0059.086 - @Suongdem(done-GD)

10/12/15
0059.086 - @Suongdem(done-GD)
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose:

    mọi người đều cho là điềm hay, nhưng trẫm chưa lấy làm phải, đã ban dụ chỉ cho rõ ý trẫm, ngày nay, phỏng ngọc tỷ đời Tần mà lại thấy nữa thì cũng còn cho là ở đức chứ không phải ở tỷ, huống chi quả ấn này lại kém xa. Song ấn này cũng không ví như đồ chơi thường được. Chôn vùi dưới đất hơn mấy trăm năm, nay lại sung làm đồ dùng của vua, cũng không phải là không có nguyên nhân. Gọi là triệu tốt thì được, chứ gọi là điềm quý thì chưa được”. Bèn thưởng cho Nguyễn Văn Hóa chức Chánh đội trưởng và 20 lạng bạc.

    Vua nhân khánh tiết ban ân, dụ thưởng các nha môn Lục bộ, Văn thư phòng, Thái thường, Quang lộc, Nội vụ, Vũ Khố 5.000 quan tiền, võ ban, từ thự Phó vệ uý trở lên và Suất đội Cẩm y, Loan giá, Thị trung, Thị nội đều được tiền bổng 1 tháng. Văn võ ở Kinh và ở ngoài bị giáng phạt từ năm Minh Mệnh thứ 9 trở về trước cùng những người bị tội công hay tư đã thành án từ ngày 23 tháng 4 năm nay về trước, thì đều do hai bộ Lại, Binh khai danh sách, để lượng cho khai phục và khoan giảm. Suất đội các sở công tác ở Kinh, thì đều thưởng tiền bổng 1 tháng ; binh và thợ đều một quan tiền ; binh ở ngoại lệ không có lương tiền thì đều thưởng tiền 1 quan.

    Các trấn Bắc Thành thóc thuế tích khiếm từ năm Minh Mệnh thứ 7 [1826] trở về trước, đều cho dân giảm giá mà nộp bằng tiền.

    Bắc Thành bắt được giặc trốn là Hoàng Kỳ Trung, đem giết. Trung trước theo nghịch phạm Nguyễn Đình Khuyến mưu đồ làm giặc nguỵ xưng là Bạch Xỉ Công Khuyến đã bị bắt, Trung lẩn trốn ở Sơn Tây và Hưng Hóa. Dân ngụ nhiều người bị hắn lừa dối. Đến bấy giờ Thống quản thập cơ Uy thắng thuộc Hậu quân là Phan Bá Hùng sai cho thuộc hạ là Nguyễn Đặng Đồng nhập loã dụ đến Bằng Dã (tên đất, thuộc huyện Hạ Hoa, Sơn Tây) đem binh đánh úp bắt. Bắt được hết văn từ và ấn nguỵ. Thành thần đem trạng tâu lên. Vua phê bảo rằng : “Tên yếu phạm ấy trốn ấy trốn tội giết đã lâu, nay cũng khó tránh. Xem tờ tâu vui mừng lắm”. Thưởng cho Bá Hùng gia 1 kỷ lục, kỷ lục 2 thứ, Đặng Đồng được chức Cai đội, biền binh được thưởng 60 lạng bạc, 200 quan tiền.

    Lấy Hiệu uý Nguyễn Tiến Lâm cho thăng thự Phó vệ uý, vẫn quản 3 đội Ngân sang, kiêm quản đội Tài hoa, sung hành tẩu ở xứ Thị vệ Ngân bài.

    Quảng uy công là Quân chết, Công bị đậu, sinh chứng hiểm. Vua sai ngự y ngày đêm điều trị, không khỏi mà chết. Vì thế nghỉ triều 3 ngày, cho thuỵ là Cung Trực. Sai hoàng tử trưởng thân đến phủ đệ, cho lễ điện tửu. Phát của kho và 3.000 quan tiền, uỷ cho Tôn Thất Bằng trông coi việc tang. Ngày chôn cất cho tế một đàn.

    Quan Bắc Thành tâu rằng : “Thuộc binh Nghệ An theo thành sai phái 98 người, và thuộc binh ở thành 35 người, đều là người phạm tội, dồn bổ làm binh, chưa thành đội ngũ, xin dồn làm các đội Tùng thiện tam, tứ, ngũ thuộc thành”. Vua y cho.

    Quan trấn Bình Định tâu rằng : “Nguồn Phương Kiện đặt ở một ấp An Sơn. Năm trước trích phái 5 đội trấn binh theo viên thủ nguyên để phòng ngự người Man Lèo và trông giữ bọn tù bị đày. Nơi ấy rất độc, lính bị ốm nhiều. Nay chọn được 2 ấp Đồng, Đăng (thuộc Tả chi) là đất lành, xin dời đồn đến đấy. Lại 5 đội trấn binh đóng giữ đã lâu, xin cứ cơ Bình định thuộc trấn binh 1 đến 10 và trấn binh từ đội 1 đến đội 4, tất cả 14 đội, lượng phái 1 Cai đội và 50 biền binh đi đóng thú ; mỗi tháng một lần thay, mà triệt binh 5 đội về”. Vua nghe lời tâu.

    Sai Thượng thư Hình bộ là Hoàng Kim Xán kiêm lĩnh việc bộ Lễ.

    Thự Hiệp trấn Quảng Nam là Phan Huy Chú lạm đặt danh sắc coi đầm, bị tội vi chế, phải bãi. Lấy thự Hiệp trấn Bình Thuận là Phạm Quang Nguyên làm Hiệp trấn Quảng Nam.

    Cho Phó vệ uý vệ Tuyển phong hậu là Nguyễn Văn Huy làm thự Vệ uý vệ Cung võ, Phó vệ uý vệ Ban trực hậu là Nguyễn Đăng Thuật làm thự Vệ uý vệ Túc võ, Phó vệ uý vệ Tuyển phong hữu là Đinh Mậu Phong làm thự Vệ uý vệ Tráng võ, Phó vệ uý vệ Tuyển phong tả là Vũ Văn Thuyên làm thự Vệ uý vệ Tuyển phong tả, Phó vệ uý vệ Tuyển phong tiền là Trần Văn Quần làm thự Vệ uý vệ Dương võ, Phó vệ uý vệ Hậu bảo nhất là Nguyễn Văn Trung làm Phó vệ uý vệ Long võ tả, Cai đội vệ Cẩm y là Phạm Văn Lưu làm Phó vệ uý vệ Tuyển phong hậu, thủ ngự Kim Bồng là Nguyễn Văn Vỵ làm Phó vệ uý vệ Hùng cự nhị, Cai đội Cẩm y là Hoàng Văn Tâm làm Phó vệ uý vệ Trung bảo nhất, Cai đội Tiền quân là Lê Văn Xích làm Phó vệ uý vệ Hậu bảo nhất.

    Vệ uý vệ Chấn uy là Hoàng Phước Tài đau yếu xin lui nghỉ. Vua phê chuẩn. Lấy Phó vệ uý Trung bảo là Trần Văn Quý bổ thụ. Hai bộ Lại, Binh đều nhận làm bổ thụ Vệ uý, không tâu lên mà làm bằng sắc cấp cho. Một hôm vua mở xem quan tịch, thấy chép “Vệ uý Trần Văn Quý”, sai hỏi, thì quan hai bộ dâng biểu xin chịu lỗi.

    Vua dụ rằng : “Tờ chỉ bổ thụ Trần Văn Quý là trẫm thân soạn thảo cho. Nhân dưới chữ bổ thụ không có ghi chứ “Y vệ Phó vệ uý” nên bọn ngươi lầm thì cũng có cớ. Song Quý là Chánh tứ phẩm Phó vệ uý mà vội cho chức Thị nội Vệ uý Chánh tam phẩm há không phải là vượt mức ư ! Sao không vạch ra mà tâu lại. Vả bọn ngươi giữ chức trọng yếu, được dự việc can ngăn, như trẫm có chỗ không phải cũng nên đánh bạo ra sức can ngăn, mới hết trách nhiệm kẻ thần tử. Nay việc nhỏ tầm thường còn không lưu tâm, thì công việc quan trọng sẽ là thế nào ? Há chẳng phụ cái ý đặt quan chia chức và cái ý sẵn lòng nghe lời can của trẫm ư ! Nay cũng không cần trách lắm, chỉ nên đem dụ chỉ này, sao cấp cho các bộ viện, cho biết văn tự của trẫm có nơi chưa rõ ràng, mà không ai đem việc ấy tâu bày”. Trần Văn Quý thì đổi bổ cho Phó vệ uý vệ Chấn uy.

    Quan trấn Nghệ An tâu rằng : “Ba huyện Cam Cát, Cam Môn, Cam Linh thuộc phủ Trấn Định, bốn huyện Xa Hổ, Man Soạn, Mường Lan, Sầm Tộ thuộc phủ Trấn Biên ở dọc biên giới, trước theo tục Man, huyện hạt hoặc cứ tên bản tên mường tuỳ theo nơi ở mà gọi là trưởng (như loại trưởng động, trưởng mường). Nay bọn Thổ tri huyện và Huyện thừa đều muốn theo lệ các huyện trong trấn mà chia đặt 5 huyện Cam Cát, Cam Môn, Cam Linh, Xa Hổ, Man Soạn. Mỗi huyện đều 4 tổng và huyện Mường Lan 2 tổng, huyện Sầm Tộ 5 tổng, tổng đặt 1 Cai tổng, cấp cho mộc triện để thừa hành việc công”. Vua y cho.

    Lĩnh Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ dâng sớ rằng : “Trước ở Nam Định lượng đo số ruộng bỏ không ở các xã huyện Giao Thuỷ mà chia lập làng ấp. Có dân xã Liêu Đông là Phạm Nguyên Trung đem 70 lạng bạc nhờ người theo hầu là Lê Đình Thọ kêu xin, lại có dân xã An Đạo là Ngô Huy Phác đem 90 lạng bạc đến nơi ngụ sở kêu xin, đã đem người và tang đến Nam Định giam giữ để đợi án”.

    Sớ giao xuống quan Bắc Thành tra bàn, cho rằng Công Trứ vâng mệnh đi dinh điền, có trách nhiệm vỗ về khuyên bảo. Nếu biết tự mình trong sạch mà giữ công bằng lấy uy tín dạy người thì ai còn dám tư túi. Bọn Phạm Nguyên Trung kia đem của đi van, ấy là dân hèn dùng kế trốn tránh ; Lê Đình Thọ, nhận lời người nhờ cậy chẳng qua là một người thuộc tòng, sao nên quá trách. Về phần Công Trứ thì nên tự xét và bảo cự tuyệt đi mà răn là phải. Nay lại bắt số bạc tang mà bày tỏ ở chương sớ, làm rác tai vua, thế là tự trị không nghiêm mà lại khép người vào pháp luật, để cầu mua tiếng ngay thẳng cho mình đều là không phải việc nên làm của người quân tử. Xin giáng 3 cấp đổi nơi khác. Còn bọn Phạm Nguyên Trung thì phạt xuy trượng rồi tha.

    Vua bảo bầy tôi rằng : “Xét án thì phải tình lý thích đáng mới có thể phục được người. Nguyễn Công Trứ trù biện việc dinh điền, quả thật giữ được trong sạch công bằng thì cũng chỉ ở chỗ hết lòng mình thôi. Còn như Phạm Nguyên Trung và Lê Đình Thọ manh tâm trong tối, cầu cạnh, xin xỏ, thì làm sao biết trước được mà ngăn ngừa bọn Nguyên Trung là đáng tội mà lại bảo không nên quá trách, sao thấy lý mờ tối thế ? Vả trong án xét không có sự trạng rõ ràng sách nhiễu lấy tiền, thế là Công Trứ trị tội không phải không nghiêm. Duy nhận hối lộ có bạc tang ở đó mà người nhận, chúc thác lại là người nhà, nếu chỉ cự tuyệt và răn, như lời thành thần nói, thì người nhà sách nhiễu mà bản quan tự tha, như thế có được không ? Công Trứ không dám ẩn giấu, rõ ràng tâu lên, mà lại cho là làm nhàm tai là thế nào ? Huống chi bọn Nguyên Trung tự phạm pháp luật chứ ai đặt vào ? Công Trứ đi theo đường thẳng, tại sao lại cho là mua tiếng ngay thẳng. Đó chẳng qua là ý kiến sai lầm cho nên bất giác đã bàn quá đáng. Vậy truyền chỉ nghiêm trách thành thần mà Công Trứ thì miễn nghị”.

    Tháng 5, mé ngoài biển đảo Đại Chiêm thuộc Quảng Nam có giặc biển cướp thuyền buôn, trấn thần phi tấu. Vua dụ bộ Binh rằng : “Ngày nọ, Thanh Hoa, Nam Định có 2, 3 thuyền giặc đi lại đón cướp thuyền buôn rồi bị quan binh bắt được, địa phương được yên. Nay Quảng Nam bỗng có tin ấy, chỉ là lũ chuột vất vưởng ở đáy nồi, rồi cũng khó tránh được lưới trời. Duy cõi biển xa rộng, lũ ấy sớm thì đông tối thì tây, nhân thế mà thừa cơ lén nổi. Bọn giặc lớn ấy, không thể để chậm mà không giết, vì sợ lửa đom đóm sẽ bùng lên”. Tức sai bọn Vệ uý vệ Thành võ là Nguyễn Đức Trường quản lĩnh binh thuyền ra biển dò bắt. Lại hạ lệnh từ Quảng Trị trở ra Bắc, từ Quảng Nam trở vào Nam, đều theo địa phận phái binh đi tuần bắt. Nếu gặp thuyền người Thanh dị dạng, trong thuyền có súng ống binh khí, cùng là hóa vật của nước Nam cướp được, và tình hình đáng ngờ thì bắt để trị. Rồi thấy thuyền giặc đã đi xa, mà mùa gió gần vãn, hạ lệnh cho triệt về.

    Diễn trận voi ở phía trước Kinh thành. Vua ra sông Hương để xem. Thị lang Vũ Khố là Hồ Hữu Thẩm sai tượng dịch ((1) Tượng dịch : thợ đi phục dịch.1) buộc cọp để thử voi, buộc lỏng, hổ sổng ra, chạy gần đến thuyền vua. Quân ở thuyền đón đánh chết ngay. Vua nói : “Chính là câu : Để hổ huỷ sổng cũi là lỗi ai ?”. Xuống dụ nghiêm trách Thẩm phải tội cách lưu.

    Dựng lỵ sở phủ Tương Dương và ba huyện Vĩnh Hòa, Hội Nguyên, Kỳ Sơn ở Nghệ An (Phủ lỵ Tương Dương ở Trầm Hương, huyện lỵ Vĩnh Hòa ở Xuy Vàng, huyện lỵ Hội Nguyên ở Khê Môn, huyện lỵ Kỳ Sơn ở Chấp Mộ. Trầm Hương, Xuy Vàng, Khê Môn, Chấp Mộ đều là tên đất).


    Dời các đồn dọc biên giới ra phía tây phủ lỵ (trước đặt ở xã Thanh Nhuế huyện Vĩnh Hòa) để làm nơi đày tù phạm quân lưu. Phái 1 Cai đội và 30 lính quân Thần sách thuộc trấn theo phủ viên đóng giữ và quản thúc. Lại ở đồn Lãng Điền lập kho tạm để thu thóc thuế 6 tổng giáp giới các huyện Nam Đường, Thanh Chương mà chứa. Phàm lương tháng của biền binh ở đồn tấn, lại dịch ở phủ huyện, và những tù phạm bị phát vãng làm binh, đều lấy ở đấy mà chi cấp.

    Hình bộ tâu rằng : “Trước kia nhân viên bị lỗi phát vãng đi làm lính ở đất mới Trấn Ninh, đã được theo lời đình nghị rút về phủ Tương Dương, do quan phủ quản thúc. Xin từ sau, các án xử phát vãng làm lính ở Trấn Ninh thì đổi đi phát vãng làm lính ở Tương Dương”.

    Vua không y, sắc rằng phàm phát vãng làm lính phải theo tội tình nặng nhẹ, nên phát đi Trấn Ninh thì đi Trấn Ninh, nên phát đi Tương Dương thì đi Tương Dương, không được cứ vin vào làm lệ.

    Ngày Nhâm dần, vua thân hành cày tịch điền. Trước thì sai Hữu ty chế đồ lỗ bộ, tuyển binh kỵ mã diễn tập. (Tán cán cong cửu long hạng nhỏ 1 cái, tán tròn sắc vàng 4 cái, cờ vàng 2 cái, phan dạ lông 2 cái, phan đuôi báo 2 cái, cờ rồng 2 cái, cờ phượng 2 cái, phan hành chính 2 cái, phan thi huệ 2 cái, phan phu văn 1 cái, phan trấn võ 1 cái, phan ngũ sắc 10 cái, cờ cảnh 1 cái, cờ tất 1 cái, cờ tả đạo 1 cái, gậy kim ngô 10 cái, cờ ngũ sắc 10 cái, cung tên 8 cái, tiêu thương 8 cái, súng tay 40 cái, nghi đao 20 cái, súng thần cơ 20 cái, tất cả 148 cái. Kỵ sỹ mang tán, các loại cờ (huy) phan, chàng, kỳ, xí, gậy kim ngô thì đội mũ tròn và mặc áo mở bụng bằng in hoa mang cung tên, Tiêu thương súng, súng tay, nghi đao, súng thần cơ thì mặc áo giáp đội mũ da. Lại lấy thêm đồ lỗ bộ đại giá và thường triều quạt vả 4 cái, đinh ba nằm 10 cái, đinh ba đứng 10 cái, gậy dài 10 cái, búa vàng 10 cái, thương đuôi báo 4 cái, tất cả 48 cái).

    Ngày hôm ấy, vua lên ngựa, lính kỵ mã đều thứ tự cưỡi ngựa theo hầu, tinh kỳ sáng rực, lộng lẫy người xem đều khen là nghi vệ thái bình.

    Buổi chiều, xa giá đến nhà mát. Thưởng cho biền binh theo hầu, hơn 1.000 quan tiền.

    Lấy Phó quản cơ An thuận là Thái Công Triều làm thự Vệ uý vệ Tả bảo nhị, theo lời xin của Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt.

    Quan thành Gia Định tâu rằng : “Biền binh vệ Bảo thành, Gia võ thuộc thành trốn nhiều, không thành đội ngũ. Xin cử số binh hiện tại dồn bổ làm 6 đội của vệ Bảo thành”. Vua y cho.

    Đổi bổ Phó vệ uý vệ Gia võ là Đoàn Cảnh Thạc làm Phó vệ uý vệ Bảo thành, Vệ uý Vũ Văn Chính lĩnh chức Quản đạo đạo Quang Hóa, kiêm quản 2 đồn Thuận thành và Quang phong.

    Nước Chân Lạp sai sứ đến chầu. Sứ đến Gia Định, sắc cho không phải đến Kinh. Cho phiên vương sắc thư và lụa màu, cùng thưởng bạc lạng cho sứ bộ rồi bảo về.

    Trấn thần Nghệ An tâu rằng : “Hai vụ thuế hạ đông trong trấn từ trước đến nay lệ nộp thóc thuế cứ mỗi 75 thăng thì phải phụ ngoài 2 thăng, gọi là thóc dâng ngoài, đó là phi lệ, xin bỏ”.

    Vua nói : “Lệ trước Quảng Bình trở về nam, thuế đinh không có gạo cước mà thuế ruộng thì có ngoại phụ ; Thanh Hoa trở ra bắc thì thuế ruộng không có ngoại phụ, mà thuế đinh thì có gạo cước, duy Nghệ An có cả hai thứ. Nay trong nước thống nhất, nên đặt phép thường để cho đều nhau”.

    Vua sai đình thàn bàn cho ổn thoả, cho rằng : “Năm đầu Gia Long, trong từ kinh sư tam phụ ((1) Tam phụ : tức là tam trực Quảng Bình, Quảng Trị và Quảng Nam.1) ngoài đến các thành, trấn đạo, ruộng thì có bậc, đinh thì có hạng mà thu thuế đều theo cái mức trung chính. Duy Quảng Bình trở vào nam, Thanh Hoa trở ra bắc, địa lợi có chỗ rất tốt chỗ xấu, số đinh có chỗ nhiều ít, khó đều nhau nhất luật. Ruộng thì có ngoại phụ là để bù số thóc hao vì để lâu, đinh thì có gạo cước là để phụ vào phí tổn chuyển vận. Từ trước đến giờ các hạt yên theo phép định, vui lòng nộp thuế, không có phân biệt trong ngoài kia khác. Lệ ấy xin chớ đổi. Duy còn tiếng gọi ngoại thưởng, ngoại phụ, thì nên đổi làm thóc nộp bù, cung nộp như cũ. Đến như hạt Nghệ An kiêm có 2 thứ, so với các hạt là nặng, xin miễn cho thóc phụ, mà gạo cước thì theo như Thanh Hoa trở ra bắc mà thu, bắt đầu từ vụ hạ này”.

    Vua nghe lời bàn.

    Đê mới ở làng Đa Hòa thuộc huyện Đông An ((2) Huyện Đông An : nay là huyện Khoái Châu, Hưng Yên.2), Sơn Nam, Bắc Thành sửa đắp chưa xong, người đắp thuê phần nhiều lười bỏ. Đê chính là bọn Lê Đại Cương báo thành trù làm. Thành thần phái ngay Phó thống Thập cơ là Phạm Đình Bảo đem biền binh 1.400 người đến đắp hộ, và đem việc tâu lên. Vua bảo bộ Công rằng : “Việc đắp đê, lợi hại rất quan trọng. Trẫm trông về miền bắc, lòng bối rối không khuây giờ phút nào. Thế mà bọn Đại Cương, mình có trọng trách lại làm việc không chu đáo, tức như việc đê nguy hiểm ở Kim Quan, đã không biết trù liệu trước, nay đê này lại sửa đắp không đúng thức để thiếu đến 5, 6, 7 thước, coi thường nhỡ việc như thế há lại theo phép khoan hồng được sao ? Đại Cương trước hết giáng 3 cấp, Nguyễn Văn Khoa, Lê Thuận Tĩnh, Hoàng Quýnh đều giáng 2 cấp, trấn, phủ, huyện sở tại cũng đều giáng 1 cấp”.

    Rồi sắc cho thành thần là Phan Văn Thuý, đốc thúc binh dân ngày đêm bồi đắp. Thưởng cho quan binh lương tiền 1 tháng, Thuý thấy việc đê Đa Hòa hơi thư, lượng lưu lại 400 biền binh ở đấy để giữ. Còn bao nhiêu họp cả ở đê Kim Quan góp sức bồi đắp.

    Vua nghĩ sức binh khó nhọc nhiều, hạ lệnh những cọc kè cần dùng đều do quan chiếu giá trả tiền.

    Cấm quan lại thiện tiện bán lương quân lính. Trước kia biền binh Bắc Thành đến Kinh thao diễn, đi đường có người đem bán khẩu lương. Đến nay việc phát ra, quản quan phải giáng cấp, thuộc lại phải cách dịch.

    Vua nhân dụ bộ Binh rằng : “Trẫm nghe ở Kinh và ở ngoài có nhiều tệ ấy, thậm chí quan lại tham lam nhờ thế chia lợi, đến nỗi binh lính vì thế mà đói thiếu, bỏ trốn. Nên thông sức cho các quản lĩnh nghiêm cấm”.

    Chuẩn định từ nay những mộ binh các vệ đội đã có khóa lệ chính ngạch mà bỏ trốn thì tước ngạch ngay. Ngày bắt được chiếu lệ như giản binh mà xử tội (sơ phạm trượng 90, tái phạm gông 2 tháng, đủ hạn, trượng 100 rồi tống về hàng ngũ, phạm lần thứ ba thì tội giảo giam hậu). Nếu trong 100 ngày ra thú thì được miễn, 200 ngày thì giảm 2 bậc, không thú thì người cùng đội hoặc khác đội đều được bắt giải. Trốn về xã mình hoặc xã khác, cho dân sở tại tra bắt. Người nào ẩn giấu thì cùng tội với kẻ phạm, đến tử hình thì giảm 1 bậc. Người quản quan không kiềm thúc thì chiếu lệ giản binh của quân Thị nội mà lượng giảm tội. (Trong một năm mỗi thập trốn 4 người thì Suất thập bị 30 roi, cứ mỗi 2 người, gia 1 bậc, tội đến trượng 70 mà thôi. Một đội, trốn 12 người thì Suất đội bị 30 roi cứ mỗi 6 người gia 1 bậc, tội đến 90 trượng thôi ; một vệ mà trốn 100 người, thì Quản vệ bị 30 roi cứ mỗi 50 người gia 1 bậc, tội đến trượng 100 thôi. Suất đội trở lên thì chiểu theo lệ tội công mà giáng phạt, Suất thập thì bị quyết hình).

    Như lính trốn quay về thú, hoặc quản quan tự bắt được, hoặc mộ người khác sung vào thì được giảm tội. Nếu hà khắc sách nhiễu đến nỗi binh lính bỏ trốn hoặc sau khi lính trốn không báo, cùng là mượn người mạo tên thay vào để mưu giảm tội, việc phát ra thì đều tuỳ nhẹ nặng mà xử trị.

    Lấy Tham hiệp Quảng Trị là Đoàn Khiêm Quang làm Tham hiệp Thanh Hoa, Lang trung Hình bộ là Hà Duy Phiên làm Tham hiệp Quảng Trị.

    Lấy Hữu Tham tri Hộ bộ là Nguyễn Khoa Minh làm Thượng thư Lễ bộ.

    Thanh Hoa được mùa to ; Quảng Trị, Phú Yên, Bình Hòa, Ninh Bình và các trấn Bắc Thành cũng báo tin được mùa. Vua mừng lắm.

    Thự Hữu Tham tri lĩnh Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ về Kinh phục mệnh, nhân tâu rằng : “Khi trước đo đạc số hoang ở Ninh Bình, có khu ruộng, đất hoang ở xã Bồng Hải, khi bắt đầu phái đạc thì trội ra hơn 720 mẫu, dân không chịu ký nhận. Lại phái đạc lại chỉ trội lên có hơn 300 mẫu, ấy đều là do tệ lại dịch hào cường thông đồng giấu bớt. Muốn cứu xét lại thì địa thế xứ ấy là rộng, không phải 1, 2 tháng mà làm xong được nên không dám lưu lại để làm. Nay xin sắc cho đạo thần đạc lại, lấy số ruộng trội chia lập làng ấp, để gây nghiệp cho dân nghèo, mà trị tội kẻ gian giấu”.

    Sớ giao xuống đình thần duyệt bàn. Cho là : “Ruộng đất rộng hẹp, nhất định không di dịch, sao lại có lý mới đạc thì trội nhiều, mà đạc lại lại ít đi. Nay nếu cứ địa giới Bồng Hải mà đạc hết cả, đem số ruộng hiện tại trừ vào ngạch hiện treo, thì đất chia rõ như bàn tay. Kẻ điêu xảo không thò ngón được, mà ruộng lậu có thể trích phát được. Duy nghĩ rằng, chính sách của vương giả, trước là dạy bảo, sau là hình phạt, mà người nhân đức đối với dân nên tỏ lượng rộng rãi dung thứ. Vậy việc khám đạc xin tạm đình hoãn. Nhưng dụ sai đạo thần, đòi họp bọn hào trưởng của dân đến tại công đường mà dẫn bảo khiến tự biết sợ hãi, hối cải. Xứ nào ẩn lậu bày thú cho hết, thì tội đáng bị cùng lệ thuế đáng thoái thu đều được khoan miễn. Nếu cứ một mực mờ ám ngoan ngạnh, cố ý gian lậu, đến khi phái viên khám đạc xét ra thì ẩn lậu tự 1 mẫu trở lên sẽ gia bậc trừng trị. Như thế thì kẻ ngu bướng được có đường đổi mới, mà ruộng hoang lậu không phải phiền về đo đạc nữa, mà dân mọn đều được hưởng lợi”.

    Vua cho là phải. Rồi sau dân ấy thú nhận ruộng lậu hơn 630 mẫu, và số ruộng hoang đã khai khẩn mà lậu thuế hơn 400 mẫu. Đạo thần tâu lên. Vua đặc ân sai làm sổ đánh thuế mà tha tội.

    Bộ Hộ tâu dâng sổ tổng kê về hộ khẩu cả nước, tất cả là 719.510 người. (Thừa Thiên 37.083 người ; Quảng Nam 44.587 ; Quảng Bình 14.534 ; Quảng Trị 19.189 ; Gia Định 5 trấn 118.790 ; Bắc Thành 11 trấn 248.302 ; Thanh Hoa 44.882 ; Bình Định 36.965 ; Quảng Ngãi 18.828 ; Nghệ An 80.287 ; Phú Yên 5.693 ; Bình Hòa 5.525 ; Bình Thuận 9.592 ; Ninh Bình 12.788 ; Tân Cương 22.475).

    Vua mở xem, thân làm bài kỷ sự hộ khẩu để ghi, đại ý nói : “Năm Minh Mệnh thứ nhất, bộ Hộ tâu dâng sổ binh dân hộ khẩu năm Gia Long thứ 18, tất cả 613.912 người. Không ngờ, mùa thu bệnh ôn dịch phát lớn, khởi đầu từ các nước ở Tiểu Tây dương ((1) Tiểu Tây dương : Inđônêxia.1) qua các phụ đều ở Hạ Châu, trải đến Xiêm La, Chân Lạp, rồi đến nước ta. Lại nhiễm đến nước Đại Thanh và các nước miền Đông Bắc cũng đều mắc tai nạn ấy. Tuy nước ta bị tai nạn không quá lắm như các nước, song khí độc làm hại khắp thành thị hương thôn, nửa đêm bàng hoàng, thật là đau thương. Vả lại thiên tai lưu hành khắp cả bốn biển, già trẻ đều biết, mà mình ở đầu muôn dân, không thể thi hành nhân chính cho khắp để cầu phước trời thì tránh sao được lỗi ? Ta dẫu chưa dám mong sánh với bậc hiền triết đời xưa, một lời cảm động, đổi tai làm lành, nhưng muốn mở rộng lòng thương xót để gấp cứu tai thương. Rồi giáng chỉ mở rộng kho tàng, chẩn cấp cho người chết dịch, không cứ đàn ông, đàn bà, già hay trẻ, số tiền không ngờ tốn đến hơn 73 vạn quan. Lại sai thành, trấn đều sắm thuốc men chữa trị, sống thoát khỏi rất nhiều, rồi yên lành ngay. Sau sức Hộ bộ tư hỏi số tử vong trong số hộ khẩu ở sổ thống kê là 26.835 người, và số nhân dân phụ nữ không có trong sổ cũng mất ngang thế. Ta xem lời tâu, rỏ nước mắt đau lòng không xiết. Kể ra một tấc đất, một người dân, đều là Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế để lại khi mới nối ngôi. Ta bờ cõi không mở rộng được, hộ khẩu không tăng thêm được, mà lại bị như thế, há không đỏ mặt, toát mồ hôi được sao ? Nay may trời giúp đỡ tôn xã để phước từ khi lên ngôi tới nay 10 năm rồi nhà nước an nhàn, biên giới không lo, hộ khẩu ngày thêm, đất đai ngày rộng. Năm trước Trấn Ninh đem đất quy phụ, Nam Chưởng sai sứ dâng vật báu ; phía tây nam mở đất tới nghìn dặm, đã đặt 6 phủ đất mới Trấn Ninh, Trấn Tĩnh, Trấn Định, Trấn Biên, Trấn Man, Lạc Biên gồm 20 huyện, lại đổi các man Cam Lộ làm 9 châu, rồi sai Hộ bộ làm danh sách liệt kê số hộ từ tháng 5 năm nay về trước, để trình xem. So với năm Gia Long thứ 18, thực tăng được 106.589 người, cũng có thể cởi được cái thẹn ngày trước. Xét nguyên do điều ấy, đều là nhờ trời và tổ tông cho, ở ta có công gì đâu !”.

    Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10 [1829], mùa hạ, tháng 6.

    Chuẩn định phàm các hạng biền binh ở Kinh trước đã được chọn bổ sung các hiệu đại thuyền, nếu được thăng thụ mà số lương theo phẩm so với lương cũ ít hơn, thì cho theo lương cũ mà cấp, nếu cao hơn thì theo phẩm mà chi lương. Ghi làm lệnh.

    Các trấn Tuyên Quang, Lạng Sơn, Quảng Yên, gạo kém. Cho thóc gạo thuế vụ hạ, dân được bớt giá mà nộp thay bằng tiền.

    Giáng thự Tham tri Binh bộ lĩnh Binh tào Bắc Thành là Nguyễn Đức Nhuận làm Tư vụ theo thành sai phái để gắng sức, Hiệp tổng trấn Bắc Thành là Nguyễn Hữu Thận làm chức hàm Tham tri vẫn hưu trí như trước. Trước kia việc bắt giặc ở Bắc Thành đã giãn, kẻ phạm ra thú nhiều, đã sai đình thần bàn, phân biệt nên cho thú và không nên cho, gửi cho [thành] làm. Đức Nhuận là Tham tán, nhận kẻ phạm ra thú hơn 120 người ; quan võ bắt giặc ở các trấn nhận thú đưa đến thành, cũng hơn 100 người, phần nhiều thuộc hạng không nên cho thú. Đức Nhuận cùng Hữu Thận không trình lên xin định đoạt, hoặc thiện tiện cho làm lính, hoặc nhẹ dạ cho bảo lĩnh. Đến khi có lệnh bắt làm danh sách tâu lên, nhân đó nhiều kẻ bỏ trốn, giao xuống bộ Hình bàn, đều bị giáng.

    Đặt cơ Tuần thành Gia Định. Gia Định trước có 3 đội Tuần thành, thành thần sai người sở thuộc mộ sung 10 đội, xin gọi là cơ. Vua y cho.

    Thành thần Gia Định tâu rằng : “Thuế yến sào ở đảo Côn Lôn, trấn Phiên An và đảo Phú Quốc trấn Hà Tiên thuộc hạt thành thường thường thiếu ngạch. Xin từ
  • Chia sẻ trang này