0059.085- @Suongdem(done-GD)

23/12/15
0059.085- @Suongdem(done-GD)
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    Hưng miếu và Thế miếu sửa chữa xong, chọn ngày tốt, làm lễ an thánh vị. Khâm thiên giám chọn ngày sai, vua xuống dụ nghiêm trách, xử tội giáng phạt. Rồi giáng Lê Tiến Tường không được kiêm quản, cho Lê Đăng Doanh thay.

    Thanh Hoa có giặc biển. Kinh phái Vệ uý Trung thuỷ là Trần Văn Lễ, Vệ uý Hậu thuỷ là Trương Văn Tín, đem binh thuyền đi tìm bắt. Vừa đến núi Song Ngư ở Nghệ An thì gặp 2 thuyền giặc, một cái chạy về phía đông, một cái thì chống cự. Bọn Lễ đốc binh xông đánh, bắt sống được 3 tên, chém được 6 đầu, còn thì nhảy xuống biển chết. Bắt được thuyền và khí giới. Việc tâu lên. Vua khen. Thưởng cho bọn Lễ quân công và kỷ lục đều 1 thứ, cho biền binh 300 quan tiền. Giết kẻ phạm bị bắt là Lưu á Bát, Dư Quốc Nhất, Lý á Tam, đem bêu đầu trong 3 ngày ở các tấn sở từ Nghệ An trở ra Bắc đến Quảng Yên.

    Đắp 2 pháo đài ở Biện Sơn thuộc trấn Thanh Hoa, đài to gọi là pháo đài Biện Sơn (ở phường Tứ Chính), đài nhỏ gọi là pháo đài Tĩnh Hải (ở núi Lộc Dữ), đều dựng cột cờ và làm nhà quân. ở pháo đài lớn, dựng thêm kho thuốc súng. Sai chở ở Kinh ra 4 cỗ đại bác, 8 cỗ đồng bác quá sơn (mỗi cỗ 200 viên đạn) chia để ở đấy. Lấy Quản cơ Đặng Văn Thành lĩnh chức Thành thủ uý pháo đài Biện Sơn, kiêm quản pháo đài Tĩnh Hải và kiêm chức Tấn thủ Biện Sơn.

    Vận tải vào Kinh thứ tiền mới đúc ở Bắc Thành, tiền đồng lớn 1 đồng cân là 46.500 quan, tiền kẽm 6 phân là 55.000 quan.

    Chín châu đạo Cam Lộ vào cống và dâng phương vật tạ ơn (9 thớt voi đực). Thổ tri châu 9 châu năm ngoái được ban sắc mệnh, cho nên nhân kỳ cống đến tạ. Sai trước thưởng cho 3 người Thổ tri châu Mường Vang, Ba Lan, Làng Thìn, hiện đi đó mũ áo thường triều Tòng thất phẩm. Đến khi triều kiến, nghi tiết lúc tiến lúc đứng như đã tập quen. Vua bảo bộ Lễ rằng : “Chín châu thần thuộc triều đình đã lâu. Năm ngoái biên cảnh có việc, mới nghe hịch triệu thì hưởng ứng ngay. Trẫm thấy lòng thành cảm kích nên chuẩn cho kỳ cống năm nay tới Kinh để thưởng cho. Vả lại họ ở nơi xa lánh, tự trước đến nay, chưa từng tập quen lễ độ, nay mới mặc phẩm phục mà có thể đến lạy ở điện đình không sai nghi thức, thực là do lòng thành khẩn hướng theo phong hóa, trẫm rất khen. Nên cho thêm 3 người Thổ tri châu, 6 người đại hành, 17 người thổ lại mục, áo sa đều 1 cặp, 10 người đầu mục, áo sa đều 1 cái, để cho đều biết quen mặc áo mũ mà dần tiến đến thanh giáo mãi mãi”.

    Lại cho họ các Thổ tri châu :

    (Thổ tri châu Mường Vanh là Kiềm cho họ Lâm, Thổ tri châu Na Bôn là Xiết cho họ Thạch, Thổ tri châu Thượng Kế là Phủ cho họ Khâu, Thổ tri châu Tá Bang là Chiêu cho họ Lĩnh, Thổ tri châu Xương Thịnh là Khả cho họ Sơn, Thổ tri châu Tầm Bồn là Nội cho họ Hướng, Thổ tri châu Ba Lan là Ngân cho họ Đồng, Thổ tri châu Mường Bổng là Huân cho họ Cốc, Thổ tri châu Làng Thìn là Đôn cho

    họ Thiết).

    Vua dụ rằng : “Chín châu nguyên thuộc bản đồ nước ta, đời đời tiến cống. Năm trước cấp cho sắc mệnh, đó là những châu đã được thấm nhuần thanh giáo rồi. Từ trước đến nay, tục man noi theo nhau chỉ kể thế thứ, chẳng biết họ tự đâu ra. Phàm giáo hóa của vương giả không phân biệt loài nào, nếu để có tên mà không họ thì có phải là ý xem dân như một của trẫm đâu ! Vậy đều cho họ, viết lại sắc mệnh cấp cho, để đời đời noi theo cho được họ hàng thân nhau, luân thường gìn giữ mà đều theo đạo lớn”.

    Quan Bắc Thành là Phan Văn Thúy theo dụ sát hạch viên dịch các tào, chia hạng, làm danh sách tâu lên. Cho là bọn ấy từ trước không khỏi cái tình tệ bè đảng, tham tang. Nhưng gần nay ngày thường uỷ phái việc công, liêm hay tham, chưa thể khám phá được. Xin hãy cứ theo lý lịch sự trạng, và gọi đến công đường để sát hạch về thư toán, luật lệ, từ trát, xem trong ấy người nào làm việc xuất sắc là hạng ưu, hơi chăm chỉ là hạng bình, già yếu, mà làm việc tầm thường là hạng thứ, chữ viết không ngay, phép tính không hiểu, từ trát, luật văn nhiều chỗ không thông hoạt cũng là đã bị xử tội trượng hay bị khiển trách, mà lại nhác nhơn thì vào hạng liệt.

    Vua bảo Lại bộ rằng : “Thuý ở thành chưa lâu ngày, không thể khám phá được tệ trước, cũng có thể nói được ; song xét người mà chỉ cứ thư toán, từ trát, thì sao đủ làm cân nhắc được. Huống chi xếp làm hạng ưu mà không có thực trạng, nếu viện lệ thăng bổ thì sẽ quá lạm, mà so với hạng bình thì lại không lấy gì để khuyến khích lòng người. Vậy hạng ưu thì giao bộ bàn xét, hạng bình thì cứ cung chức như cũ, hạng thứ, có cấp thì giáng một cấp, Vị nhập lưu thì đình lương 1 năm, đều vẫn lưu làm việc, hạng liệt thì bãi”.

    Thuý lại tâu rằng : “Bè đảng tất trước thì cha con, anh em, rồi sau đến người khác. Nay xét thư lại ở thành, một ty phòng mà có cha con, có anh em ruột, có anh em họ, tuy tình trạng chưa rõ rệt, nhưng người này người kia hùa nhau, thế tất cũng có. Xin hễ ai hèn kém thì bãi đi, ai nhanh nhẹn làm việc được thì đổi lẫn cho nhau, như thế thì nếu có vết xấu, tất có thể phát giác như thế thì việc lại trị, có thể mong được nghiêm chỉnh trong sạch”. Vua cho là phải.

    Chuẩn định chức quyền sai Đội trưởng ở Thừa Thiên và từ Quảng Bình trở vào nam, (lệ trước chức Đội trưởng phủ binh và trấn binh đều do quản hạt quyền sai) bắt đầu từ năm nay, hễ thập binh không khuyết thì do quan phủ, quan trấn tâu cử lên để cấp bằng Thí sai, 3 năm không có lỗi thì tâu xin thực thụ. Ghi làm lệ.

    Bắt đầu đặt huyện Kim Sơn, lệ vào phủ Yên Khánh, Ninh Bình. Lĩnh Dinh điền sứ là Nguyễn Công Trứ, ở phía ngoài đê Hồng Lĩnh đo được số ruộng hoang là 14.620 mẫu, chia cấp cho dân nghèo hơn 1.260 người. Lập thành 3 làng, 22 ấp, 24 trại và 4 giáp chia làm 5 tổng, tâu xin đặt riêng một huyện gọi là Kim Sơn, chọn người hợp với địa phương làm Tri huyện để phủ dụ khuyên bảo. Nhà ở, lương tháng, trâu cày và điền khí của dân thì do quan cấp cũng như lệ huyện Tiền Hải. Ruộng thực canh và ruộng khẩn thành điền thì bắt đầu từ năm nay đánh thuế ; ruộng lưu hoang thì năm Minh Mệnh thứ 13, bắt đầu thu thuế.

    Vua cho là được. Bèn sai chọn đặt Tri huyện, chế ấn triện cấp cho, dựng huyện lỵ ở làng Quy Hậu, mộ lập lại và lệ đủ số (Đề lại 2 người, Thông lại 8 người, thuộc lệ 50), hằng năm cấp tiền công nhu 50 quan.

    Công Trứ lại dâng sớ nói : “Những làng ấp mới lập của các huyện Tiền Hải, Kim Sơn đều là nhóm họp dân phiêu lưu chưa có liên hệ với nhau. Xin định quy ước khiến họ biết sự kiểm thúc, lâu sẽ thành quen :

    1. Đặt trường học.

    Mỗi ấp, mỗi làng đều dựng nhà học, đón một thầy học, làng thì lấy ruộng 10 mẫu, ấp thì 8 mẫu làm học điền, miễn đánh thuế. Ruộng học điền ấy, phải góp sức cùng làm, đầy năm thu hoạch, lưu làm học bổng. Người đến 8 tuổi thì cho vào trường học, dạy cho các việc quét rửa, ứng đối, tới lui, các phép hiếu, trung, tín, kính, nhường, rồi sau mới dạy văn hữu. Đến khi 16 tuổi đã hơi thành tựu thì theo thứ tự mà cho lên trường huyện, phủ, trấn. Nếu học không được thì cho đổi nghề khác. Đến như trại giáp thì một trại lấy 5 mẫu, giáp lấy 3 mẫu mà phụ vào ấp hay làng.

    2. Đặt xã thương.

    ấp và làng đều đặt xã thương ((1) Xã thương : kho thóc ở xã.1) chọn người tin cẩn để giữ, phàm ruộng khai khẩn thành điền, 3 năm về trước còn được miễn thuế, thì mỗi mẫu lấy 30 uyển thóc, đến sau đã thu thuế thì mỗi mẫu lấy 20 uyển ; nộp vào kho. Khi thóc kém thì bán ra, khi hơn thì đong vào. Gặp thuỷ hạn bất thường thì chiếu khẩu phần mà cấp cho ; năm được mùa thì lại thu chứa y số.

    3. Siêng dạy bảo.

    ấp, làng đều có ấp trưởng, Lý trưởng. Lại lấy 25 nhà làm một tư có Tư trưởng, làng đặt thêm 2 Tư trưởng, ấp đặt thêm 1 Tư trưởng, do quan địa phương cấp bằng, theo các ấp trưởng, Lý trưởng mà trông nom dân. Trong hạt mình cai quản, như có kẻ bất hiếu, bất đễ, bất thuận, bất kính cùng là du thủ du thực, giao kết với côn đồ thì phải nghiêm ngặt răn cấm ; ví còn quen giữ nết xấu, thì phải trình với Hữu ty xét xử. Nếu dụng tình giấu giếm thì ấp trưởng và Tư trưởng cũng phải tội.

    4. Cẩn phòng thư.

    Phàm trong tổng có giặc cướp, phát ở chỗ nào, ở lý thì Lý trưởng cùng Tư trưởng, đem dân phu 30 người, ở ấp thì ấp trưởng đem dân phu 20 người, theo Tổng trưởng, đến cứu gấp. Nếu thế lực không địch nổi, thì phải lẻn theo phía sau, cho kỳ cùng dò xem giặc ẩn nấp ở đâu thì phải phi báo quan sở tại cùng các nơi lân tiếp cùng đến vây bắt cho được, để xử án. Nếu theo bắt bất lực, để bọn giặc chạy xa thì chiếu số của cải sự chủ mất thì bắt các ấp lý trong tổng bồi thường. Cai tổng, Lý trưởng, ấp trưởng, Tư trưởng, đều theo luật trị tội.

    5. Chăm khuyên răn.

    Dân thường ở ấp lý, có kẻ không theo phép thường, không chịu làm ăn, đã chuẩn cho ấp lý trưởng được sát hạch, quan địa phương thì phải thời thường đi tuần xem xét, vào nơi nào, thấy phong tục thuần hậu, ruộng đồng mở mang, nhà không có người ăn chơi, đất không có nơi bỏ hoang, trong 3 năm, người cai quản không can án, thì cứ thực đề đạt, mà chờ nêu thưởng. Nếu nhân dân lười biếng, đồng ruộng bỏ rậm, tập tục gian dâm, cùng nhau kiện tụng, thì ấp trưởng, Lý trưởng đều bị chiểu luật trừng trị, chọn người cẩn tín nhanh giỏi làm thay)”.

    Vua giao xuống đình thần bàn. Cho rằng : “Việc dạy dân hóa tục, cố nhiên quan hệ ở khi đầu, mà thi hành phép trị phải có thứ tự, cùng nên cân nhắc việc hoãn, việc gấp. Trong lời xin của Công Trứ việc mở trường học vốn là một việc trong vương chính, nhưng làm ở khi dân đã đông lại giàu thì tốt, nếu làm ở khi dân lưu tán mới nhóm thì chưa phải là việc cần kíp. Việc đặt xã thương, cũng là một mối chính trị hay. Song làm xã thương trước hết phải có của công, rồi sau tuỳ năm thu vào hoặc tán ra. Như hai huyện mới khai khẩn, số thu vào một năm chỉ đủ chi một năm, mà hạn mỗi mẫu lấy 30 uyển nộp kho, thì bữa ăn hằng ngày ở trước mắt cũng không đủ, còn đâu mà để dành phòng cứu đói khi khác, chẳng cũng là việc hoãn làm trước mà việc gấp làm sau đấy ư ! Điều này đợi sau sẽ thi hành, ngày nay chưa thể làm vội. Việc đặt Tư trưởng để chăm dạy bảo, thì làng đã có Lý trưởng chịu trách nhiệm hết việc trong làng ; huống chi làng to đinh từ 50 người đến 150 người, thì có lệ đặt 1 Phó lý trưởng, từ 150 người trở lên thì đặt thêm 2 Phó lý trưởng, sao đến nỗi làm việc không khắp mà phải đặt Tư trưởng thêm nhiều danh sắc như thế. Đến việc cẩn phòng thư và chăm khuyên răn thì đại ước việc đuổi bắt trộm cướp là trách ở Tổng lý trưởng. Vả lại năm ngoái bàn định điều lệ đặt Lý trưởng và chương trình bầu Cai tổng, trong đó đã trách việc xét bắt kẻ oa trữ và giặc cướp, khuyên răn kẻ gian điêu, mong cho lầm lỗi thì răn bảo nhau, xóm giềng giữ nhau, ai làm xứng chức thì có thưởng, không xứng chức thì có phạt, các quy điều thiết lập rành rành có thể căn cứ, xin do trấn thần Nam Định, đạo thần Ninh Bình sao lục nghị định trước mà gửi khắp cho bọn tổng lý vâng theo, là được rồi”. Vua cho là phải.

    Quan Bắc Thành tâu rằng : “Lệ trước ở thành đặt tả hữu Thông phán đều 1 người, tả hữu Kinh lịch đều 2 người để coi 6 phòng của Tả hữu thừa ty. Nay 3 phòng Hộ, Binh, Hình đã có Đại viên lĩnh mỗi tào, lại có Tá lĩnh theo tào làm việc, còn phòng Lại thì lệ theo tào Hình, phòng Lễ thì lệ theo tào Binh, phòng Công thì lệ theo tào Hộ, công việc đều do ba tào kiêm làm ; Thông phán, Kinh lịch không dự chuyên trách, xin đổi bổ Chủ sự và Tư vụ theo thành để quản suất 3 phòng Lại,

    Lễ, Công”.

    Vua y cho. Sai chọn người kham việc tạm bổ chức hàm Chủ sự, Tư vụ Hộ ty, Binh ty, Hình ty, đều 1 người theo thành tào để chuyên giữ công việc 3 phòng Lại, Lễ, Công. Lại nghĩ 2 phòng Hộ, Hình nhiều việc, sai đặt thêm Bát cửu phẩm thư lại đều 1 người (trước Bát cửu phẩm đều 3, Cửu phẩm đều 5). Phòng Công bớt 1 Cửu phẩm, mà thêm 1 Bát phẩm (trước Bát phẩm 1, Cửu phẩm 6). Các thư lại đặt thêm theo lệ là thí sai, không được viện theo thư lại ở Lục bộ tại Kinh mà xin thực

    thụ ngay.

    Đệ nhị kỷ - Quyển LIX

    Thực lục về Thánh tổ nhân hoàng đế



    Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10 [1829], mùa hạ, tháng 4, ngày mồng 1, lễ Hạ hưởng.

    Sửa chữa Triệu miếu, Thái miếu ((1) Triệu miếu : miếu thờ Triệu tổ Tĩnh hoàng đế, tức Nguyễn Kim.

    Thái miếu : miếu thờ Thái tổ Gia dụ Hoàng đế, tức Nguyễn Hoàng.1). Sai thự Trung quân là Tống Phước Lương trông coi công việc.

    Đổi định khóa lệ duyệt tuyển ở Thanh Nghệ và Ninh Bình. Lệ trước, khóa tuyển dùng năm Giáp, năm Kỷ, năm Minh Mệnh thứ 5 Giáp thân, nhân mất mùa, hoãn đến năm ất dậu. Đến nay là kỳ khóa, Hộ bộ tâu lên. Vua nói: “Phép tuyển 5 năm một khóa. Nay nếu cử hành thì niên hạn chưa đủ, vậy đổi định năm ất, năm Canh làm khóa, bắt đầu từ sang năm Canh dần”.

    Cấp y phục mùa xuân cho ty Hộ vệ vệ Loan giá, ty Cảnh tất hộ vệ, đội Kim sang và vệ Hổ oai tiền. Sau có [đơn vị nào] tục bổ thành ngạch, thì chiếu lệ ấy mà làm.

    Triệu Hữu Tham tri Hộ bộ lĩnh Hộ tào thành Gia Định là Nguyễn Khoa Minh về Kinh. Lấy Hữu Thị lang Hình bộ là Ngô Bá Nhân cho thự Hữu Tham tri Hộ bộ lĩnh Hộ tào Gia Định kiêm quản Công tào sự, lại kiêm việc từ chương ở thành.

    Quan Bắc Thành tâu rằng : “Kho thóc ở Nam Định rất rộng, công việc vận tải, đong lường cũng nhiều, mà lính kho lệ chỉ có 100 người, xin thêm 50 người sung việc coi giữ”. Vua y cho.

    Đội Tiểu sai có Phan Ngọc Lý trước vì tội trá mạo bị phát vãng Ai Lao làm binh, trốn đi Hải Dương, đổi tên là Hồ Đăng Trị giả dối xưng là được sai đi xét hỏi, sách nhiễu người ta. Thị vệ là Lê Kim Trợ bắt được đem nộp Bắc Thành xử chém. Thưởng cho Trợ 30 lạng bạc.

    Vua bảo bộ Hình rằng : “Bọn trá mạo, bày đặt sinh sự, tất có kẻ lại bắt chước làm như Phan Ngọc Lý. Nên dụ cho thành thần thông sức quan lại địa phương trong hạt phải dò xét mà bắt trị tội”.

    Đốc học Nghệ An là Trần Trọng Huyến và Đốc học Bắc Ninh là Nguyễn Huy Tá đều vì ốm nghỉ việc. Lấy Đốc học Quảng Nam là Đặng Huy Dư làm Đốc học Nghệ An, Tri phủ Quảng Bình là Lâm Văn Bỉnh làm Đốc học Bắc Ninh, Hàn lâm viện Tu soạn là Trần Lê Hiệu làm thự Đốc học Quảng Nam. Bớt chức Đốc học Bình Hòa. Vua nói : “Số học trò ở Bình Hòa còn ít, một chức Giáo thụ đủ rồi, hà tất đặt nhiều, nên bớt đi”.

    Vua đến nhà lương tạ (nghỉ mát). Thưởng cho biền binh dựng nhà ấy 100 quan tiền.

    Truy bổ Giám sinh Nguyễn Danh Thái làm Hàn lâm viện Điển bạ. Thái sau khi thi Hội bị bệnh chết.

    Vua nghe biết, dụ bảo : “Thái dự hàng sinh viên, từng được ơn nhà nước giáo dục, đọc sách chăm học đã trải 3 năm, ứng cử thi Hội chưa trả được nợ bút nghiên. Lại chưa kịp đến kỳ kén bổ mà vội đã mang chí lìa trần, tình cảnh khổ sở như thế rất là đáng thương. Bèn truy thụ chức ấy”.

    Sửa chữa điện Trung Hòa, điện Cao Minh trung chính, nhà Trinh Minh, viện Thuận Huy, sai Tả thống chế Nguyễn Văn Trọng, Hữu thống chế Trần Văn Cường trông coi 2.000 binh Thị trung, Thị nội làm việc ấy. Thượng thư Công bộ là Nguyễn Kim Bảng hội làm. Đầy tháng làm xong.

    Vua ngự ở điện Cần Chính, ban yến cho văn võ từ Tam phẩm trở lên ở Tả vu, Hữu vu, cho tiền vàng, hà bao gấm và bạc lạng theo thứ bậc.

    Lấy Trấn thủ Hà Tiên là Nguyễn Hữu Thuyên làm Trấn thủ Phiên An, Vệ uý vệ Hùng cự nhị là Lê Văn Huyên làm Trấn thủ Hà Tiên. Bọn Vệ uý vệ Phấn võ quân Thần sách là Nguyễn Duy Tân, Vệ uý vệ Định võ là Nguyễn Văn Đường, Vệ uý vệ Tráng võ là Nguyễn Văn Cận, Vệ uý vệ Quảng võ là Võ Văn Tín đều được gọi về Kinh, do bộ dẫn yết kiến.

    Vua xuống chỉ đều cho dùng vào chức Trấn thủ, đợi khuyết sẽ bổ.

    Trong Kinh kỳ mưa mãi. Vua lo việc đê phòng ở Bắc Thành, sắc cho quan Đê chính đem tình trạng đê điều và nước mưa tâu lên.

    Bọn Lê Đại Cương tâu rằng : “Việc đê phòng, công trình lớn có 18 sở, trong tháng có thể xong, sở công trình nhỏ thì hiện đương thực đắp. Vả tự cuối xuân đến nay, mưa không liên miên, xem xét thuỷ chí ((1) Thuỷ chí : cái mấp đo nước sông.1), cũng chưa tràn quá bờ sông”. Vừa mới vài ngày thì nước sông lên hơn 10 thước, thành thần Phan Văn Thuý đem việc phi báo. Vua xem tờ tâu bảo bộ Hộ rằng : “Mới qua tiết Tiểu mãn ((2) Tiểu mãn : khí tiết, cứ 21, 22 tháng 5 dương lịch là Tiểu mãn.2) chưa đến kỳ nước lớn tam phục ((3) Tam phục : sau tiết Hạ chí, ngày canh thứ ba là sơ phục, ngày canh thứ tư là trung phục, ngày canh sau lập thu là mạt phục.3) mà nước sông đã lên mau như thế, lòng ta rất lấy làm lo. Phải phi dụ ngay cho bọn Lê Đại Cương xem việc đê có chỗ nào quan yếu chưa đắp xong, thì báo gấp cho Phan Văn Thuý lập tức phái biền binh ngày đêm sửa đắp, để khỏi chậm trễ không kịp việc”.

    Có khúc đê mới ở Kim Quan đầu đuôi và đoạn giữa, tất cả hơn 140 trượng, thường thường sụt lún, Phan Văn Thuý nghe báo, lập tức phái uỷ chánh phó Thống quản Thập cơ là bọn Nguyễn Xuân, Nguyễn Văn Tạo, Vũ Văn Thân đem 1.000 binh kíp đi cứu hộ, lại thân hành đốc làm. Mấy lần cứ đắp lên lại sụt xuống, bèn làm sớ tâu lên. Vua dụ rằng : “Chỗ đê ấy rất là nguy hiểm xung yếu, tình hình khó khăn khẩn cấp ta đã biết rồi. Nay đã thi công, phải nên hết sức trù tính để được tốt về sau, há lại cứ đổ là khó mà nhất vị ngồi trông, để đến nỗi vì thiếu một sọt đất mà không xong ư ! Ngươi là chức Đại viên thống hạt, phàm việc phải cầu cho làm được, cầu cho xong xuôi, không nên cho là việc đã có nha chuyên trách mà còn có ý kiến đun đẩy. Lúc này phải thêm biền binh và thân hành đi đôn đốc cũng đã khiến người ta vững lòng. Nên gắng lên, tưởng sự thế còn có thể làm được. Nay nên hội đồng với bọn Đê chính đốc suất binh lính, gắng sức bồi đắp, lượng đóng cọc và ném đá kè ở chân đê, cốt giữ cho vụ nước thu này không lo. Đợi đến mùa đông sẽ lại trù làm. Thế nước ở thành lên xuống thế nào, cứ 10 ngày một lần tâu. Nếu có sự tình hoãn cấp thì cho tâu ngay”. Lại nói : “Trẫm xem đồ bản dâng lên, chỗ đuôi đê mới giáp với đê cũ hình vuông thước thợ nếu là đầu nước chảy vào thì tất phải dồn chứa mà xung phá, khó giữ khỏi lo bất ngờ. Nên ở chỗ đê cũ với đuôi đê mới, cách nhau 15 trượng hoặc 20 trượng, mà không có đình chùa, dân cư, thì đào ra một cửa ước độ 10 trượng, sâu đến chân đê, để cho thế nước thông suốt mà thuận dòng. Đó là sửa trị chỗ hiểm, phải nên mưu đồ cho hay”.

    Lại dụ sai quan Đê chính là Hoàng Quýnh và Nguyễn Văn Khoa chia đi các sở xem xét. Lê Đại Cương và Lê Thuận Tĩnh thì chuyên đóng công trường Kim Quan.

    Vua bảo bầy tôi rằng : “Nước sông lên xuống chậm hay chóng là tự nơi hạ lưu thông hay tắc. Dòng sông ở Bắc Thành hạ lưu đổ về các cửa biển Nam Định ; ở đấy hoặc có chỗ quanh co bồi cát đến nỗi ứ tắc. Vậy hạ lệnh cho trấn thần cứ thực tâu lên”.

    Trấn thần tâu rằng : “Hạ lưu của sông chảy về cửa biển trong hạt có 7 nơi : (Từ địa đầu của sông, 2 ngả, một ngả từ xã Cổ Viễn huyện Thượng Nguyên là hạ lưu của sông Cái chia ra chảy về các cửa biển Liêu Lác, Ba Lạt, Trà Lý, một chi bên tả cửa Ba Lạt chảy ngang về cửa Lân Hải, một chi bên hữu chảy ngang về cửa Lạn Hải, một chi từ Hà Lão huyện Hưng Nhân chia làm hai dòng là sông vừa, một dòng xế về phía hữu chảy đến ngã ba phường Kim Uyên, lại hợp với sông Cái, chia chảy ra các cửa biển của ngả trước, một dòng xế về phía tả, qua ngã ba xã Canh Nông, chia chảy ra hai cửa biển Diêm Hộ và Trà Lý). Hai cửa Diêm Hộ và Trà Lý, dòng sông quanh co, thế nước chậm và yếu ; hai cửa Lân, Lạn, thì lại gần đến biển sông mới bắt đầu chia nhánh, dòng sông đến đấy cũng chảy chậm và xa ; dòng sông Cái chảy mau ra biển thì chỉ có các cửa biển Ba Lạt, Liêu Lác mà thôi, trong ấy cửa Ba Lạt và cửa Liêu đường nước quanh co, không bằng cửa Lác thẳng hơn. Lại cứ xuân năm nay, nước thường lên xuống, đo mức nước sâu các cửa biển, không chênh nhau mấy, mà cửa biển nhiều nơi có cồn cát, ngoài lạch lại có cát ngầm liền nhau, là vì hạ lưu của sông đều chảy về đấy, cho nên hằng năm đất cát bồi thêm là lẽ tất nhiên. Nhưng xét các cửa Liêu Lác, Ba Lạt, Lân, Lạn, đến ngã ba xã Thượng Hộ, các cửa Trà Lý, Diêm Hộ đến ngã ba xã Canh Nông, đều dài hơn 1 vạn vài nghìn trượng, nguyên không có đê điều giữ lụt mà hằng năm nước lụt không tràn ngập mấy, là vì có nhiều chi phái chảy san làm yếu thế nước. Từ Thượng Hộ và Canh Nông ngược lên việc đắp đê phòng thật là kiên cố, thế mà thường cứ bị nước lụt tràn phá, ý là ở thượng lưu và trung lưu, nhánh sông chia ra đã ít, mà đường nước nhiều nơi bị lấp cạn đến nỗi nước ứ tiêu chậm mà tràn ngập địa hạt này là vì thế”.

    Vua bảo phê rằng : “Trẫm nghe các cửa biển hạt ngươi nguyên là sâu, gần nay ngày thấy nông cạn, cho nên nước không chảy thông thoát lắm. Nếu đổ lỗi cho thượng lưu, thử nghĩ các đường sông ở thượng lưu xưa nay chỉ có thế thôi, sao thế nước gần đây so với ngày trước lại tăng nhiều thế”.

    Lấy Vệ uý vệ Túc võ quân Thần sách là Lê Văn Thường làm Trấn thủ Bắc Ninh.

    Sai Lang trung gia Hiệp trấn hàm Bang biện biền vụ là Trần Chấn kiêm làm việc lương tiền đồn Châu Đốc. Lương tiền Châu Đốc trước dùng 1 người, Viên ngoại lang Hộ bộ trông coi, đến nay bãi.

    Vua nghe nước Đại Man (tức Diến Điện) ở đầu đời Nguỵ Tây, sai sứ thông hiếu do đường Hưng Hóa đến, sắc cho Bắc Thành hỏi khắp các cố gia để ghi chép sự tích. Lại hạ lệnh cho Hưng Hóa phái người đi họa đồ về đường sá nước ấy xa gần thế nào để dâng xem. Vừa xảy nước Đại Man cùng nước Nam Chưởng đánh nhau, mới đi qua núi Cửu Hạn (thuộc tỉnh Hưng Hóa) đến đất Bản Khẩu (tên đất, ở đầu địa giới Đại Man), có binh man ngăn đường, không đến được, phải trở về. (Từ trấn thành Hưng Hóa đến núi Cửu Hạn, đi mất 1 tháng linh 8 ngày ; từ núi Cửu Hạn đến Bản Khẩu, 3 ngày nữa. Người phái hỏi người lính ngăn đường nói từ đấy đến thành nước Đại Man, ước 1 tháng nữa).

    Đội trưởng Tiền quân Bắc Thành là Bùi Hoặc nhũng lạm tiền của lính, thành thần nghị tội trượng lưu. án tâu lên. Vua dụ rằng : “Binh để giúp nước và bảo vệ dân, nhà nước vỗ nuôi không cách gì là không chu đáo. Từ trước đến nay quản quân và đầu mục thấy họ béo hay gầy không hề quan tâm, lại lấy họ làm lợi cho mình, binh đinh thỉnh thoảng chán ghét vì bị sách nhiễu, đến nỗi trốn tránh nhiều, mà dân cũng khổ về việc bắt điền. Sai bảo không được việc, vị tất đã không phải là vì cớ ấy. Nhiều lần đinh ninh răn bảo, mà Bùi Hoặc còn dám lờn pháp như thế. Nếu chỉ theo luật xử tội lưu thì lấy gì răn kẻ khác”. Bèn xử Hoặc tội trảm giam hậu, quản quan đều bị giáng. Sai thành thần sao chép dụ ấy truyền khắp các quân.

    Người Thu Châu, Tuyên Quang là Nghi Thị Nghị tuổi mới 16 có tên trai hung bạo trong làng thích sắc đẹp, muốn hiếp dâm, người con gái tự thề chết chứ không chịu nên bị đánh chết. Quan Bắc Thành tâu lên. Vua sai Lễ bộ bàn cấp biển ngạch khắc bốn chữ “Nghi Thị trinh nữ” ((1) Nghi Thị trinh nữ : người gái trinh họ Nghi.1) làm nhà nhỏ ở cổng làng để treo mà nêu khen.

    Lấy Tham hiệp Thanh Hoa là Tôn Thất Lương làm thự Hiệp trấn Thanh Hoa.

    Làm hiên Hàm Thanh và đình Thất Doanh.

    Trước tiết Vạn thọ 1 ngày có Đội trưởng Nguyễn Văn Hóa ở phường Vĩnh Trinh trong Kinh thành, nhân đào đất được một quả ấn ngọc thuỷ tinh ở dưới gốc cây chuối, đem dâng.

    Vua bảo bộ Lễ rằng : “Trẫm xem xét rõ ấn này trên khắc núm hình thú, văn khắc chữ “Ký thọ vĩnh xương” ((2) Ký thọ vĩnh xương : đã sống lâu lại thịnh mãi.2) dùng lối chữ Long chương phượng triện ((3) Long chương phượng triện : lối chữ như rồng bay phượng múa.3) già dặn và chất phác, tuy không khắc ghi năm tháng, nên khó tra xét trong sử sách, duy nghiệm sắc ngọc và phép viết, thật là một vật nghìn trăm năm trở lên, chắc không phải là đời gần đâu. Nhân nhớ đến năm ngoái được ngọc tỷ “Vạn thọ vô cương” ((4) Vạn thọ vô cương : sống muôn năm không cùng.4),
  • Chia sẻ trang này