thức hiện còn thự hàm, đều cho thực thụ. Lại thưởng cho Nguyên 200 quan tiền, cho Phượng và Thức đền 100 quan. Đến khi bệ từ, vua vời lên trên điện, đinh ninh dạy bảo. Lại sai bộ Lễ đặt câu vấn đáp không ngờ giao cho.

    Sai bọn thự Lang trung Lại bộ là Tống Đức Hưng, Viên ngoại lang Binh bộ là Dương Văn Phong, Viên ngoại lang Hình bộ là Nguyễn Huy Triêm, thự Viên ngoại lang Binh bộ là Vũ Đĩnh cùng Văn thư phòng và Thị vệ đi ra Bắc Thành thu thuế quan bốn sở : Trình Xá, Định Hương, Bảo Thắng, Quán Tỷ (Trình Xá, Định Hương thuộc Sơn Tây ; Bảo Thắng, Quán Tỷ thuộc Hưng Hóa). Mùa đông năm ngoái thành thần đòi họp các người buôn để đấu thầu thuế 4 sở ấy, giá hạ quá, có chỉ phái quan đến thu. Kẻ buôn giảo quyệt là Liêu Ninh Thái, nhờ mượn Nguyễn Văn Tước đội mạo tên cùng với Đỗ Huy Tùng đến Kinh kêu xin cho chiếu theo giá đã định mà lĩnh thầu. Bộ Hộ tâu giùm, vua y cho, mà bỏ chỉ trước. Đến khi gửi ra thành cấp bằng, thì bọn cùng đứng đơn là Long Kỳ Ký, Hoàng Đình Quýnh không chịu lĩnh. Thành thần xét ra tình trạng tráo trở giả mạo, cứ thực tâu lên. Vua bảo các quan : “Bọn Ninh Thái là dân hèn mọn, đi buôn lại dám coi thường phép vua, tự ý làm như đùa bỡn, không những làm nhỡ việc thuế quan, mà lại lừa dối triều đình, tội nào lớn hơn nữa ! Nếu không chiếu luật nặng mà nghiêm trị thì kẻ khác thấy thế bắt chước, tai hại không kể xiết được. Vậy thì kẻ mạo tên đi kêu tên là Nguyễn Văn Tước, phải trảm quyết để bảo kẻ khác. Liêu Ninh Thái và Đỗ Huy Tùng đều trảm giam hậu. Bọn Long Kỳ Ký không đến thành lĩnh thầu, lại khinh suất sai Huy Tùng vượt đến Kinh kêu nài đến nỗi xảy ra rất nhiều tình tệ, đều phải gông nặng 2 tháng, đủ hạn, trượng 100 rồi tha”. Bèn sai bọn Tống Đức Hưng chia nhau đi các nơi ngồi thu thuế. Lại sai thành thần chọn các thư lại thanh liêm tháo vát ở thành và các trấn hơn 10 người, theo đi làm việc. Đồng thời lượng bắt binh thuyền đi tuần để trông coi và hộ vệ.

    Dân Ninh Bình có người trước mua nhà làm bằng gỗ lim đã cũ, sợ phạm cấm, đến quan sở tại thú nộp. Vua nghe biết, bảo bộ Hình rằng : “Việc cấm gỗ lim đến nay hơn 20 năm, chưa nghe thấy ai dám làm gian, lệnh cấm ban hành trong ngoài đã rõ. Vả lại gỗ dùng, số năm lâu chóng đã không thể biết, bọn điêu quyệt thường thường nhân thế dọa người lấy của, không được vừa ý, tất đem tố cáo, nếu cứ một mực nghiệm mà thu lấy chẳng kẻo làm hại dân sao. Nên thông dụ nhà dân làm bằng gỗ lim cũ thì miễn nộp quan và không được tố cáo”.

    Kinh đô mưa, ruộng nương thấm nhuần, các địa phương gần Kinh cũng báo tin được mưa. Vua rất mừng, đưa cái hoa mẫu đơn trong chậu bảo các quan rằng : “Hoa này tính ưa rét, phương Nam không có. Năm ngoái có người từ Việt Đông ((1) Việt Đông : tức là Quảng Đông.1) đi đường biển đến dâng. Xuân năm nay, khí trời lạnh hoa ấy nở được tốt đẹp đáng yêu. Xem một vật ấy, có thể nghiệm năm nay được mùa”. Lại nói : “Rét là gồm tạnh trong chỗ đáng ghét, có chỗ đáng yêu, cái cơ âm dương Tiên trưởng như thế. Ví như việc hành chính của ông vua thưởng một việc tốt cho biết là khuyến khích, phạt một việc xấu, cho biết là trừng trị, dẫu khen thiện, trừ ác, như khí âm sầu thảm, khí dương thư thái, mà cái ý nhân hậu vẫn lưu hành ở trong. Nếu thưởng mà không đúng, phạt mà quá lạm, há chẳng phải như trời đất nóng rét trái thời tiết ư !”.

    Lại ngoảnh bảo Thượng bảo Thiếu khanh là Trương Đăng Quế rằng : “Khởi cư chú ((1) Khởi cư chú : chức quan đi sát nhà vua hằng ngày, ghi chép lời nói cùng việc làm của vua, để sau chép sử.1) là việc làm hay hay dở của ông vua, cất vào kho sách, đến ngày mở sử quán làm sách, phải lấy đấy làm tín sử có thể không cẩn thận chăng ! Còn tài làm sử thì rất khó. Bọn ngươi giữ việc biên chép, nên phải gia tâm”.

    Vua mỗi khi ngoài lúc ra chầu nghe việc tất vời hai ba vị đại thần, giảng bàn các lẽ trong kinh truyện và sự tích xưa nay, cho đến phong tục, sự vật của các nước phương xa, mà người ta chưa từng mắt thấy tai nghe, thường tỏ lời lẽ và nét mặt ôn tồn, bảo ban như cha con trong nhà vậy.

    Bọn Tả Tham tri Lễ bộ là Nguyễn Đăng Tuân dâng sớ cử thự Tri huyện Hà Đông là Hoàng Kim Thảng làm Tư vụ thự Chủ sự ở bộ, Thảng là con Thượng thư Hình bộ Hoàng Kim Xán. Vua cho việc cử này có vẻ riêng tây nên không cho. Dụ rằng : “Từ nay đường quan lục bộ có con hiện đương làm quan, ở trong các bộ không được đề cử lẫn cho nhau”.

    Chuẩn định từ nay ở các địa phương những người vô thừa nhận ở sở Dưỡng tế bị bệnh chết, thì chiếu theo lệ người dân đi đường bị bệnh chết mà cấp cho tiền vải để chôn.

    Trấn Quảng Yên có hơn 300 thuyền đánh cá của nước Thanh đậu lâu ở phần biển Cát Bà. Quan Bắc Thành sai Trấn thủ Nguyễn Văn Đoái đem hơn 20 chiếc binh thuyền thân đến nơi nói bảo họ đi. Lại sai Phó thống thập cơ Tiền quân là Lương Văn Liễu đem 15 chiếc thuyền binh tiến theo để làm thanh ứng. Việc tâu lên, vua dụ : “Thuyền Thanh vài trăm chiếc mà thuyền của ta chỉ có hơn 30 chiếc, nếu hắn cự lại thì lấy gì mà địch. Phái thêm binh thuyền và chở nhiều súng đạn quân nhu đi ứng tiếp. Nếu chúng nghe lời thì thôi, bằng không thì góp sức vào cố đánh dẹp”. Khi [thuyền ta] đã đến thì thuyền đánh cá đều kéo buồm chạy về phía đông. Chợt có Trần Quý (Quý là người Thanh làm nghề đánh cá, năm trước bắt tên giặc biển là Lý Công Đồng giải nộp được thưởng) đem 2 thuyền đánh cá đến quan lạy tố rằng ngoài biển Đồ Sơn có giặc biển là bọn Quệ Lục (dư đảng của Công Đồng) họp đảng cướp bóc, xin tự gọi thuyền đánh cá họp nhau lại để dẹp. Thành thần tâu lên. Vua không cho. Dụ rằng : “Dẹp bắt giặc biển đã có quan quân không thể cho bọn ấy mượn tiếng họp đảng mà đóng ở hải phận hoặc sẽ sinh chuyện lôi thôi. Trần Quý nếu có thể ở ngoài biển hoặc ở bờ cõi nước Thanh, gặp giặc bắt sống đem dâng, sẽ được khen thưởng rất hậu thì chẳng hại gì”.

    Ngày Tân sửu, tế Trời Đất ở đàn Nam Giao. Trước ngày ấy, mưa dầm suốt đêm. Vua ăn chay khấn thầm, giờ dần còn mưa đến lúc lên đàn thì trời quang, mưa tạnh, trăm quan và quân dân, đều vui vẻ cả.

    Trấn thủ Hà Tiên là Mạc Công Du, vì hèn kém bắt về hưu trí. Vua nghĩ ông cha hắn có công nên đặc ân cho mỗi năm được nửa bổng.

    Lấy Trấn thủ Biên Hòa là Nguyễn Hữu Thuyên làm Trấn thủ Hà Tiên, Vệ uý vệ Trang võ là Trần Văn Hựu làm Trấn thủ Biên Hòa.

    Sai Hữu Tham tri Lễ bộ là Phan Huy Thực kiêm quản Quang lộc tự, vì Hồ Hữu Thẩm làm việc ở Vũ Khố mỏi mệt không thể kiêm nhiếp được nên sai Thực thay.

    Sửa chữa Hưng miếu và Thế miếu ((1) Hưng miếu : miếu thờ Hưng tổ Hiếu Khang hoàng đế và Hoàng hậu. Thế miếu : miếu thờ Thế tổ Cao hoàng đế và Hoàng hậu.1). Sai thự Trung quân là Tống Phước Lương, thự Tượng quân Thống chế là Lê Văn Quý chia nhau đốc thúc việc làm.

    Bộ Lại tâu rằng : “Phẩm trật các ty viên ngoài ngạch cùng trong ngạch giống nhau, mà danh sắc hơi khác, người tại chức không khỏi sự phân biệt nọ kia. Xin từ nay thuộc ty sáu bộ nếu có người ngoại ngạch và thặng viên thì đều chiếu chức hàm Hàn lâm viện đối phẩm mà đổi cho vẫn theo bộ làm việc, gặp khuyết thì bổ”. Vua y cho.

    Sai thuỷ quân Thống chế Nguyễn Tài Năng coi chế tạo 11 chiếc thuyền hai hiệu Ba và Lãng. Khởi vét sông Tà Câu ở trấn Phiên An (thuộc huyện Thuận An, từ cửa sông Thủ Đoàn đến Gò Dừa thôn Bình Ảnh, dài 1.220 trượng, rộng 9 trượng, sâu 1 trượng). Đường sông ngoằn ngoèo, thuyền bè đi lại khó khăn, chậm trễ. Năm trước thành thần Gia Định xin khơi đào, rồi vì nhiều việc lại thôi. Đến nay nhân việc làm ruộng đã xong, lại xin. Bèn sai dân Phiên An và Định Tường 16.000 người, mỗi người tháng được cấp tiền 3 quan, gạo một phương, đầy tháng đào xong.

    Vua thấy đường ở sông đã thông, có lợi rất nhiều, đặt tên là sông Lợi Tế. Thưởng Tổng trấn Lê Văn Duyệt và bọn tu thừa biện kỷ lục cùng sa và bạc theo thứ bậc.

    Lấy Tả Tham tri Lại bộ là Lê Đăng Doanh làm thự Thượng thư Lại bộ, lấy thự Hữu Tham tri Binh bộ là Đặng Văn Thiêm làm thự Tả Tham tri Binh bộ, Tả Thị lang Hình bộ là Trương Minh Giảng làm thự Tả Tham tri Hình bộ, Lang trung Nội vụ phủ là Nguyễn Văn Công làm Lang trung Vũ Khố.

    Cho Lê Văn Đức làm Hữu Tham tri Binh bộ, Trần Văn Hoằng làm Thị lang Nội vụ phủ, Lê Nguyên Trung làm Lang trung Hộ bộ, Nguyễn Đình Vũ làm Lang trung Lễ bộ, Nguyễn Văn Điển và Vũ Phan làm Lang trung Binh bộ, Ngô Bá Tuấn và Hà Duy Phiên làm Lang trung Hình bộ, Nguyễn Đỗ làm Lang trung Công bộ, Nguyễn Đức Trinh làm Lang trung Nội vụ phủ. Lấy Tả Thị lang Binh bộ là Nguyễn Đức Nhuận làm thự Hữu Tham tri Binh bộ, Tả Thị lang Hình bộ là Nguyễn Hựu Nghi làm Hữu Tham tri Hình bộ đều vẫn lĩnh việc tào Binh, tào Hình Bắc Thành. Vời thự Hiệp trấn Nam Định là Hoàng Quýnh về Kinh ; lấy Tham hiệp Sơn Nam là Nguyễn Nhược Sơn làm thự Hiệp trấn Nam Định.

    Lấy Lang trung Lễ bộ là Nguyễn Hữu Gia làm thự Hữu Thị lang Hộ bộ lĩnh Hộ tào Bắc Thành, Tham hiệp Sơn Tây là Hoàng Sỹ Quang làm thự Hiệp trấn Quảng Bình, Tham hiệp Ninh Bình là Trần Danh Bưu làm thự Hiệp trấn Quảng Ngãi, Tham hiệp Hải Dương là Nguyễn Văn Mưu làm thự Hiệp trấn Bắc Ninh, Lang trung Công bộ là Lê Nguyên Hy làm Tham hiệp Bắc Ninh, Lang trung Hình bộ là Trần Danh Nho làm Tham hiệp Sơn Tây, Lang trung Hộ bộ là Nguyễn Văn Thắng làm Tham hiệp Ninh Bình, Hàn lâm viện Thừa chỉ là Trương Phước Cương làm thự Tham hiệp Sơn Nam. Bọn Hữu Gia vào bệ từ. Vua dụ rằng : “Bọn ngươi là thiếu niên tân tiến song đều xuất thân bằng nho học nên đoái đến danh mà nghĩ đến nghĩa, lấy thanh bạch mà tự giữ mình được trong sạch, đừng bàn đến chuyện tham tang hối lộ, hoặc có vì vợ con làm luỵ mà không giữ sạch được danh, thì dẫu mặc áo đội mũ cũng là chim muông vậy. Nên cố gắng làm sao để trên không phụ triều đình uỷ thác, dưới không mỏ mất danh tiết của mình mới được. Không thế thì xét người không sáng suốt, cố nhiên trẫm không thể chối được trách nhiệm, mà bọn ngươi cũng còn mặt nào sống ở trên đời !”.

    Sai Phó tổng trấn Bắc Thành là Phan Văn Thuý kén chọn chức Suất đội các quân thuộc thành ai có thể làm được chức trách Phó quản cơ thì khai tên tâu, đưa đến Bộ để yết kiến.

    Sai biền binh các vệ Thị tượng tập bắn súng nhỏ, súng lớn. Thưởng các quan hưu trí sống lâu, tuổi 80, bạc và y phục theo thứ bậc (Thừa Thiên 4 người, Quảng Bình 3 người, Cao Bằng 1 người).

    Nêu thưởng dân thọ 100 tuổi ở các địa phương : Quảng Nam, thọ nam 2 người, thọ phụ 6 người ; Quảng Trị, thọ nam 2 người ; Bình Định, Vĩnh Thanh, Hoài Đức đều thọ nam 1, thọ phụ 1 ; Thừa Thiên thọ phụ 2 ; Phú Yên, Nghệ An, Bình Hòa đều thọ nam 1 ; Quảng Bình, Hải Dương, Sơn Tây, đều thọ phụ 1. Có người huyện Diên Phước, Quảng Nam là Vũ Viết Cường thọ 110 tuổi, bộ Lễ bàn cho là đời người 100 tuổi là hạn. Sống đến 100 tuổi, đã là điềm tốt về người, huống chi lại thêm một giáp ((1) Một giáp : 10 năm.1), lại càng hiếm, xin ngoại lệ cấp thêm 10 lạng bạc. Lại có người huyện Thanh Quan, Nam Định là Nhâm Tuyết Trạch thọ 102 tuổi, ngũ đại đồng đường. Xin châm chước lệ cũ ưu cấp bạc 20 lạng, đoạn 1 tấm, lụa màu 10 tấm, vải 20 tấm, cho biển đề bốn chữ : “Dịch diệp diễn tường” ((2) Dịch diệp diễn tường : đời đời hưởng phước mãi.2), quan làm đình treo biển. Vua đều y cho.

    Định lại lệnh cấm đúc tiền trộm. Vua bảo bộ Hộ rằng : “Nhà nước đúc tiền là để nguồn của dồi dào dân được tiện dụng. Từ trước đến nay số tiền lưu thông ở dân gian, đã thấy đầy đủ. Như nay hai cục Bảo hóa, Bảo tuyền ((3) Bảo hóa, Bảo tuyền : sở đúc tiền ở Kinh và sở đúc tiền ở Bắc Thành.3) ở Kinh và ở ngoài, đã sai thôi đúc, nhưng còn nghĩ bọn hèn mọn hám lợi khỏi sao cái tệ đúc trộm, sẽ đến nỗi tiền mất giá, hàng đắt lên, giá các thứ ngày cao vọt. Nên dụ sai quan Bắc Thành chuyển sức cho phủ huyện các trấn trong hạt nghiêm ngặt dò xét có đồng tiền nào dị dạng mới đúc thì xét cho ra để trừng trị”.

    Đổi cấp ấn quan phòng bằng đồng và kiềm bằng ngà cho các cửa quan bến đò ở Bắc Thành (trước cấp ấn đồng có chữ “Sinh tài hữu đạo” ((4) Sinh tài hữu đạo : làm ra của có phép tắc.4) cùng dấu triện bằng ngà và kiềm bằng gỗ).

    Lấy Vệ uý vệ Dương võ là Nguyễn Văn Ân làm Trấn thủ Quảng Bình, Vệ uý vệ Tuyển phong tả là Nguyễn Quế làm Trấn thủ Bình Hòa. Sai Vệ uý vệ Tiền thuỷ quân là Lê Văn Luận quản lĩnh binh thuyền vận tải của kho Bắc Thành đến Kinh.

    Định lại phép thi Hương, Hội. Trước thi Hương, thi Hội, kỳ tam trường thi thơ phú, quan trường thỉnh thoảng thấy sai vần không hợp mà truất bỏ. Vua dụ bộ Lễ rằng : “Học trò học vần, ghi nhớ rất khó. Có khi tứ thơ khá mà nhỡ có một vần sai thì đã là không hợp cách, cho nên trong khi đặt câu ghép vận, sợ chữ vần chưa chắc ổn thoả, nhân thế mà ý nghĩ mơ hồ, ví thử có tứ thơ hay đấy, cũng không phát triển vào đâu được. Thế thì những người học rộng không khỏi câu nệ vào mực thước ấy, thật không đúng với ý triều đình khen thưởng, cất nhắc nhân tài. Từ nay thi Hội kỳ tam trường, xem vần thơ dùng vần nào thì in số chữ trong vần ấy, chia cấp cho mỗi người một tờ. Đến kỳ thi Hương, vì số người nhiều quá, nên sao ra niêm yết ở biển rằng thể phú, phàm âm vận giống nhau, như chi, vi, ngữ, ngự đều cho thông dụng. Lại từ nay về sau, kỳ thi Hương, thi Hội, học trò ứng thí, phải ở chỗ đề tên trên mặt quyển khai đủ họ tên lý lịch của ông cha từ ba đời, để rõ gốc tích, lấy khoa thi Hội năm nay bắt đầu. Ghi làm lệ”.

    Lễ bộ lại bàn tâu về sự nghi thi Hội năm nay, xin chiếu theo lệ định năm Minh Mệnh thứ 6 [1825] duy về văn lý thì trước chia làm ưu, bình, thứ, liệt, nay xin đổi làm phân số ; văn lý ưu là 10 phân, hoặc 9 phân ; ưu thứ là 8 phân, 7 phân ; bình là 6 phân, 5 phân ; bình thứ là 4 phân, 3 phân ; thứ là 2 phân, 1 phân ; liệt là không đủ 1 phân.

    Các quan ở nội liêm ((1) Nội liêm : tức nội trường các quan chấm thi sơ khảo, phước khảo và giám khảo.1) và các quan thí viện đều theo từng kỳ mà ghi rõ, đợi đủ 4 kỳ đóng lại thành tập. Quan thí viện mới hội đồng cân nhắc, lấy phân số nhiều ít, mà định cao thấp, lấy phân số có hay không để định đỗ hay hỏng. Phàm được 40 phân trở xuống, 10 phân trở lên, mà 4 kỳ đều có phân số thì xếp vào hạng trúng cách. Như văn lý 3 kỳ, cộng được 10 phân trở lên, mà có 1 kỳ không đủ 1 phân, cùng là 4 kỳ, cộng không đủ 10 phân, mà các thể văn làm đủ, cộng được 4 phân trở lên đến 9 phân, thì xếp vào hạng Phó bảng, do quan trường làm danh sách tiến trình, để bổ dụng trước, cho được phân biệt với Cử nhân, Giám sinh không cập cách.

    Vua giao đình thần bàn, đều nói rằng : “Cán cân văn chương là đồ công bằng, đã có quy chế sẵn. Song văn chương trường thi, trong khoảng tấc bóng ngoài hiên, mà cầu văn thể hoàn toàn, thì chưa chắc đã được nhiều, tất phải san sẻ chước lường đều lấy các mặt giỏi không nên đắn đo gò bó quá thì người có học được tỏ rõ ra mà nhân tài có thể không sát. Lời bộ bàn tưởng đã rõ ràng, mà đến kỳ thi thì việc cân nhắc lấy đỗ là cốt ở người có trách nhiệm lựa chọn, giữ được công bằng thôi. Còn Phó bảng, xin làm riêng một bảng treo ở phía bên hữu trước sân Phu Văn lâu ngày hôm sau bỏ đi”. Vua y lời bàn. Lại cho Giám sinh hậu bổ ở các trấn về Kinh thi Hội, cấp cho cả lương tháng.

    Bãi việc đấu giá thuế đầm, chằm, hồ, ao ở các địa phương. Vua bảo bộ Hộ rằng : “Cửa quan bến đò và đầm, chằm, ao, hồ, lệ có đấu giá là trọng thuế của nhà nước, mà ngụ ý trọng việc nông, hạn chế việc buôn. Song cửa quan bến đò vì đánh thuế người buôn, cho đấu giá là phải, còn như đầm, chằm, hồ, ao là nơi cư dân nhờ để sinh sống, mà cho đấu giá thì chỉ tay buôn giàu chiếm được nhờ ở lợi ấy, thật không phải là chia lợi cho dân. Vậy hạ lệnh cho các địa phương, cứ đầm, chằm, hồ, ao trong hạt có quan hệ đến nguồn sống của dân thì tâu lên”. Rồi theo lời đình thần bàn cho dân sở tại lĩnh trưng tất cả là 74 sở (Thừa Thiên 9 sở, Quảng Nam 1, Quảng Trị 5, Quảng Ngãi 2, Bình Định 17, Phú Yên 24, Bình Hòa 12, phủ Hoài Đức Bắc Thành 4).

    Cho người nước Thanh bị nạn là bọn Phó Đại ở Sinh Phù 140 lạng bạc. Sai Phó vệ uý vệ Tiền phong tiền là Nguyễn Đắc Suý và Hàn lâm viện Thừa chỉ Nguyễn Tri Phương ngồi thuyền lớn Bình dương đưa về Quảng Đông. Đắc Suý đi đường chết, truy tặng Vệ uý và cấp cho gia đình 100 lạng bạc.

    Dựng công đường Đê chính ở Bắc Thành (ở cửa Nam trong thành).

    Sai Chưởng cơ Lê Thuận Tĩnh và nguyên thự Hiệp trấn Nam Định là Hoàng Quýnh giúp việc Đê chính Bắc Thành.

    Vua bảo bộ Công rằng : “Việc sông bận nhiều, một mình Lê Đại Cương khó làm xong được. Trước sai Nguyễn Văn Khoa làm Tham biện, lại là tay mới, nên không phái thêm các viên giỏi việc cùng làm thì sợ được việc này hỏng việc kia. Nay mưa xuân bắt đầu việc đê chính là khẩn yếu, dẫu đã có người chuyên trách, nhưng việc nước thì sao”. Bèn sai bọn Thuận Tĩnh đi. Nhân cho Đại Cương 50 lạng bạc, Thuận Tĩnh và Quýnh, Khoa đều 40 lạng.

    Gia Định được mùa, thành thần tâu báo. Vua phê rằng : “Gia Định đồng ruộng rộng rãi, mầu đất béo tốt, nay nhờ ơn trời được mùa lớn, sau khi mà mừng, lòng càng thêm cảm. Thành thần cùng các tào phải thể tất ý trẫm, trước hết trọng nguồn sống của dân, đặt kế hoạch mà khuyên bảo hướng dẫn nhân dân, chớ thấy số thóc cũ chất nhiều mà dễ sinh lòng chán. Phải sắm nhiều thuyền ghe, vận chuyển đi đến nơi gạo kém trong các trấn, thì nơi này, nơi khác đều được lợi khắp, khỏi đến nỗi thóc rẻ hại nhà nông. Lại nên nghiêm sức thế nào cho không được bán trộm ra nước ngoài một hạt nào. Nếu cái tệ ấy không trừ được thì không những năm được mùa, dân đã không được hưởng phước, ví thử có việc biên phòng thì hột gạo không thể có ngay, bọn ngươi khó tránh được lỗi. Nên cố gắng, nên nghiêm cẩn”. Bèn hạ lệnh chiếu số gạo sưu đồn điền, cứ 1 hộc nộp theo 2 hộc, mỗi hộc trả tiền 1 quan. Lại bá cáo khắp thuyền buôn trong hạt thành, có muốn tải gạo đến Kinh, quan sẽ tăng giá mua cho.

    Trấn thần Nghệ An tâu rằng tự trước đến nay, chức Xã trưởng trong trấn hạt, thường tự dân đặt riêng, không báo cho quan biết. Khi làm việc nhất nhất chỉ là do cường hào sai khiến. Binh lương bỏ thiếu, phong tục không thuần, vị tất không bởi ở đó. Xin hạ lệnh cho dân đều chọn những người trong số mà thanh liêm cần cán làm Lý trưởng, từ phủ huyện đến trấn, cấp bằng và triện định 3 năm một khóa. Ai lười biếng thì trị tội, chăm chỉ thì được khen, như thế sẽ không có tệ võ đoán.

    Vua bảo bộ Lại rằng : “Làng có Lý trưởng, lợi hại trong làng quan hệ ở đó, nếu dùng không được người tốt thì sao có thể không tệ. Vả lại điều lệ đặt Lý trưởng ở Bắc Thành trước đã có bàn định nên sao lục gửi cho Nghệ An và Thanh Hoa để nhất luật làm theo”.

    Định lệ xử phân lính trốn ở Bắc Thành. Thành thần tâu rằng : “Số ngạch giản binh ở hạt thành hơn 22.900 người ; các lần bỏ trốn đến hơn 9.500 người, xét nguyên do tệ ấy là có xã dân, lấy cớ dân xiêu dạt chưa về hết không chịu điền. Có hương hào lý trưởng mạo tên để sung điền cho tắc trách. Có trấn, phủ, huyện, tổng, sai đòi không hết lực, có quản suất thư lại sách nhiễu nhiều cách, có binh lính không quen khó nhọc, điền vào lại trốn ngay. Xin từ nay, binh lính thiếu ở dân thì trách nhiệm các phủ, huyện, tổng, Lý trưởng, trốn ở đội ngũ thì trách nhiệm ở Suất đội, Suất thập và Thư lại, cứ theo số mà định tội, cho biết khuyên răn”.

    Vua sai bộ Binh bàn. Xin từ mồng 1 tháng giêng năm nay về sau phàm lính trốn từ trước, thì sở tại tục điền, đến cuối năm còn thiếu, thì cứ số thiếu nhiều ít, mà phân biệt xét xử, lấy đấy làm lệ xét thành tích bắt lính. Các trấn, phủ, huyện thì đều lấy 10 phần làm suất, thiếu 3 phần trở lên, thì phạt 40 roi, mỗi 2 phần lại gia 1 bậc, tội đến 80 trượng là cùng, chiếu lệ giáng hay phạt. Từ năm nay về sau, như có trốn thiếu thì chiếu lệ ấy mà làm. Ai có thể trong năm bắt sung đủ thì khen thưởng. Các viên Quản suất, trong năm binh lính bỏ trốn mỗi thập trốn 3 người, thì Suất thập bị phạt 30 roi, cứ mỗi 2 người lại gia một bậc ; mỗi đội trốn đến 10 người, thì Suất đội bị phạt 30 roi, cứ mỗi 2 người lại gia một bậc ; mỗi cơ trốn đến 80 người, thì Chánh phó quản cơ bị phạt 30 roi, cứ mỗi 40 người, lại gia một bậc, đều tội đến 90 trượng là cùng, Suất đội trở lên thì chiếu lệ giáng hay phạt, Suất thập thì đánh đòn thực. Đến như lính trốn mà có ra thú, cùng lính mới điền vào lại trốn thì cho giảm tội. Nếu có nhiễu tệ thì trị tội nặng. Vua theo lời bàn.

    Viên bị cách là Trần Nhật Vĩnh, trước vì dâm ô, tham nhũng bị dân Gia Định tố cáo đến hơn 30 khoản. Giao cho thành thần xét rõ ràng để tâu lên. Đến nay án đệ lên bộ Hình bàn lại, xin chém ngay.

    Vua bảo bầy tôi rằng : “Tội Vĩnh nặng quá pháp luật, xử chết cũng chưa đủ tội. Đáng lý giao về thành mà chém để tạ nhân dân. Nhưng vì đường xa cách trở, hoặc xảy ra việc gì, nên chém ngay ở nơi Đông thị ((1) Đông thị : chợ Đông ở Kinh đô.1), rồi đưa đầu đến Gia Định để bêu. Hữu ty tịch biên nhà hắn được hơn 128.000 quan. Trấn thủ Phiên An là Phạm Văn Châu, nguyên Cai bạ là Nguyễn Bá Uông, Thiêm sự quyền nhiếp Hiệp trấn là Ngô Đức Chính, đều vì liên can bị cách chức.
  • Chia sẻ trang này