0059.084 - @ nhani78 (Done WK)

25/12/15
0059.084 - @ nhani78 (Done WK)
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN LVIII

    THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ



    Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10 [1829], mùa xuân, tháng 3, ngày Bính thân, tiết Thanh minh.

    Vua rước từ giá ((1) Từ giá : xe của mẹ vua.1) đến lăng Thiên Thụ, làm lễ yết. Chợt biền binh vây được một con hổ đang nuôi con ở phía trước núi, báo lên. Vua đi xem. Hổ thương con, cứ ở trong rừng nhìn đăm đăm, không ai dám đụng đến. Vua dùng súng bắn hổ, bắn một phát, chết ngay. Các hổ con đều bị bắt cả. Bèn sai rước giá về cung. Thưởng cho biền binh 50 lạng bạc, 600 quan tiền.

    Thi Hội, sai Thượng thư Hình bộ là Hoàng Kim Xán sung Chủ khảo, thự Thượng thư Lại bộ là Lê Đăng Doanh sung chức Phó chủ khảo, Tả Tham tri Lễ bộ là Nguyễn Đăng Tuân, Hữu Tham tri Binh bộ là Lê Văn Đức sung Tri cống cử. Lấy trúng cách 9 người là Trần Huy Phác, Nguyễn Đăng Huân, Phạm Quỹ, Phạm Thế Trung, Trương Quốc Dụng, Ngô Thế Vinh, Nguyễn Trữ, Phạm Thế Hiển, Bùi Ngọc Quỹ, Phó bảng 5 người là Phạm Văn Hợp, Dương Đăng Dụng, Phan Văn Nhã, Nguyễn Ngọc Thường, Trần Ngọc Giao, thi Hội có Phó bảng bắt đầu từ đấy. Làm duyệt tuyển ở Thừa Thiên và các trấn Quảng Nam, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Ngãi, sai bọn Phó thống chế quân Thần sách là Đoàn Văn Trường, Tả Tham tri Binh bộ là Bùi Đức Minh, Trấn thủ Bình Định là Trương Văn Chính, thự Tả Tham tri Hình bộ là Trương Minh Giảng, Vệ uý là Nguyễn Lương Huy, thự Phủ doãn Thừa Thiên là Đặng Đức Thiệm, Vệ uý là Tạ Quang Cự, Hữu Thị lang Công bộ là Hà Quyền, Vệ uý là Nguyễn Khả Bằng, thự Hiệp trấn Quảng Nam là Phan Huy Chú, chia đi các nơi.

    Rồi bọn tuyển quan ở Quảng Bình là bọn Nguyễn Lương Huy, Đặng Đức Thiệm xét tâu rằng : “Những con các viên trước được chỉ sai, chỉ truyền và công đồng sai phó ((1) Chỉ sai : có chỉ của vua sai.
    Chỉ truyền : có chỉ của vua truyền khẩn.
    Công đồng sai phó : các đình thần công đồng sai phái.1) xin đều cho hoàn tráng”.

    Vua bảo bộ Hộ rằng : “Con đẻ của các viên ấy, năm trước chuẩn y lời bàn của đình thần và của bộ cho đem vào hạng quan viên tử, là vì lúc mới dựng nước có gia ân điển, nên chưa nỡ giảm bỏ. Nay đã sửa sang quy chế bình thường, xếp đặt quan chế, phàm ai liệt vào hàng quan thì phải có chiếu sắc làm bằng chứng. Những quan bậc ấy thì bằng sắc đã thu tiêu rồi, nếu lại vin vào đấy mà gia ân cho tập ấm thì lâu ngày dấu tích đã mất, chẳng khỏi cái tệ giả mạo. Vậy định lại rằng phàm là con công thần Vọng Các, và hiện có danh sách từ năm Minh Mệnh thứ 9 [1828] trở về trước thì vẫn cho vào hạng quan viên tử ; còn các chức quan khác mà không có sắc chiếu, thì con đều không được dự, như thế đã thận trọng danh vị và ngăn chặn sự cầu cạnh và dối trá”.

    Đến khi tổng danh sách dâng lên, thì đinh số Quảng Nam hơn lên 12 phần, Quảng Ngãi hơn lên 8 phần, tuyển quan và trấn quan đều được nghị thưởng.

    Cho Phạm Hữu Tâm làm Phó quản cơ thự Phó vệ uý vệ Lạc dũng.

    Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt tâu rằng sáu phòng thành tào, và trấn Hà Tiên, nha lại ít mà việc thì nhiều, xin trích lính ở các cơ An thuận, Hồi lương ai biết viết tính thì sung bổ vào chức Vị nhập lưu thư lại, xoá tên trong sổ lính. Vua nói : “Bọn ấy nguyên là người can phạm không tốt, nếu lại sai họ làm việc đao bút ((2) Đao bút : người làm lại đời xưa, có việc gì thì chép vào quyển sách bằng trúc, nếu lầm, lấy dao cắt đi, nên gọi là đao bút.2) thì chẳng hóa ra dạy vượn trèo cây à !”. Không cho.

    Thự Thượng thư Binh bộ là Nguyễn Khoa Hào chết. Truy tặng Thượng thư Binh bộ, cho 400 quan tiền, 3 cây gấm Tống. Hữu Thị lang Binh bộ Biện lý Binh tào thành Gia Định là Nguyễn Công Tiệp chết. Tặng Tham tri Binh bộ.

    Bồi đắp bờ sông ở cửa Văn Miếu. Phía trước cửa miếu, gần sát sông, thường bị nước xói lở. Sai thự Thống chế Lê Văn Quý và Nguyễn Văn Quế đốc thúc biền binh 4.000 người đổ đất đắp lấp cho theo hình bán nguyệt, xây đá làm bậc để ngăn giữ. Lại dựng giải vũ ở Văn Miếu và nhà Di Luân, nhà giảng đường, cùng học xá tả hữu ở Quốc tử giám.

    Đổi đúc đĩnh bạc 1 lạng ban đưa cho các địa phương. Vua bảo bộ Hộ: “Đời Gia Long cùng năm Minh Mệnh, đúc bạc công mỗi đĩnh 1 lạng, lần lượt ban hành. Nhưng thể chất hơi dày, bọn gian xảo thường hay theo đó mà giả mạo. Nay đổi đúc theo thức mới, phân tấc bề dài bề ngang, cho vừa vặn, có thể thông hành lâu dài. Phát cấp cho Gia Định, Bắc Thành mỗi thành 30 đĩnh, Thừa Thiên và các trấn đạo khác đều 10 đĩnh, để làm mẫu mà so nghiệm. Còn thức cũ thì thôi không đúc nữa”.

    Triệu Hữu Thị lang Hình bộ, Biện lý Hình tào Bắc Thành là Ngô Bá Nhân
    mvề Kinh.

    Bắt đầu đặt chức Tri châu, châu Hướng Hóa, đạo Cam Lộ. Lấy Tri bạ Quảng Trị lĩnh Hiệp thú Cam Lộ là Lê Đăng Khiêm làm chức ấy. Trước châu Hướng Hóa mới đặt, vua muốn đặt Tri châu, sai trấn thần chọn người hợp với nơi ấy. Trấn thần cho Đăng Khiêm là người phường Quất Xá đạo Cam Lộ hiểu tình hình người man, tâu xin điều bổ. Vua y cho. Sai chế cấp cho ấn đồ ký bằng đồng và kiềm bằng gỗ.

    Bắt đầu định lễ nhạc nghi thức tế Giao. Lễ bộ bàn tâu cho rằng : “Việc tế tự Giao đàn là việc rất lớn, cho nên các vua đời xưa, nhân trời cao thì thờ trời, nhân đất thấp, thờ đất, ở nơi thấp, sự tôn trọng báo đáp rất mực kính thành, không cầu văn vẻ. Từ Tam đại về sau, tuy tế riêng, tế chung, các đời khác nhau, nhưng cốt yếu là nghiêm túc, đem lòng thành kính đối với thần minh ; mà vẫn không ngoài ý nghĩa báo đáp từ gốc, nhớ lại từ đầu. Nước Việt ta đời Trần Lê về trước, ý nghĩa việc tế Giao còn sơ lược nhiều. Kính nghĩ Thế tổ Cao hoàng đế ((1) Thế tổ Cao hoàng đế : Gia Long.1) võ công đã định, pháp chế mở mang, dựng lên đàn Giao để hợp tế Trời Đất, rước đấng Thái tổ ((2) Thái tổ : Thái tổ Gia dụ Hoàng đế, tức Nguyễn Hoàng.2) phối tự, nghi điển đời thái bình, rực rỡ trên sử sách. Nay Hoàng thượng ta rạng thêm mưu mô đời trước, tỏ rõ lòng hiếu của thánh nhân, năm Minh Mệnh thứ 3, rước đấng Thế tổ thăng phối, nghi thức thờ tự, nhất thiết theo như phối vị của Thái tổ, cho thỏa sự báo đáp, tỏ lòng tinh thành, thật là mối ý đời Thành Chu phối tự Hậu Tắc và Văn vương. Duy từ trước đến nay, các đồ tế tự và điển tế tự, vẫn chưa chép thành sách vở. Đến như các thức ngọc, lụa, các đồ bằng sành bằng bầu, cùng là chuông khánh và hàng múa phải nên bày đủ, khúc nhạc và nghi thức phải nên soạn định, tất phải một phen tham khảo bắt chước đời xưa mà làm, để cho giữ được đại ý của lễ nhạc”.

    Lời bàn dâng lên, vua sai đình thần xét lại tâu lên, chuẩn định thi hành.

    A. Đồ thờ :

    1. Bích ngọc : Chọn lấy trong kho ngọc xanh và ngọc vàng đều một cục do sở Nội tạo theo thức mài giũa thành khí, cất ở Nội vụ, (theo Chu quan thì ngọc bích sắc xanh để lễ trời, ngọc tông sắc vàng để lễ đất, bích hình tròn, tượng trời, tông hình vuông, tượng đất), hằng năm làm lễ thì bày ra, lễ xong lại cất đi.

    2. Nậm chén rượu [tôn tước] từ trước, ở đàn tròn : đài chén vàng 12 cái, nậm vàng 4 cái. Ở đàn vuông, đài chén bạc 24 cái, nậm bạc 8 cái ; 12 đài chén vàng đổi dùng quả bầu (theo Lễ ký, đồ dùng bằng chất sành và quả bầu, là để tượng tính chất của Trời Đất), chén có hai cái trụ chỗ rót và chân đều theo thức cũ làm bằng vàng và vẫn đặt lên bộ đài vàng ; 24 chén bạc, thì đổi dùng đồ sứ pháp lam, đều theo thức cũ lót bạc bên trong, và đặt lên đài bạc ; 12 chiếc nậm vàng bạc thì cũng y theo thức cũ mà đổi dùng đồ sứ, duy cái đầu mũi của tôn thì làm hình đầu thú, bốn cái nậm ở Viên đàn thì bịt vàng, 8 cái ở Phương đàn thì bịt bạc. Lại các chén và nậm bằng sứ ở vị thờ Trời thì dùng sắc xanh, ở vị thờ Đất thì dùng sắc vàng, ở phối vị tả hữu và các vị tòng tự tả nhất, hữu nhất, tả nhị, tả tam, tả tứ, tất cả 5 án đều sắc xanh ; hữu nhị, hữu tam, hữu tứ tất cả 3 án đều sắc vàng. Các đồ thờ chế trước như thìa bằng vàng bạc, bát nước bằng sứ thì cứ bày đặt như cũ. Lại chế thêm đồ sứ ở Viên đàn nậm to bằng sứ, (theo Chu quan thì thái tôn là nậm đời thái cổ bằng sành), thứ xanh 3 chiếc, thứ vàng 1 chiếc, đựng nước lã, bày mà không rót.

    3. Đăng ((1) Đăng : đồ thờ bằng sành để đựng thức ăn, có nắp và chân cao.1) và hình ((2) Hình : đồ thờ, tức thố đựng rau đựng canh.2) mỗi thứ 12 cái đều bằng sứ. Ở Viên đàn 4 cái đăng, xanh 3, vàng 1 ; ở Phương đàn 8 cái đăng, xanh 5, vàng 3, 12 cái hình, xanh vàng đều 6 cái.

    4. Quỹ và phủ ((3) Quỹ và phủ : đồ thờ, dùng để đựng ngũ cốc, có nắp.3) mỗi thứ 12 cái bằng sứ, phủ hình vuông, quỹ hình tròn.

    5. Biên ((4) Biên : đồ thờ, như mâm bồng đựng quả phẩm đan bằng tre.4) và đậu ((5) Đậu : đồ thờ để đựng thịt, có nắp.5), chính vị phối vị 4 án mỗi án đều 12 cái ; vị tòng tự tả nhất, hữu nhất 2 án, mỗi án đều 10 cái ; tả nhị, tả tam, tả tứ, hữu nhị, hữu tam, hữu tứ 6 án, mỗi án đều 8 cái. Đều là biên thì dùng tre, đậu thì dùng đồ sứ, biên thì đựng bánh trái.

    6. Đẳng, bàn, đậu thì đựng dưa muối, y theo lệ trước mà bày, duy các án thì ngoài cái bàn thứ ba, lại đặt cái bàn thứ 4 để bày các thứ đăng, hình, phủ, quỹ và mâm xôi.

    Lại trước cái đẳng chấp sự ở hai bên tả hữu chính vị, làm thêm 2 cái đẳng gỗ để dỏ bày lụa. Phối vị tả hữu trước dùng tán tròn sắc vàng, quần bàn sắc đỏ, nay đều theo sắc trời đổi dùng mầu xanh. Bàn ẩm phước, cùng hương án trong ngoài và cái đẳng chấp sự tán tròn và quần bàn trước dùng các màu vàng, đỏ cũng đổi dùng màu xanh. Các án tòng vị, và đẳng chấp sự, tán tròn và quần bàn trước dùng sắc đỏ, chiếu đàn tế Trời thì dùng sắc xanh, đàn tế Đất thì dùng sắc vàng.

    B. Lễ phẩm :

    1. Lụa thờ, chia làm ba hạng, hạng nhất dài 9 thước ; hạng nhì 7 thước ; hạng ba 5 thước.

    Vị thờ Trời, dùng lụa màu xanh 12 mảnh, vị thờ Đất dùng lụa màu vàng một mảnh, các phối tự tả hữu, lụa màu trắng đều 1 mảnh, đều dùng lụa hạng nhất, các vị tòng tự : vị Đại minh, lụa màu đỏ 1 mảnh ; vị Dạ minh, lụa màu trắng 1 mảnh đều dùng lụa hạng nhì ; vị Chu thiên tinh tú, lụa 11 mảnh màu xanh, đỏ, vàng, đen đều 1 mảnh và màu trắng 7 mảnh ; vị Vân Vũ Phong Lôi, lụa 4 mảnh màu xanh, trắng, đen, vàng đều 1 mảnh ; vị Thái Tuế Nguyệt tướng, lụa màu trắng 13 mảnh, vị Sơn, Hải, Giang, Trạch, lụa màu trắng 4 mảnh ; lại vị Sơn thần ở các núi Triệu Tường, Khải Vận, Hưng Nghiệp, Thiên Thụ, đều lụa màu trắng một mảnh ; vị thần Khâu, Lăng, Phần, Diễn, lụa màu trắng 4 mảnh ; vị Thiên hạ thần kỳ, lụa màu trằng một mảnh, đều dùng lụa hạng ba. Đựng vào hộp đan, mỗi án 1 hộp.

    Ở chính vị thì gọi là “Giao tự chế bạch”, ở phối vị gọi là “Phụng tiên chế bạch”, ở tòng vị gọi là “Trị thần chế bạch” đều viết bằng mực ở đầu tấm lụa.

    2. Tam sinh, theo lệ cũ chăn nuôi 3 tháng, cấp thêm 18 cái lọng đỏ, thừng gai đỏ 18 sợi, bắt dân phu Thừa Thiên thường ngày đem trâu, dê ra tắm rửa. Trước một ngày sai hoàng tử tước công mặc triều phục đốc đồng quan Lễ bộ và quan phủ Thừa Thiên đến sở Thần trù xem xét, đến lúc làm thịt lấy nước luộc lòng trâu làm thái canh đựng vào cái đăng ; dùng lòng và thịt dê, lợn mỗi thứ 6 miếng làm hòa canh, đựng vào cái hình.

    3. Xôi. ở trên đàn 4 án, 20 mâm xôi, gạo nếp 60 thăng, phủ 12 cái, gạo nếp 6 thăng, quỹ 12 cái, gạo tẻ 4 thăng đều dùng gạo tịch điền. Ở Phương đàn 8 án, 40 mâm xôi, gạo nếp 120 thăng, dùng gạo Bắc Thành.

    4. Quả phẩm. Do ty Lý thiện chọn mua, thứ tươi tốt đựng vào biên và đậu.

    5. Đèn đuốc. Theo y lệ cũ.

    C. Â m nhạc

    1. Bài nhạc. Từ khi đốt củi, đến lúc đốt văn tế, tất cả 9 lần tấu nhạc : đốt củi thì tấu bài “Hiển thành”, đốt hương thì tấu bài “Cảnh thành”, nghinh thần thì tấu bài “An thành”, dâng ngọc lụa thì tấu bài “Gia thành”, tuần rượu đầu thì tấu bài “Mỹ thành”, tuần thứ nhì thì tấu bài “Thuỵ thành”, tuần sau cùng thì tấu bài “Vĩnh thành”, tiễn thần thì tấu bài “Tuy thành”, đốt văn tế thì tấu bài “Hựu thành”. Vua về cung thì tấu “Khánh thành”.

    2. Đồ nhạc. Chuông lớn, khánh lớn đều một cái ; chuông nhỏ, khánh nhỏ đều 12 cái, chuông dùng đồng, khánh dùng đá ; chuông lớn, khánh lớn mỗi án treo một giá, chuông nhỏ, khánh nhỏ cùng treo một giá. Chuông lớn, khánh lớn bày dưới hàng chuông trống lớn ; chuông nhỏ, khánh nhỏ bày hàng dưới nữa, rồi đến trống kèn đại nhạc. Sáu người thự Hòa Thanh mặc áo đủ mũ sung giữ việc đánh chuông, đánh khánh. Làm lễ thì theo nghi chú cũ, khởi chuông trống là một tiết riêng. Rồi đến khi tấu nhạc, mỗi bản nhạc, thì bắt đầu đánh ba tiếng chuông lớn, cử nhạc rồi, thì lấy chuông nhỏ, khánh nhỏ hòa với đàn sáo, cuối cùng đánh 3 tiếng lớn. Các tiết dẫn lên, dẫn xuống, vẫn dùng đại nhạc.

    3. Múa nhạc. Thự Thanh Bình sung làm vũ sư : văn võ đều 2 người, vũ sinh văn võ 64 người, văn múa thì vũ sư 2 người cầm cờ tiết, vũ sinh 64 người, bên tả cầm ống sáo, bên hữu cầm cờ vũ ; võ múa thì vũ sư 2 người cầm cờ tinh, vũ sinh 64 người, bên tả cầm mộc bên hữu cầm búa ; đều áo mũ sẵn sàng chia đứng về phía nam cấp thứ ba, đông, tây cùng hướng lại nhau. Tuần rượu lễ đầu, người giữ chuông đánh 3 tiếng chuông lớn, âm nhạc cử lên ; vũ sư ở đông, tây, đều giơ cờ tinh lên dẫn vũ sinh tới trên thềm, chia ra tả hữu đứng sau hàng ca công, đều ngảnh mặt về phía bắc, dàn làm 8 hàng, đều theo hàng múa mộc và búa. Ca công tấu bản nhạc xong thì người giữ khánh đánh 3 tiếng khánh lớn, vũ sư dẫn vũ sinh lui về chỗ cũ. Tuần rượu lễ thứ nhì, vũ sư ở đông, tây đều giơ cờ tiết lên dẫn vũ sinh tới hàng, múa ống sáo và cờ vũ, tiết thứ cũng như tuần rượu đầu. Tuần rượu sau cùng, cũng múa như tuần thứ nhì, rồi đều lui đứng chỗ cũ.

    D. Nghi chú :

    Hằng năm mồng 9 tháng giêng, Khâm thiên giám dự chọn 3 ngày tốt vào trung tuần tháng 2 dâng trình ngày được khuyên đỏ là quẻ thứ nhất ; chấm đỏ là quẻ thứ nhì, không được khuyên chấm là quẻ thứ ba. Ngày 11 quan Khâm mạng bói ngày tế Giao, bắt đầu gieo keo quẻ thứ nhất, nếu chưa được tốt thì gieo lại quẻ thứ hai, nếu lại chưa được tốt thì mới gieo đến quẻ thứ ba. Nếu 3 quẻ đều không tốt thì dùng ngay quẻ thứ nhất.

    Đến ngày hành lễ, nhạc tấu 9 bài. Khi ngự giá về cung thì phái thêm đội Thanh bình thự 8 người ca công, cùng 8 người nhạc công thự Thanh bình, chia làm hai ban đông, tây dẫn đi trước, ca, nhạc đều tấu. (Còn các tiết khác thì cũng như nghi thức cũ).

    Đắp đê vệ nông ở hai xã Vĩnh Xương và Thủ Lễ hạt Thừa Thiên (xã Vĩnh Xương thuộc huyện Hương Trà, Thủ Lễ thuộc huyện Quảng Điền), tha dao dịch cho binh dân sở tại để cố gắng mà làm.

    Quan Bắc Thành tâu rằng : “Các viên dịch thuộc thành có chức Văn hàn ở Tiền quân và người làm sổ sách ở thương khố danh sắc phức tạp, xin bãi cả cho về dân”. Vua nghe theo.

    Thự Vệ uý vệ Hữu nhất quân Vũ lâm là Trần Văn Tứ, tuổi ngoài 70, xin về hưu. Vua cho là sức còn khoẻ, không cho về.

    Bắt đầu đặt thủ Bình Xuyên ở Hà Tiên. Lấy Ân kỵ uý là Nguyễn Văn Hội làm Thủ ngự. Nguyên trước Quản thủ Long Xuyên là Lê Văn Hợp bị ốm, thành thần xin cho Hội thay.

    Vua bảo bộ Binh rằng : “Từ trước đặt chức Quản thủ là do việc tòng quyền, so với quan chế mới định thì không có chức hàm ấy. Huống chi Long Xuyên đã có Tri huyện và Huyện thừa, chính sự cái gì cũng thuộc vào cả, còn phải có đặt quan thủ làm gì. Nên hạ lệnh cho thành thần trù nghĩ mà tâu lên”. Thành thần tâu rằng : “Long Xuyên cách xa Hà Tiên có kho thóc công chứa chất ở đấy, đất ấy thực là quan trọng, xin đặt thêm thủ sở, định lại quan danh cho có thể chuyên trách việc tuần phòng”. Bèn có mệnh lệnh ấy. Lại sai đổi chức án thủ 2 tấn Lãng Điền và Ngàn Phố ở Nghệ An, làm chức Thủ ngự, đổi chức Quản thủ ấm tuần ở Quảng Bình làm chức Thủ ngự tấn Quảng Tuần cho hợp với quan chế.

    Cấp lương tháng cho thư lại 6 cơ Tĩnh man ở Quảng Ngãi, 6 cơ có 1 Chánh cửu phẩm thư lại, 36 đội, mỗi đội có một Tòng cửu phẩm thư lại, hằng tháng, mỗi người tiền 1 quan, gạo 1 phương.

    Hai châu Vân Đồn và Vạn Ninh thuộc Quảng Yên gạo kém, dân có sắc đói. Vua dụ cho đem bán thóc ở kho 3.000 hộc, giảm giá thóc định mỗi hộc 4 đồng cân bạc. Quan Bắc Thành cho là 2 châu ấy không có bạc trung bình, tư về bộ tâu lên. Vua nói : “Muốn cứu nguy cho dân mà lại đòi lấy cái dân không có, có phải là ý thương xót của trẫm đâu !”. Sai lấy bạc địa phương định giá mà bán thóc cho dân. Hơn tháng, sắc hỏi tình trạng gần đây của dân. Thành thần tâu : “Sáu châu huyện ở Quảng Yên phần nhiều là rừng biển, ruộng lúa không có mấy, nhân dân chỉ nhờ buôn bán để sống, mà Vân Đồn, Vạn Ninh thì bốn bề đều là biển, lại không như các châu huyện khác gần với đường bộ, nếu việc buôn bán hơi bị ngăn trở một chút thì dẫu được mùa cũng không khỏi gieo neo. Gần đây vì thuyền đánh cá người Thanh làm trở ngại, giá gạo vọt cao. Từ khi nhờ ơn phát bán số thóc kho, dân đã đều được khởi sắc. Song nghĩ ơn trời không dám xin luôn, chỉ sợ lương thực của dân khó tiếp tế được”. Sớ vào, vua phê bảo : “Vùng biển yên lặng, ai cấm buôn bán mà lại nói như thế, có ngụ ý gì chăng”.

    Lấy Quản cơ cơ Hậu kiên Tả quân là Nguyễn Văn Tạo làm Phó thống thập cơ Kiên nhuệ thuộc Tả quân.

    Khởi phục Hoàng Kim Hoán làm Hiệp thủ đạo Cam Lộ.

    Nước Thuỷ Xá sai sứ đến thông khoản. Trước là năm Minh Mệnh thứ 2, Quốc trưởng Ma ất sai sứ tới thành Phước Sơn trấn Phú Yên xin cống. Ma ất chết, việc không thành. Năm thứ 4 em là Ma Mỗ lên thay, lại sai sứ xin cống. Rồi Ma Mỗ chết, việc lại không thành. Em Ma Mỗ là Ma Lam nối, từng muốn cầu thông hiếu, mà không có người sai đi sứ được. Đến bấy giờ, vua thấy nước ấy đã lâu không đến cống, sai trấn thần uỷ người dò thăm tình trạng, và ghi rõ bờ cõi, núi sông chính sự, phong tục để dâng lên. Rồi phái bọn Đội trưởng thuộc trấn là Nguyễn Văn Quyền đi tự Phước Sơn, qua 6 ngày đến nước ấy.

    Ma Lam thấy Quyền đến rất mừng, và trình bày tình trạng, bèn sai thuộc hạ là bọn Ma Diên, Ma Xuân đem sản vật địa phương (1 cái ngà voi), theo Quyền đến xin thông chức cống. Trấn thần tâu lên. Vua sai thưởng cấp bạc lụa và quần áo (thưởng cho Quốc trưởng nhiễu màu hồng màu lam đều 1 tấm, sa nam 20 tấm, cho Ma Diên, Ma Xuân khăn nhiễu màu bảo lam, áo sa, quần triều đều 1, bạc đều 10 lạng). Ban yến để uý lạo rồi cho về.

    Lại sai hỏi sứ giả rằng : “Thủy Xá, Hỏa Xá vốn là một nước hay hai nước” ? Sứ giả đáp rằng “nước mình là Hỏa Xá, Quốc trưởng xưng là Hỏa vương, không từng nghe có Thủy Xá, tên Thủy Xá là tự sứ trước phiên dịch lầm”. Từ đấy nước ấy đến cống, xưng là Hỏa Xá.

    (Giới hạn Hỏa Xá : đông giáp thuộc man Phú Yên, tây giáp nước Lèo, nam giáp thuộc man Bình Hòa, bắc giáp thuộc man Bình Định ; nước ấy không biết văn tự, có truyền báo chỉ lấy móc câu bằng thau chuyển đệ làm tin. Thuế lệ thì hoặc nộp vải hoặc nộp dao, không có định ngạch. Chỗ ở không có thành quách, voi ngựa cũng ít. ở giữa có một cái nhà sàn, Quốc trưởng ngồi giường bằng tre, mặc áo màu vàng thêu đầy hoa, đội khăn nhiễu màu xanh, mặc quần vải trắng ; bên tả hai cái nhà sàn thờ cúng thần kỳ. Khi Quốc trưởng ở thường, sai khiến làm việc, chỉ dùng người thân, không có binh giáp ; khi nước có việc thì họp dân làm binh, mang dao, vác nỏ, không việc thì giải tán về ruộng làng. Trị nước không có pháp luật hình phạt. Phàm thuộc man trái lệnh thì Quốc trưởng trù ếm cho dịch lệ và hỏa tai rất ứng nghiệm, cho nên dân man sợ như thần, dân có thịt rượu dâng Quốc trưởng thì đánh chiêng đánh trống, tay múa, chân nhảy làm lễ thờ vua. Phong tục tin ma quỷ, có đau ốm thì chỉ biết cầu đảo mà thôi. Tính quen nắng, giỏi bắn cung, dân cư nhiều mà gạo thì ít, khai khẩn núi rừng, chỉ trồng khoai, ngô, bông sợi, dưa bí để đổi chác cho người buôn).

    Trấn thần Thanh Hoa tâu rằng : “Nguyên miếu và Hành cung ở trấn, hằng năm các tiết Chính đán, Đoan dương mồng một, ngày rằm và các lễ tiết khác, thì binh đội Uy chấn thuộc trấn đeo gươm đứng hầu ở hai ban tả hữu, quân dung cần phải chỉnh đốn, xin chi tiền kho để sắm sửa mũ chiến màu đen 20 cái áo bằng vũ đoạn (nỉ), màu quan lục 20 cái, giáp quần 20 cái và hia, tất, từ sau khi gặp các lễ tiết ấy thì giao đội binh ấy mang mặc.

    Vua theo lời xin, lại cấp tiền lương tháng cho binh 4 đội Uy chấn (Lệ trước mỗi tháng chỉ cấp gạo 1 phương, nay cấp thêm 1 quan tiền).

    Xiêm La sai sứ là Sá A Nô Lạc Phu Thôn đến tạ việc giao hiếu. Khi sứ đến Gia Định, thành thần đem bản thảo quốc thư phi đệ tâu trước. Vua bảo bầy tôi rằng : “Khi trước triều đình sai sứ sang Xiêm, chính vì việc khu xử nước Vạn Tượng và việc hỏi rõ chuyện dung túng tướng biền vượt địa giới làm càn. Nay sứ đến trong thư trình bày đều che lỗi, chỉ dùng lời nhún lễ khuất để vui lòng ta thôi, nhưng họ đã dựa đó để thông hiếu, nếu ta nghiêm cự thời là đối với người không được rộng rãi”. Bèn dụ thành thần phái người đưa sứ giả đến Kinh. Khi sứ đến, sai Lễ bộ đem việc trước hỏi vặn ; sứ giả chỉ dùng lời nhún để đáp. Đến lúc về, vua cho yết kiến và yên ủi, phủ dụ, nhân yêu cầu ba việc là : “A Nỗ nay đã bị bắt, chính nên chọn người giỏi để giữ nước, tuy là nước nhỏ, cũng có đất đai nhân dân, há có thể bỏ không đặt Quân trưởng. Nên kíp tính liệu đi. ấy là một việc. Chung Vi Sây Xú Pha Họa Di trước đã thiện tiện giết người hành nhân ở Nghệ An, việc làm bội nghịch. Nên hỏi rõ nguyên uỷ, sai người giải giao để nước ta trị tội, khiến cho quan dân hai nước đều biết rằng gây bậy chuyện ở biên giới là không thể tha thứ, như thế thì sau này mới biết răn mà giữ vô sự. ấy là hai việc. Mùa đông năm ngoái, thiên tướng nước Xiêm là Sủng Sam Giả thiện tiện đến quấy nhiễu thổ ty Cam Lộ, tội tuy nhỏ, cũng phải trừng trị, để dứt mối thù hằn, ấy là ba việc. Ngươi về nói với Phật vương, như muốn tình nghĩa láng giềng được lâu dài thì ba việc ấy nên kíp liệu làm sớm đi. Ta sở dĩ sai sứ thần bày tỏ cặn kẽ là vì nghĩ đến giao tình bạn đã ba bốn đời, và mong cho vua nước ngươi tỉnh ngộ thôi. Nếu cứ hồi hộ như thế thì sợ khó giữ trọn hòa hiếu. Đến lúc ấy chớ có bảo là ta đối với nước láng giềng không tử tế”.

    Lại nói : “Trẫm xem thế nước Xiêm chưa được bền vững mười phần, nên vẫn lo hộ. Vậy gửi lời nhắn bảo Phật vương nên phòng bị thắt buộc ((1) Thắt buộc trước khi mưa : Kinh Thi có câu : “Đãi thiên chi vị âm vũ, trù mâu hộ dũ”, nghĩa là : “Trước khi trời mưa, lợp nhà, sửa cửa”.1) trước khi mưa để cho phước nước được lâu dài. Ấy là lời nói ân cần của trẫm, chớ bỏ qua”. Sứ giả lạy tạ.

    Xây các lầu cửa Chính nam, Đông nam, Chính tây, Tây nam, Quảng Đức, Thể Nguyên ở Kinh thành, đổi cửa Thể Môn gọi là cửa Thể Nhân.

    Cho Nguyễn Kim Bảng làm Thượng thư Công bộ. Sai thự Trung quân Tống Phước Lương kiêm quản Tào chính, Phó tướng Nguyễn Văn Xuân kiêm quản Thương bạc. Xuân dâng biểu xin từ. Vua dụ rằng : “Ngươi liền năm coi việc biên giới, nhiều công khó nhọc, nên sai kiêm quản nha ấy, đó là triều đình thù lao, thưởng công để khuyến khích tôi con. Vả lại việc Thương bạc có đủ nhân viên làm việc, ngươi tuy tuổi già, vẫn nên trong sạch công bằng mà chủ trương khiến chúng không được sinh tệ là được rồi. Nếu có lỗi nhỏ, trẫm cũng không trách, chớ từ”.

    Đặt ấn phòng ở Gia Định thành và Bắc Thành, Lại bộ tâu bàn rằng : “Ấn triện ở Gia Định, Bắc Thành, trước do Tổng trấn chuyên giữ. Vả lại chương sớ sổ sách hai thành, công việc bề bộn, tới kỳ mới sai người đem dùng thì sợ quan Tổng trấn coi không xiết, khỏi tệ sao được. Phải nên định lập chương trình, cho có chuyên trách. Xin đặt ấn phòng hai thành, dùng Lang trung hoặc Viên ngoại lang, Chủ sự 1, 2 người sung bổ. Phàm có sớ sách từ trát ở thành, thì phải nhân xem bản thảo có tự tích của đại viên thành tào (Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt có tật ở cánh tay, cho khắc chữ ký mà đóng) mà đóng ấn triện, hằng tháng lập sổ đăng ký để tra cứu. Nếu không phải là việc công mà quan trên tư túi cho chữ ký ép sai đóng ấn triện, thì cho làm tờ tâu bày. Bằng vì tình riêng mà ẩn giấu và thiện tiện dùng trộm thì có tội. Lại xin hạ lệnh cho Gia Định chọn lấy ở lại phòng hoặc các tào một viên Bát phẩm thư lại, 1 viên Cửu phẩm thư lại, 5 viên Vị nhập lưu, Bắc Thành chọn lấy ở Thừa biện ty 1 viên Bát phẩm thư lại, 4 viên Vị nhập lưu, lấy ở lại phòng 1 viên Cửu phẩm thư lại, 6 viên Vị nhập lưu, phái theo viên Ấn phòng làm việc”.

    Vua nghe theo. Lấy Viên ngoại lang bộ Lễ là Đặng Văn Thống sung Ấn phòng Bắc Thành, Tư vụ Lại bộ là Bùi Tăng Huy làm Chủ sự thự Viên ngoại lang, sung ấn phòng thành Gia Định.

    Đắp thành Vĩnh Ninh đạo Cam Lộ trấn Quảng Trị. (Thành ở 2 phường Yên Mỹ, Tân Yên xã Cam Lộ, bốn mặt thành dài suốt 138 trượng 4 thước, cao 6 thước 5 tấc).

    Vua thấy binh ở trấn đạo ít, phái thêm binh ở Kinh 500 người, sai Thống chế Phạm Văn Điển đi coi công việc. Trên thành đắp 4 đài, chở súng gang và súng đồng quá sơn ở kho Kinh mỗi thứ 8 cỗ, đặt ở đó, trong thành thì xây kỳ đài, dựng kho thuốc súng và các nhà trại của quan và quân. Vài tháng công việc xong, thưởng sa, đoạn và tiền cho từ đổng lý trở xuống, theo thứ bậc.
  • Chia sẻ trang này