0059.087 - @ nhani78 (Done WK)

26/12/15
0059.087 - @ nhani78 (Done WK)
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose:
    nay hằng năm đầu mùa xuân, chim yến làm tổ, phái viên của thành hội đồng với quản thủ sở tại, đến nơi khám điểm đăng ký rõ ràng, đến kỳ thì lính các đội Tân tiệp, Thanh châu, đi nhặt lấy như số, cân lường đem nộp. Đợi 3 năm, thống kê số yến thu được, lấy số trung bình làm định ngạch. Phái viên và viên binh coi giữ dám thông đồng giấu bớt từ 1 tổ trở lên đều chiếu tang, xử nặng vào luật “uổng pháp”.

    Vua nói : “Hằng năm phái khám và sai lấy nộp thì được. Duy ngạch thuế lấy số trung bình 3 năm làm chuẩn thì chưa ổn, đợi sau lại giáng chỉ sẽ làm”.

    Lấy Quản cơ cơ Hữu hùng tượng ở Tượng quân là Nguyễn Văn Tạo làm Phó vệ uý vệ Thị tượng nhị quân Thị nội, đổi bổ Vệ uý vệ Thị tượng nhị là Nguyễn Văn Thị làm Vệ uý Thị nội, chuyên quản các tượng cơ Dũng thịnh và Tiền hùng, Tả hùng, Hữu hùng, đổi bổ Phó vệ uý vệ Ban trực trung quân Thần sách là Trần Văn Hùng làm Phó vệ uý vệ Tuyển phong tiền, Quản cơ cơ Hữu hùng Hữu quân là Lê Văn Tường làm Phó vệ uý vệ Ban trực trung, Phó vệ uý vệ Hữu bảo nhất là Giả Tiến Chiêm làm Phó vệ uý vệ Ban trực hậu.

    Giáng Phó vệ uý vệ Khinh kỵ lĩnh Viện sứ viện Thượng tứ là Nguyễn Trọng Tính làm Phó vệ uý vệ Tiền bảo nhị. Tính trước đi Hạ Châu làm việc nhiều điều không tốt, và thăm dò nước Xiêm La cũng không có thực trạng nên giáng chức ấy và đuổi ra khỏi xứ Thị vệ Ngân bài. Sai Phó vệ uý vệ Phi kỵ là Vũ Văn Giải kiêm quản Thị vệ Ngân bài Nha bài và viện Thượng trà, chế đồ ký thị vệ bằng ngà cấp cho.

    Thành thần Gia Định tâu rằng : “Tại thành hằng năm chi tiền hơn 288.000 quan, mà ở kho chỉ còn có hơn 379.000 quan, xin chở thêm đến cho đủ dùng”. Bèn sai chở 150.000 quan tiền ở kho Kinh đem chứa ở Gia Định.

    Hai bộ Lại, Binh làm danh sách dâng lên về việc xử phân giáng phạt các quan viên văn võ ở Kinh và ở ngoài từ năm Minh Mệnh thứ 9 trở về trước.

    Vua đặc cách cho khai phục, khoan miễn khác nhau. Nhân sắc rằng từ nay quan văn võ dưới tên có ghi bị giáng mà gặp ân chuẩn khai phục, viên nào đã từng hưu trí hoặc đã chết, mà đáng được cấp trả lại mà chiếu văn nếu trót đã tiêu đi thì đều được cấp cho bằng của triều thần. Lệ tập ấm thì chiểu theo phẩm hàm khai phục mà làm. Viên nào can án chưa xong, hoặc bị giải chức đợi xét, thì trước cấp cho bằng của triều thần để giữ làm tin, chiếu văn khai phục phẩm hàm thì đợi khi án xong sẽ làm. Ghi làm lệ.

    Vua ra nhà Lương tạ. Thêm 3 chiếc thuyền hiệu Lãng cho ngạch thuyền
    Gia Định.

    Thả cho biền binh ở Bắc Thành và Thanh Nghệ, Ninh Bình về hàng ngũ.

    Chuẩn định từ nay những lính thuỷ quân dinh Thần cơ ở Kinh đi thú Bắc Thành và đồn thuỷ Nam Định, đều thưởng cho tiền lương 1 tháng ; Suất đội thì thưởng áo quần 1 bộ, Suất thập đến binh lính thì ngày đến thú, thành chiếu cấp áo quần 1 bộ.

    ở Quảng Nam, lúa vụ hạ đang làm đòng, gặp gió bấc hại nhiều. Trấn thần đem án khám dâng lên. Sai bộ Hộ bàn giảm thuế cho.

    Bãi lệ thổ ty thế tập ở các trấn Bắc Thành. Thành thần tâu rằng : “Lai Châu và châu Đà Bắc ở Hưng Hóa, châu Phổ Yên ở Thái Nguyên, châu Hàm Yên ở Tuyên Quang, các Thổ tri châu, Tri huyện, Huyện thừa, lại mục hãy còn khuyết xin cho bổ thí sai. Thổ ty ở các châu Lục Yên, Thu Châu, Đại Man, Vị Xuyên, Bảo Lạc thuộc Tuyên Quang đều già yếu ; xin cho người thế tập cai quản.

    Vua dụ rằng : “Đặt quan phân chức, nên có chương trình nhất định mà coi dân như một mới tỏ được ý nghĩa vương giả không để ai ra ngoài. Các trấn Tuyên Hưng ở hạt thành, nên đặt Thổ tri châu, Tri huyện không những ở bốn châu ấy mà thôi, sao lại chỉ xin cho bốn châu ấy mà nơi khác không nói đến ? Vả những nơi ấy có Thổ tri châu, Tri huyện, lại mục là tạm thời cải bổ, chưa từng ấn định cho hạt ấy bao nhiêu chức quan, sao lại cho là thiếu được? Đến như việc xin cho tập quản thì lại hóa ra tạm bợ quá. Vì bọn ấy tuy là dân biên thuỳ, nhưng cũng đều là con của triều đình, há lại cứ noi theo thói tệ, không bàn đến kẻ hay người dở, cứ cho nhận làm của riêng anh em, con cháu thiện tiện nối nhau, lỡ có người không tốt, được thể làm càn thì có thêm luỵ cho dân ta không ? Thậm chí Nông Văn Vân ở Bảo Lạc đã cho làm thí sai Thổ tri châu, có chức hàm rồi, mà lại xin thế tập, chả hóa ra phức tạp quá dư ! Nay cứ các châu huyện thuộc các trấn Tuyên Quang, Thái Nguyên, Quảng Yên, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hưng Hóa trong thành hạt, theo công việc ít nhiều, dân số đông thưa, nên đặt Thổ tri châu, Tri huyện, Huyện thừa, lại mục thì nghĩ định rõ ràng ; không cứ thổ ty, hào mục, cứ trong hạt ai là thanh liêm, tài năng cần cán vốn được dân tin phục thì chọn cử tâu lên không được theo trước xưng là tập quản”.

    Thành thần bàn xin : đinh từ 5.000 người, ruộng từ 500 mẫu trở lên, thì châu đặt 1 Thổ tri châu, huyện đặt 1 Thổ tri huyện cùng thổ lại mục đều 1 người ; đinh từ 100 người, ruộng từ 100 mẫu trở lên, thì châu đặt 1 Thổ tri châu, huyện đặt 1 Thổ huyện thừa ; đinh điền không đủ 100, thì chỉ đặt 1 thổ lại mục. Vua y cho.

    Bổ Tôn Thất Ngạn làm Phó vệ uý vệ Trung võ quân Thần sách.

    Bộ Hình dâng án vỡ đê ở Bắc Thành về mùa thu năm ngoái xin nghĩ xử : quyền chưởng Tổng trấn ấn là Trương Văn Minh, Đê chính là Nguyễn Đức Hội, Nguyễn Văn Nghị, Trấn thủ Bắc Ninh là Nguyễn Cửu Lợi, Hiệp trấn Hoàng Văn Tú, Tham hiệp Nguyễn Mẫn đều tội lưu ; nguyên Đê chính là Ngô Phúc Hội, hiệp Trấn thủ Sơn Nam là Nguyễn Đăng Khánh, Hiệp trấn là Trần Thiên Tải, đều tội đồ ; nguyên Tham hiệp Sơn Nam là Phan Thế Chấn năm làm việc ở đấy chưa rõ, sẽ tra xét riêng và nghị sau ; hiện thự Trấn thủ Nam Định là Hồ Văn Vân, nguyên thự Hiệp trấn là Hoàng Quýnh, Tham hiệp là Nguyễn Nhược Sơn, Hiệp trấn thủ Sơn Tây là Lê Phúc Bảo, nguyên Hiệp trấn là Ngô Bá Nhân, Tham hiệp là Nguyễn Trọng Vũ, đều giáng tội.

    Vua dụ rằng : “Việc đề phòng trẫm thấu đêm lo nghĩ bời bời 2,3 lần dụ bảo phải dự phòng trước, chớ để lo cho nhân dân. Thế mà bọn Trương Văn Minh không biết hết lòng trù biện lại dám tâu trả lời rằng : giữ được không lo. Thế rồi đê vỡ ngay, cái tội dối trá, nói sao xiết được, vốn nên y lời bàn mà trừng trị nặng. Nhưng nghĩ Văn Minh trước trấn Nghệ An, bắt giặc có công, còn thể lượng giảm. Vậy gia ân cách xuống làm lính về Kinh để sai phái. Nguyễn Đức Hội hèn kém bất tài, đến nỗi mắc tội lệ ấy, cũng có thể tha, đổi phát làm lính hiệu lực ở Nghệ An ; Nguyễn Văn Nghị ngu tối không biết, không đáng trách lắm, đổi giáng làm Đội trưởng theo thành sai phái ; Ngô Phước Hội coi việc chưa mấy, xấu tốt theo người, đổi làm cách lưu ; Nguyễn Cửu Lợi, Hoàng Văn Tú, Nguyễn Mẫn, còn can án khác, đều cách chức, giao xét ; Nguyễn Đăng Khánh, Hồ Văn Vân, Lê Phúc Bảo, Trần Thiên Tải, Ngô Bá Nhân, Hoàng Quýnh, Nguyễn Nhược Sơn, Nguyễn Trọng Vũ, đợi án sau sẽ kết, còn việc Phan Thế Chấn, thì điều tra mau tâu lên”.

    Thành thần Gia Định tâu rằng : “Hai trấn Phiên An và Vĩnh Thanh trong hạt thành, dân xiêu tán nên lính thiếu bắt mãi không được, xin xem các xã thôn trong hạt, năm trước số đinh chưa đủ mà nay đã đủ thì y lệ kén lính cho đủ ngạch binh”. Vua y cho.

    Định lại phép thi Điện, bộ Lễ tâu rằng : “Khoa trước duyệt quyển, chia làm ưu, bình, thứ, xin theo như phép thi Hội mới định, đổi làm phân số, duy văn đình đối sự lý quan trọng hơn, nên cho phân số nghiệt hơn một bậc (như văn lý thi Hội được 2 phân, thì thi Điện chỉ cho 1 phân). Phàm văn lý được 10 phân thì xin cho đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh (Trạng nguyên) ; 9 phân thì Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhị danh (Bảng nhãn) ; 8 phân thì Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ tam danh (Thám hoa) ; 7 phân, 6 phân thì Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) ; 5 phân trở xuống thì Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân (Tiến sĩ). Lâm thời vua đặc cách cho đỗ thì không kể lệ ấy. Lại khoa trước bảng vàng đóng ấn “Hoàng đế chi bảo” xin đổi đóng ấn “Khâm văn chi tỷ”. Lúc trước các quan sung việc trường thi từ trước là do bộ Lại sao chép lời chỉ, nay xin cấp chiếu văn”. Vua y lời tâu.

    Thi Điện, sai Tả thống chế quân Thị trung là Nguyễn Văn Trọng sung chức Giám thí đại thần, thự Thượng thư Lại bộ là Lê Đăng Doanh, Hữu Tham tri Lễ bộ là Phan Huy Thực, Hữu Tham tri Binh bộ là Lê Văn Đức, Hữu Thị lang Công bộ là Hà Quyền, sung đọc quyển, Lang trung bộ Hộ là Nguỵ Khắc Tuần, Lang trung Binh bộ là Vũ Phan, sung chức nhận quyển và duyệt quyển.

    Cho đỗ Nguyễn Đăng Huân Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, Bùi Ngọc Quỹ
    ( ) (sau đổi Quỹ ), Phạm Thế Hiển, Nguyễn Trữ, Trương Quốc Dụng, Phạm Thế Lịch (sau đổi Thế Trung), Ngô Thế Vinh, Phạm Quỹ, Trần Huy Phác Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân.

    Vua ra chầu, bảo Phan Huy Thực rằng : “Nước nhà mới trung hưng, đặt trường học, trọng đạo nho, mở khoa thi, tuyển học trò. Trẫm theo chỉ của tiên đế, lấy việc cầu nhân tài làm gấp, ngoài việc khoa mục lại có cử tri. Tại sao gần đây người học sâu rộng, im lặng không nghe thấy ai ? Có phải là ở dưới hang núi người hiền đi không trở lại, hay là nhân tài kém sụt đi mà thế chăng? Không phải trẫm dám nói vu đâu”.

    Người Nghệ An có Trần Văn Vũ ngụ cư ở Bắc Thành, nghe dân phao đồn có lệnh bắt con gái chở đi, mới đi Nam Định giả xưng là mật sai, bắt con gái dân, sách nhiễu tiền của, bị người bắt nộp. Vua sai chém. Các địa phương Nghệ An, Thanh Hoa, Ninh Bình cũng phong văn tin phao đồn ấy. Bộ Hình tâu lên. Vua nói : “Lời phao ấy từ đâu đến ? Chỉ là bọn bậy bạ nói phao để lừa người, mà đứa côn đồ vô lại Trần Văn Vũ lợi dụng để đòi tiền của nên mới vỡ chuyện. Vậy hạ lệnh cho Nam Định đem đầu tên Vũ truyền đi các trấn, đạo, đều treo lên cái sào cao mà bêu ở chợ 3 ngày, để cho kẻ phao đồn trông thấy mà sợ, mà dân ngu không biết cũng bỏ được mê hoặc”.

    Quan Đê chính là bọn Lê Đại Cương tâu : “Đê Kim Quan từ đầu mùa hạ trở đi trải 4, 5 lần ngập lụt, tuy nhiều chỗ sụt lở, nhưng suốt đê không có thấm lâu, ví thử đến kỳ nước mùa thu có bình dân hết sức sang hộ thì có thể giữ được không lo”. Vua phê bảo : “Không nên vội nói là không lo. Duy còn mong nhờ thần giúp để trẫm cùng bọn ngươi được ngủ yên thì may”.

    Thành thần Phan Văn Thuý lại tâu : “Tháng này nước sông lên đến hơn 13 thước, rồi lại giảm xuống, hơn lúc thường chỉ trên 9 thước”. Vua lại phê bảo : “Xem lời tâu, hơi đỡ được lo phiền. Nhưng sợ mưa ít, hoặc đến vụ thu có hại chăng”.

    Truy tặng Cai đội Phan Văn Thống làm Quản cơ, Hiệp thủ Lê Đình Duật làm Chủ sự, thông ngôn Trần Hữu Huyền làm Tư vụ. Mùa thu năm ngoái bọn Thống đem trấn binh và man binh ở Nghệ An hơn 40 người, mang sắc dụ đi nước Vạn Tượng, đến đồn Phô Khâm, bị tướng nước Xiêm giết, chỉ còn 7 người lính man. Trước đã dụ thưởng cho Thống và Duật 2 người đều 30 lạng bạc. Đến nay vua nghĩ bọn Thống chết vì việc nước, lại truy tặng. Thống, Duật được cấp tiền tuất gấp đôi ; Huyền thì thưởng thêm 10 lạng bạc, binh lính bị chết, mỗi người đều 10 lạng. Lại sai trấn thần cho tế một đàn.

    Lấy Phó vệ uý vệ Hùng cự nhất là Phạm Văn Sỹ làm Vệ uý.

    Bãi lễ tiến dâng cho trong và ngoài. Vua dụ bộ Lễ rằng : “Trước ba tiết lớn Vạn thọ, Nguyên đán, Đoan dương, ở Kinh và ở ngoài đều có lễ cung tiến bạc. Năm Minh Mệnh thứ 3, đổi định lệ ở Kinh chia thứ bậc ; ở ngoài thì cho châm chước theo sản vật địa phương, làm biểu và uỷ người đệ tiến, mà miễn lễ bạc. Nay trẫm nghĩ ở Kinh, đã có cho bạc tiền tiêu việc công phí không tốn mảy may. Đến như các thành và trấn lớn, việc quan nhiều, lộc hậu, số bổng góp đều chỉ phân ly thôi. Duy có trấn nhỏ, việc quan ít, lộc ít tuy lễ dâng không mấy, nhưng chẳng khỏi thu góp hằng năm. Lại có quan lại không tốt, nhân đó mà dùng thủ đoạn, nâng cao giá trị, thác công mưu tư, thật có trái với sơ ý cải định. Từ nay ba tiết ấy lễ cống hiến trong ngoài đều bãi, chỉ chiếu lệ trước dâng biểu chúc mừng. Như gặp nhà nước có tiết đại khánh mà thành tâm sắm lễ vật dâng lên cũng không hề gì. Lại bãi lễ dâng thuế Thương bạc, tiền lệ lễ gồm vào ngạch thuế”.

    Vua lại vâng chỉ của Từ cung rằng, bắt đầu từ năm nay ba tiết Thánh thọ, Nguyên đán, Đoan dương lệ tiến bạc lạng ở Kinh và lễ hằng năm dâng thuế Thương bạc bãi cả, lại dụ cho Lễ bộ tuân hành.

    Định chương trình học cho tôn sinh. Bộ Lễ thấy các tôn sinh tọa giám nhiều người tạ sự cáo nghỉ, nhân thế lười biếng, bàn tâu rằng : “Học trò tôn học đều là dòng dõi nhà vua, nhờ Hoàng thượng, nghĩ tình họ hàng, để ý gây dựng, mong cho lớn nhỏ đều thành tài, làm người hữu dụng cho nước. Nhưng từ trước đến nay, phép dạy chưa có chuẩn tắc, phải nên định rõ quy thức, để cho người dạy có chỗ noi theo, mà học trò nhờ được tiến ích.

    1) Xét thực người chăm hay lười để khuyên răn : học sinh tôn học, trong mỗi quý, xét số ngày ngồi học nhiều hay ít, cũng nghĩa lý học được thuộc hay không thuộc, văn nghệ tập thành thông hay không thông, chia làm ưu, bình, thứ, liệt, do quan học chính làm sách tâu lên. Hạng ưu thì tăng một nửa nguyên bổng ; hạng bình như thường ; hạng thứ, giảm 1 phần 3 ; hạng liệt, giảm nửa.

    2) Định lại lệ xin nghỉ để phòng lười biếng, phàm gặp ngày huý cha mẹ, cho nghỉ 5 ngày ; cha còn hoặc mẹ còn, thì 3 ngày ; gặp ngày huý ông bà, hay cụ, kỵ, mà cha mẹ mình đều mất rồi, cho nghỉ 3 ngày ; cha còn hoặc mẹ còn thì 2 ngày, như bị đau ốm nhẹ thì điều dưỡng ở trong phòng, nặng thì nghỉ 10 ngày, chưa khỏi lại gia một hạn. Nếu vô cớ thác bệnh, không ở tại phòng thì bị đánh roi”. Vua cho lời tâu là phải.

    Dựng chùa Linh Hựu (ở phía bắc sông Ngự Hà), đặt ty Đạo lục để giữ.

    Sai Nội vụ góp nhặt những miếng vóc đoạn vụn vặt cạp chiếu đem dâng. Vua nhân vịnh thơ để ghi việc, có câu : “Coi được đấy ! Vóc vụn viền chiếu, còn hơn là lấy bao thư làm màn” ((1) Hán thư, Đông Phương Sóc truyện : Hiếu văn Hoàng đế đời Hán góp nhặt các bao thư để chế làm màn.1).

    Đô thống chế Tả dinh quân Thần sách lĩnh Trấn thủ Nghệ An là Nguyễn Văn Hiếu vì ốm miễn chức. Hiếu tự năm ngoái điều vận binh lương về việc biên giới, nhân lam chướng bị bệnh, lâu không khỏi, dâng sớ xin giải chức. Vua y cho, và cho chi toàn bổng. Lấy Thống chế Hậu dinh quân Thần sách là Nguyễn Văn Quế lĩnh Trấn thủ Nghệ An.

    Hai huyện Tuân Nghĩa, Trà Vinh, phủ Lạc Hóa thành Gia Định, dân phiên chuyên nghề làm ruộng, ruộng chỉ nhờ nước triều mà tưới. Từ khi có thuế thuỷ lợi, người lĩnh trưng đắp bờ ngăn để đánh cá, đường nước chảy vì thế không thông, dân sở tại mất nghề sinh lý đem tình trạng khổ ấy kêu lên thành. Thành thần sai khám tâu xin đình thu thuế ấy, tất cả 21 sở (tiền thuế hơn 3.060 quan) cho tiện nghề nông. Vua nói : “Dân ấy đều là con của ta, thiệt người trên mà lợi người dưới thì tiếc gì”. Sai miễn trưng.

    Thống chế lĩnh ấn bảo hộ nước Chân Lạp, án thủ thành Châu Đốc kiêm lĩnh Biên vụ Hà Tiên là Nguyễn Văn Thuỵ chết. Tặng chức Đô thống, gia thưởng 1.000 quan tiền, 5 cây gấm Tống, 10 tấm lụa, 30 tấm vải.

    Đặt quan bảo hộ Chân Lạp văn võ đều 1 người. Lấy Thống chế Nguyễn Văn Tuyên lĩnh ấn bảo hộ nước Chân Lạp, án thủ thành Châu Đốc, kiêm lĩnh Biên vụ Hà Tiên, Tả Tham tri Binh bộ là Bùi Đức Minh hiệp đồng bảo hộ. Chế lại ấn “Bảo hộ Chân Lạp quốc” cấp cho (trước cấp “Bảo hộ đồng chương”).

    Khi Nguyễn Văn Thụy chết, triều đình bàn đặt quan bảo hộ, chưa tìm được người, vừa gặp Tổng trấn Gia Định là Lê Văn Duyệt sai quyền Lang trung là Nguyễn Đăng Giải vào chầu tâu việc, và nói Phó tướng Hữu quân Nguyễn Văn Xuân có thể sai được. Vua gọi Xuân hỏi. Xuân nói : “Chỉ biết vâng mệnh”. Vua nói : “Năm ngoái việc biên giới Nghệ An, khanh đã đi xa xông pha lam chướng, già còn gắng sức, ta thường nghĩ đến không quên, khanh có thể sai đi được, ta đã xét biết. Nhưng khanh đã mấy lần xin nghỉ, trẫm nghĩ những tướng cũ lão thành, ngày càng rơi rụng nên cố lưu lại để dạy bảo bọn hậu tiến, nay há lại còn phiền khanh về việc biên giới xa xôi ư!”. Bấy giờ sai Tuyên và cho Đức Minh giúp việc.

    Dụ Lê Văn Duyệt rằng : “Tuyển chức bảo hộ, Xuân thật làm được, song tuổi ngoại 70, mới được sai kiêm lĩnh Thương bạc, nếu lại sai đi xa ra biên cương thì không phải là an dưỡng vị lão thần. Tuyên còn trẻ, sức khoẻ, cũng quen việc ngoài biên, lại có khanh ở gần, tuỳ việc bảo ban sửa chữa, thế cũng làm được trẫm đã sai rồi đấy. Nay các viên văn võ làm việc, như nguyên phái bang biện Tống Văn Uyển và Trần Chấn, khanh nên xét xem tâm thuật đáng lưu hay đáng triệt, cứ thực tâu lên”.

    Duyệt tâu : “Châu Đốc là nơi địa đầu biên viễn ; mà Chân Lạp lại là nước phiên phụ, dùng người hay hay dở có quan hệ cho việc biên giới. Hai người ấy từ khi phái đi đến nay, mới có ít ngày, cũng không có lầm lỗi gì đáng vạch. Duy thần nghe Uyển khi mới đến đã đòi lấy dầu mỡ, gỗ lạt của người Lạp để đóng thuyền buôn, lại xin lưu lại các sở thuế thuỷ lợi để mưu cầu lợi đánh cá. Chấn ở Lạc Hóa thì bày mưu cho dân phiên kiện cáo điền thổ gây mối tranh giành, đến khi đi Châu Đốc, thì chở nhiều thóc của nhà đi Chân Lạp để buôn bán tranh lợi. Việc làm như thế, hiếu sự và mưu lợi, đã hơi lộ ra tâm thuật không tốt rồi, nếu để lâu, không thể khỏi động đến người ngoài bàn tán”. Tờ tâu đến, vua triệt ngay bọn Uyển về Kinh đợi chỉ. Lương tiền ở thành Châu Đốc, giao cho bảo hộ mới làm kiêm. Rồi đặt ty Bảo hộ thuộc lại, Bát cửu phẩm thư lại đều 1 người và Vị nhập lưu thư lại 10 người.

    Trong Kinh kỳ ít mưa ; quan phủ Thừa Thiên cầu đảo ở miếu Hội đồng, được mưa to.

    Lục dùng bọn bầy tôi cũ ở tiềm để là bọn Nguyễn Xuân Gián 13 người. Bọn Xuân Gián trước bổ Đội trưởng các đội Dực võ. Quản quan là Vệ uý Hồ Văn Khuê tâu xin lục dùng. Vua nói : “Xuân Gián tuổi trẻ thờ trẫm, so với người khác lại tốt, vậy trao ngay cho chức Hiệu uý Cẩm y, thưởng bạc 20 lạng, còn những người kia thì cho chức Cai đội và Chánh đội trưởng ngạch ngoại và thưởng bạc lạng theo thứ bậc”.

    Phủ Trấn Ninh trấn Nghệ An gạo kém (gạo 1 phương giá tiền 4 quan), nhân dân thiếu ăn. Phòng ngự sứ là Chiêu Nội báo lên trấn. Trấn thần thấy số thóc công hiện trữ ở phủ 3.000 hộc, tâu xin tạm chi 1.500 hộc mà chia cấp cho dân, đến khi thu hoạch sẽ nộp điền đủ số. Vua y cho.

    Đặt quản đồn ở ba đồn Gia dũng, Gia uy, Gia nghị thành Gia Định. Thành thần tâu rằng : “Các trại quân đồn điền thuộc thành đã dồn làm 3 đồn, số binh đến 8, 9 nghìn người, Chánh phó trưởng chi, Trưởng hiệu, Đội trưởng, Suất đội, hơn 200 người, đều là đặt tạm ; binh lính chưa quen hàng ngũ, mà giao cho người quản lĩnh vô bằng, sợ khi tới kỳ điều khiển, chưa dễ sai khiến nhanh chóng được. Nay xin đồn thì đặt 1 quản đồn để trông coi tất cả ; từ trưởng chi đến suất đội thì đều cấp bằng thí sai theo như lệ cơ Vũ cự đồn Uy viễn. Hằng năm đến kỳ thuế thì về dân thôi đốc ; việc xong lại theo thành sai phái. Từ Suất thập đến binh lính thì khi xong việc cày cấy đến thành thao diễn 2 tháng, rồi cho về chịu thuế như cũ. Như thế thì quan có chính danh, quân có tướng hiệu, ở dân đã không lo thiệt hại nghề nông, ở binh lại không lo không được dạy bảo. Khi có việc đòi ra, có thể bảo đảm không lỡ việc được”.

    Vua sai bộ Binh bàn tâu : “Cho là việc có quan hệ đến binh chính dẫu không thể để quyền nghi mãi, mà tước mệnh triều đình quan hệ đến việc khuyên thưởng. Vả lại ba đồn ấy, danh thì có chia ra làm chi làm hiệu, mà thực thì là dân đóng thuế, trong một năm, ngày tập luyện thì ít, ngày cấy gặt thì nhiều không phải ví như quân tòng ngũ dài hạn được. Các đầu mục tuy do thành quyền đặt, nhưng việc đã từng tâu lên và được phép không thể bảo là vô bằng được. Tức đến khi có việc sai ra trận mạc thì tự có phép quân ở đấy, há lại để cho họ trông ngóng mà không thể sai khiến theo mệnh lệnh được ư ! Nay lấy số nhiều đến hơn 200 người, mà nhất khái cho thí sai cả thì sợ không phải là trọng danh khí. Xin sai thành thần chọn ra Quản vệ hoặc Quản cơ ai làm được việc, ghi tên tâu xin cho lấy bản chức mà kiêm lĩnh công việc quản đồn, để cho có thống thuộc. Từ trưởng chi trở xuống, thì cứ quyền sai như cũ, đợi có ai ra sức cố gắng mà sai phái được việc thì cho thành bảo cử, sẽ lượng cho lục dụng. Như thế mới ngăn cấm được sự quá lạm mà tỏ sự khuyến khích”. Vua cho là phải.

    Thành thần Gia Định tâu rằng : “Hai huyện Tuân Nghĩa và Trà Vinh thuộc phủ Lạc Hóa đều là dân Man Lão, mới theo phong hóa người Kinh, cần phải có người dạy bảo, cho họ tập quen. Nay huyện Tuân Nghĩa đã có Huấn đạo, thì Trà Vinh cũng nên đặt Huấn đạo”. Vua y cho.

    Đất ruộng các xã thôn ven núi của huyện Yên Mô thuộc Ninh Bình thấp trũng, lúa vụ hạ cấy muộn tháng năm lại bị gió và nắng làm hại, đạo thần đem tai nạn tâu lên. Vua sai bộ Hộ bàn tâu. Cho là : “Ruộng đất tuỳ nơi, có nơi khô ráo, nơi ẩm thấp khác nhau. Nhà nông cày cấy cũng phải biết thời sớm muộn. Nếu không thuận theo thời vụ mà cưỡng làm, thì lúa tất không tốt được, không thể đổ tội cho mùa. Vả lại ruộng chiêm ở Yên Mô, cứ tháng 9 gieo mạ, tháng 10 cấy, tháng 5 gặt. Nay dân đó không chăm đồng ruộng, nên tháng 5 lúa mới đâm bông, là bởi cày cấy muộn quá, thật lỗi tự mình làm. Còn gió nam và nắng nực là đúng với tiết hậu tháng 5, cho là thiên tai, thì có phải không ? Đạo thần khám báo sơ suất xin xử phạt. Đồng ruộng tổn hại không ở lệ giảm thuế”.

    Vua nói : “Lời bàn của bộ phải đấy ; nhưng nghĩ năm nay lúa vụ hạ các hạt đều được mùa, độc có dân ấy vì cày cấy hơi muộn đến nỗi tổn hại. Cả dân được mùa không khỏi có kẻ đứng xó mà khóc. Có thể cứ án khám mà chiếu lệ bàn giảm thuế cho. Đến như địa phương khám báo là muốn để bề trên biết ẩn tình của dân, cũng miễn tội cho. Từ sau các hạt như có tình hình mất mùa thì nên khám thực tâu lên. Chớ được vin lấy lần này làm việc sai lầm, bộ nghị xử mà ngại và im lặng không dám báo”.

    Lấy Viên ngoại lang Công bộ là Đoàn Văn Phú làm Lang trung Công bộ, Nguyễn Công Tú làm Lang trung Binh bộ theo Binh tào thành Gia Định làm việc.

    Vua xem bản đồ toàn hạt Bắc Thành do binh mã phó sứ Đỗ Phúc Thịnh dâng lên, bảo bầy tôi rằng : “Ta từng xem bản đồ cả nước không nơi nào hơn Phú Xuân. Nhân nhớ đến khi trước các thánh mở mang, kiến thức cao xa, không phải đời sau sánh kịp”.

    Chuẩn định cho hai ty Tả hữu Từ tế, mỗi ty đặt Từ tế phó sứ 1 người, Miếu lang, Miếu thừa, Chánh bát cửu phẩm thư lại đều 2 người (Năm trước đặt Từ tế đại sứ, để quản lý hai ty Tả hữu Từ tế, về sau lại đặt mỗi ty Phó sứ 1 người ; còn chức Miếu lang, Miếu thừa và thư lại thì chưa có định ngạch ; đến nay mới ghi làm lệ).

    Lấy Tham hiệp Định Tường là Lê Hữu Đức làm thự Hiệp trấn Bình Thuận.

    Chuẩn định các hạng biền binh ở Kinh, hằng năm cứ mồng 1 tháng 7 thì chia ban. Mỗi lần đến kỳ thì Binh bộ đều theo lệ nên chia làm 2 ban hay 3 ban chước lượng làm sách tâu lên, ghi làm lệnh mãi mãi. Binh bộ tâu xin quê ở gần như Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, thì chia 2 hay 3 ban cũng đều mỗi tháng một lần đổi ; quê ở xa như Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Thanh Hoa, thì 2 ban 3 tháng một lần đổi, 3 ban 2 tháng một lần đổi.

    Vua nghe theo. Duy có vệ Hổ uy trung cho về quê nghỉ ngơi thì không ở lệ chia ban.

    Các trấn, phủ, huyện thuộc Bắc Thành, các bản án để chồng chất nhiều, thành thần làm tập tham tâu lên. Vua dụ sai nghiêm sức, hạn trước ngày Đông chí phải kết xong đệ lên, làm trái sẽ giao nghị xử.

    Định quy thức giấy và trục cáo sắc. Trước kia Lại bộ bàn định việc cấp cáo sắc cho chức quan. Vua sai bàn lại, viết cáo sắc nên dùng giấy và trục hạng nào. Đến bấy giờ bàn định dâng lên, cho là cứ tra trong Thanh điển lệ chức tạo của ty Đô thuỷ thuộc Công bộ nói rằng : “Cáo mệnh từ Tứ phẩm trở lên, dùng tơ gai năm sắc ; Ngũ phẩm trở xuống thì ba sắc. Sắc lệnh thì dùng lĩnh trắng ; Nhất phẩm thì trục bằng ngọc, mặt sắc bằng gấm thêu bạc ; Nhị phẩm, trục bằng sừng tê, mặt bằng gấm thêu ly ; Tam tứ phẩm thì trục bọc vàng, Ngũ phẩm trục bằng sừng, mặt đều bằng gấm hoa ; Lục phẩm trở xuống, trục cũng như Ngũ phẩm, mặt gấm hoa chùm nhỏ”.

    Lại lệ kho chế tạo nói rằng : “Từ Trấn Quốc công trở xuống, Phụng Ân tướng quân trở lên, cấp cáo, giấy rộng 1 thước, dài 1 trượng 6 thước vẽ rồng vàng, trục bằng ngọc, tiêm bằng ngà. Lại nói quan văn võ có công phong tước, cấp sắc dài 1 trượng bằng giấy vàng, chung quanh vẽ rồng. Như thế là người Thanh đối với quan chức từ Cửu phẩm trở lên, cáo sắc dùng gấm vóc ; Quốc công trở xuống cùng quan văn võ phong tước thì cáo sắc dùng giấy. Trong đó dùng lụa hay giấy không giống nhau, nhưng đều là sự vẻ vang được vua ban cho. Thiết nghĩ nước ta không có phường dệt gấm, nếu cứ dùng tơ lụa mà giao cho thợ thêu thêu vào thì nhân công tốn quá, vả lại từ trước đến nay, cáo sắc truy tặng đã dùng gấm vóc, nếu cáo sắc thăng thụ thực thụ, cũng lại dùng thế, thì hình như không phân biệt. Nay xin chiếu theo lệ cáo sắc bằng giấy của người Thanh mà chước định các thức giấy ban cho các quan. Chất giấy cần được mềm, dai, bóng láng, sắc dùng mầu vàng tươi, vẽ dùng vàng bạc, để phân biệt trang sức ; dùng long (rồng năm móng), giao (rồng bốn móng) và các thức hoa để phân biệt hoa văn ; toàn thân tờ giấy thước tấc dài ngắn cho khác nhau, đầu trục dùng đồi mồi, ngà, sừng, để làm thứ bậc. Như thế thì các quan chức được cáo sắc đều biết cái vẻ vang làm quan nổi tiếng, mà tờ giấy bền tốt, cũng có thể giữ làm vật báu lâu dài”.

    Vua y lời bàn (Nhất phẩm, dùng giấy rắc vàng hạng nhất cao 1 thước 4 tấc, dài 4 thước 5 tấc mặt giấy vẽ rồng lớn mây dày, quanh bốn bên vẽ văn rồng, sau lưng vẽ tứ linh ; Nhị tam phẩm dùng giấy hạng nhì rắc bạc mạ vàng cao 1 thước 3 tấc, dài 4 thước, mặt giấy vẽ rồng lớn mây dày, bốn bên vẽ mây liên tiếp ; sau lưng vẽ lân và phượng ; Tứ ngũ phẩm, dùng giấy hạng ba rắc bạc mạ vàng cao 1 thước 2 tấc, dài 3 thước 5 tấc, mặt giấy vẽ rồng lớn mây thưa, bốn bên vẽ văn liên đằng, dây sau lưng vẽ cổ đồ ; Lục thất phẩm dùng giấy hạng tư rắc bạc, cao 1 thước 2 tấc, dài 3 thước 2 tấc, mặt giấy vẽ rồng mây, bốn bên vẽ văn liên đằng ; Bát cửu phẩm dùng giấy hạng năm rắc bạc cao 1 thước 2 tấc, dài 3 thước 1 tấc, mặt giấy vẽ giao long và mây, bốn bên vẽ văn liên đằng. Nhất nhị tam phẩm thì đầu trục dùng đồi mồi ; Tứ ngũ lục thất phẩm, đầu trục dùng ngà voi ; Bát cửu phẩm, đầu trục dùng sừng trâu trắng, thân trục bằng gỗ ; đầu trục đều dài 5 phân).
  • Chia sẻ trang này