0059.088 - @ nhani78 (Done WK)

29/12/15
0059.088 - @ nhani78 (Done WK)
  • PDF
    GoogleDocs


    :rose::rose:
    Mùa thu, tháng 7 mồng 1 lễ Thu hưởng.

    Gọi thự Hữu Tham tri Binh bộ lĩnh Binh tào thành Gia Định là Hoàng Văn Diễn về Kinh. Lấy Tham hiệp Quảng Ngãi là Trần Đăng Nghi làm Lang trung Binh bộ, thự Hữu Thị lang, Biện lý Binh tào thành Gia Định.

    Thị lang Nội vụ phủ là Trần Văn Hoằng có tội bị cách chức. Trước kia phái viên mua gương sáng của nước Phú Lãng Sa ((1) Phú Lãng Sa : nước Pháp.1), Nội vụ để không đúng phép, đến nỗi bị nhiều vết mờ. Hoằng mưu đồ che giấu, thiện tiện ở đơn hàng, chỗ không ghi có vết, chua làm có vết. Lại làm sổ giữ mập mờ tâu được chuẩn y. Đến bấy giờ việc phát ra, Hình bộ nghĩ xử tội đồ.

    Vua gia ân, đổi làm cách chức, phát vãng làm binh ở cơ Định man đạo Cam Lộ. Người đồng sự là Lang trung Nguyễn Đức Trinh, Nguyễn Văn Công đều bị giáng làm Tư vụ ; nguyên phái viên là Chưởng cơ Lê Thuận Tĩnh vì đồng tình thuận theo, giáng làm Vệ uý Thị nội.

    Sai thự Tả Tham tri Hình bộ là Trương Minh Giảng quyền lĩnh Nội vụ phủ. Gặp Giảng bị bệnh, lại sai Tả Thị lang Công bộ là Lê Vạn Công giúp việc. Sắc rằng phàm Nội vụ chế tạo đồ vật, thì hội đồng Văn thư phòng và Thị vệ xem nghiệm rồi đề vào sổ chi tiêu.

    Chức bảo mục đồn Phong thu châu Chiêu Tấn, trấn Hưng Hóa là Điêu Quốc Lân bị người Thanh vượt qua bờ cõi bắt đi. Thành thần tâu lên. Vua dụ rằng : “Bờ cõi Nam Bắc đã rạch ròi, há được như thế ư ?. Đấy là tại trấn thần phòng giữ không nghiêm nên chúng được đi lại tự do. Lập tức phái người quyền giữ bảo sở”. Trấn thần bị giáng chức.

    Đốc học Vĩnh Thanh là Lê Đình Tá ốm. Lấy Đồng tri phủ phủ Đức Thọ là Nguyễn Văn Thanh thay.

    Lấy Vệ uý vệ Tuyển phong tiền là Trần Văn Lộc làm Thống quản thập cơ Kiên nhuệ thuộc Tả quân.

    Lang trung Hộ bộ là Bạch Xuân Nguyên từ nước Xiêm về. Sai đi Quảng Trị hội đồng với Tham hiệp Hà Duy Phiên làm việc tỉnh.

    Giặc biển ở Quảng Yên là bọn Quệ Lục, họp hơn 10 chiếc thuyền vây thuyền buôn đậu ở vụng Vạn Thổ. Vừa Tham hiệp Phan Thế Chấn ở châu Tiên Yên nghe báo đến cứu. Bọn giặc rút đi. Thành thần đem việc tâu lên. Vua nói : “Miền biển thuộc hạt thành, trước thuyền giặc vẫn thường ra vào, đã từng sức cho thành trấn tra bắt, đến nay lại còn có bọn giặc sinh sự như thế, thì gần nay, làm được việc gì ? Chẳng qua vâng mệnh cho qua chuyện thôi”. Bèn phạt bổng các quan thành và trấn, sai phái thêm binh thuyền đi lùng bắt.

    Được vài ngày, giặc lại đến cướp thuyền buôn ở cửa Đầm Hà. Trấn thần sai Cai đội Hữu quân là Nguyễn Văn Đức đem binh ứng tiếp. Đức mới gặp giặc, thì bỏ thuyền chạy. Bọn giặc bèn vào sở thuế quan cửa rừng Cẩm Phả cướp hết tiền thuế, binh khí, sổ sách rồi đi.

    Vua cho Thế Chấn là ra trận không biết điều độ, cách lưu Trấn thủ Nguyễn Văn Đoái giáng 4 cấp, thự Hiệp trấn Lê Đạo Quảng giáng 3 cấp ; Nguyễn Văn Đức vì rụt sợ lui, xử trảm giam hậu. Bấy giờ Đoái thân hành đốc suất quan binh thành trấn đuổi đánh đến cửa Mô Hải, cướp được 3 chiếc thuyền, chém được hơn 10 đầu giặc, bắt sống hơn 10 tên, thu được khí giới rất nhiều. Giặc chạy trốn xa. Được tin thắng trận vua dụ thưởng trả lại cho Nguyễn Văn Đoái 3 cấp, các quan binh ra trận đều được gia thưởng phẩm cấp, kỷ lục tiền bạc theo thứ bậc. Người đánh giặc mà chết hay bị thương thì cấp tuất. Tướng giặc là Lục Quệ sau bị Trần Quý bắt được, giải sang nước Thanh.

    Định lại ngạch thuyền cho Nghệ An, Bắc Thành và các trấn trong thành hạt. Nghệ An, trước có 5 thuyền hiệu Lãng, nay đổi làm 10 chiếc. Bắc Thành, trước có 5 thuyền Hải đạo, nay đổi làm 6 chiếc ; trước thuyền ô, thuyền lê đều 5 chiếc, nay đổi làm mỗi thứ 8 chiếc. Nam Định, trước 5 thuyền Hải đạo, nay đổi làm 6 chiếc, trước 10 thuyền Điện hải nay đổi làm thuyền ô 3 chiếc, thuyền lê 2 chiếc. Hải Dương, trước 10 thuyền Điện hải nay đổi làm thuyền Điện hải, thuyền ô, thuyền sam bản đều 5 chiếc. Quảng Yên, trước 10 thuyền Điện hải, nay đổi làm thuyền Điện hải, thuyền ô đều 5 chiếc.

    Sai Quảng Nam chiếu thu số đường cát, đặt tiền công mua 150.000 cân. Lại mua thêm 268.000 cân, làm kho chứa ở Đà Nẵng.

    Từ tế sứ ty Từ tế gia hàm Thị lang là Tôn Thất Điêu, dâng sớ cử Tôn Thất Trung, Tôn Thất Thận sung bổ Bát phẩm thư lại ở ty Tả từ tế. Bọn Trung trước có lỗi bị cách, mà không nói rõ, sau việc phát giác sợ hãi xin nhận tội. Việc giao xuống bộ Hình bàn. Điêu vì cử dùng quan lại có lỗi bị cách chức.

    Thả cho biền binh 6 đội Thường trực và 2 đội Ngân sang nhất nhị vệ Cẩm y về Gia Định thăm nhà, đến kỳ vận tải sang năm, đều trở lại hàng ngũ ở Kinh.

    Đổi ty Chiêm hậu của Khâm thiên giám làm ty Kính cẩn (sau đổi chữ Kính
    làm chữ Khác ).

    Khai mỏ vàng ở Cao Bằng, Lạng Sơn và mỏ đồng ở Thanh Hoa (mỏ vàng Vĩnh Giang ở Cao Bằng, mỏ vàng Hữu Lân ở Lạng Sơn, mỗi năm thu thuế vàng đều 3 lạng ; mỏ đồng ở núi Biều Mỗ, Thanh Hoa, mỗi năm thu thuế đồng 400 cân).

    Tham hiệp Quảng Yên là Phan Thế Chấn bị cách. Chấn khi trước làm Tham hiệp Sơn Nam, can án vỡ đê, đáng bị tội đồ, nhưng vì phần năm làm việc chưa rõ, có chỉ giao cho bộ Hình tra xét. Bấy giờ tâu lên, xin y án nghị. Vua gia ân đổi làm cách chức phát làm binh hiệu lực ở Bắc Thành.

    Chuẩn định việc thu thuế gỗ lim hằng năm ở Nghệ An. Định cứ nửa năm phải báo bộ, không được để quá cuối tháng 7 ; đầy năm làm sách tâu, cứ trung tuần tháng giêng sang năm đệ đến. Ghi làm lệ.

    Lấy Chưởng cơ gia Thống chế hàm là Hồ Văn Trương cho thự Thống chế quân Thần sách Hữu dinh vẫn lĩnh Trấn thủ Thanh Hoa.

    Lấy Phó thống Trung đồn Hậu quân là Nguyễn Văn Tam làm Vệ uý Hậu bảo nhị, Quản cơ Đỗ Công Nghị làm Phó vệ uý Tiền vệ Thần cơ tiền.

    Tổng trấn Gia Định là Lê Văn Duyệt ốm. Vua nghe tin sai Thị vệ đem cho nhục quế, lại phái thái y đến điều trị.

    Định lệ thuế ở các phủ huyện đất mới thuộc Thanh Nghệ. Lễ bộ tâu rằng : “Phủ Trấn Man ở Thanh Hoa và 3 phủ Trấn Ninh, Trấn Định, Trấn Biên ở Nghệ An lần lượt quy phụ, kỳ cống đều được hoãn. Vả lại họ đã lệ thuộc vào bản đồ nước ta, làm dân biên giới nước ta đã đặt quan lại để cai trị, xin nên bãi lệ cống mà đánh thuế như ngạch thuế chính cung ở ngoài sau trấn Bắc Thành”. Đình thần bàn cho phép thuế vốn nên lấy đinh điền làm chính, duy việc cai trị trong ngoài kỹ lược không giống nhau, chỉ nên tuỳ tiện mà lượng định, để cho dân biên giới biết nghĩa người dưới phụng người trên. Tức như thuế đinh dân thổ ở sáu ngoại trấn Bắc Thành (mỗi đinh tiền thuế thân 5 tiền, 30 đồng, tiền đầu lạt 1 tiền, tiền điệu 3 tiền, gạo cước 1 bát) chỉ bằng nửa thuế dân Kinh ở năm nội trấn ((1) Năm nội trấn : Sơn Nam thượng, Sơn Nam hạ, Hải Dương, Sơn Tây, Bắc Ninh.1) đều là tuỳ thời mà đặt thuế, để cho nặng nhẹ khác nhau. Nay bốn phủ ((2) Bốn phủ đất mới : phủ Trấn Man ở Thanh Hoa, phủ Trấn Ninh, Trấn Định, Trấn Biên ở Nghệ An.2) đều mới quy phụ, không như dân biên Bắc Thành, thấm nhuần giáo hóa đã lâu. Nếu đánh thuế theo ngạch thuế sáu trấn, thì việc mới đặt mà danh hiệu lại phức tạp sợ không thoả được hy vọng của người xa. Xin định làm thuế đinh khẩu, không kể phìa tạo ((3) Phìa tạo : tù trưởng thổ mục ở miền núi.3) tráng đinh lão ấu, mỗi đinh hằng năm nộp 2 đồng cân bạc. Phòng ngự sứ và Thổ tri huyện, Huyện thừa chiếu ngạch mà trưng thu, đều nộp cho sở tại, lấy sang năm bắt đầu. Còn phủ Trấn Man thì trước phải cung các thứ bạc tốt, gấm vóc, sáp ong, thì đều bãi.

    Đến như số ruộng nương của các phủ mỗi năm đổi chỗ không giống ruộng ở trung châu có định sở, cho nên thuế ruộng thật khó định. Thảng hoặc có việc điều độ bất kỳ tuỳ nơi mà lượng thu thóc gạo cũng đủ cho việc nhu dụng biên phòng. Vậy bất tất phải ghi thuế chính cung hằng năm làm ngạch nhất định. Như gặp lễ mừng thì cho đều sắm sản vật địa phương về Kinh chúc mừng để tỏ lòng vui”. Nhà vua y lời bàn.

    Châu Ninh Biên trấn Hưng Hóa có động Mường Tôn, năm Minh Mệnh thứ 8, tự đặt tên là Man Soạn cùng các huyện Xa Hổ, khẩn cầu quy phụ, đã cho quan chức lệ vào phủ Trấn Biên thuộc Nghệ An, nhưng châu Ninh Biên hằng năm vẫn cứ thu thuế. Đến nay lệ thuế các phủ huyện đất mới đã định, Thổ tri huyện là bọn Tạo Công, Nho Tha lo phải chịu thuế nặng, đem tình trạng kêu lên, trấn thần Nghệ An vì họ tâu lên. Vua bèn sai bỏ sổ cũ vẫn lệ vào phủ Trấn Biên.

    Sai sáu bộ chọn Cử nhân các khoa và thuộc viên từ Quảng Bình vào nam, ai là văn học giỏi giang hạnh kiểm khá khen và chữ viết ngay thẳng, tính toán tinh thông thì tâu lên. Các bộ thần chọn được bọn Cử nhân Nguyễn Song Thanh, Thư lại Hoàng Văn Suý 7 người. Đều cho sung bộ hành tẩu Văn thư phòng.

    Bổ Vũ Xuân Cẩn làm Hữu Thị lang Hình bộ vẫn Biện lý Hình tào thành
    Gia Định.

    Bộ Lại tâu rằng : “Phủ Đức Thọ Nghệ An, nguyên 6 huyện từ nay lấy các huyện Thanh Chương và Chân Lộc lệ vào phủ Anh Sơn, chỉ còn 4 huyện đã là nơi giản khuyết ((1) Giản khuyết : phủ huyện ít việc.1) thì chức phủ đồng tri đặt trước nghĩ nên bớt đi”. Vua cho là phải.

    Vua dụ hai bộ Hộ, Binh rằng : “Miền đất duyên hải Hải Dương và Quảng Yên thuộc hạt Bắc Thành, phần nhiều là nơi đầm vực để cho giặc biển ẩn nấp, mà trong đó thì Đồ Sơn ở Hải Dương lại càng xung yếu, trẫm từng hạ lệnh cho thành thần chọn đất đặt đồn, đó là muốn trừ tuyệt giặc giã để dân ở yên. Rồi vì việc bắt giặc hơi thư nên lại đình chỉ, nay hai trấn ấy tăng thêm ngạch thuyền, đủ để tuần phòng, nên dụ sai thành thần phái người đi xem trên dải Đồ Sơn, chỗ nào nên đặt pháo đài thì đem binh đến đóng giữ để trấn áp bờ bể, đất Quảng Yên chỗ nào nên đặt đồn tấn giữ thì bàn tâu một thể. Lại Quảng Yên là nơi bờ bể hẻo lánh, ruộng đất ít ỏi, cho nên gạo ăn dân đều nhờ ở Hải Dương, Nam Định. Trước nghe nói nhiều người mượn cớ đong gạo ăn mà đem bán trộm cho thuyền giặc, mối tệ như thế không thể không trừ. Nay các châu Vạn Ninh, Vân Đồn tình nguyện mua gạo để ăn có nên hay không tính theo nhân khẩu mà định số gạo, để chờ kho Hải Dương chiếu giá bán ra. Khiến dân không đến nỗi thiếu ăn, cũng không được vì tham lợi mà xoay thành giúp lương cho giặc, nên làm thế nào cho mười phần ổn thoả, làm được mà không có tệ, thì bàn tâu lên”.

    Thành thần hội đồng với các tào thần bàn tâu, cho là : “Đặt pháo đài thì phải có thuyền bè mới có thể phòng vệ nghiêm được. Một dải Đồ Sơn, đều không có chỗ nào có thể đậu được thuyền, thì pháo đài nghĩ nên đặt đúng nơi ấy trong sông ngoài biển, bốn phương năm ngả đều thông, không thể không phòng bị được. Gần đây, có 2 xã Minh Liễn, Thù Du, đất giáp ngã ba sông, phía đông có các trấn Dâm Hải, Khôi Hải và Nam Triệu, phía tây có sông Hương La, phía nam có đò Giai, đò Hồng, phía bắc có các sông Đạt Cung, Đạt Cấm đều chảy về đấy, nhánh sông nhiều ngả, bọn gian thường ẩn nấp ở đấy thật là xung yếu, mà ở đấy có thể để thuyền. Xin đặt một đồn lớn phái một viên Quản cơ ở thành lĩnh 50 lính miền Nam, 100 lính miền Bắc và 4 chiếc thuyền đến đấy đóng giữ, lúc vô sự thì theo hạt mà đi tuần xét, hữu sự thì ra sức đánh bắt. Như thế mới có thể trấn áp được miền ven biển.

    “Lại như đồn Yên Khoái cũ ở Quảng Yên, hơi gần cửa biển Hoa Phong, trong có sông lớn, ngoài có biển lớn, cũng là chỗ xung yếu ở ven biển. Song nơi đồn cũ địa thế chật hẹp, xin mở rộng thêm đắp luỹ đất, làm nhà trại, phái quan binh ở thành 100 người và thuyền 2 chiếc để đóng giữ ở đấy.

    “Lại đất xã Minh Châu ở Vân Đồn ở ven biển, phàm thuyền người Thanh lẻn đến đậu ở bãi Giáp ra vào hai cửa biển, và đi qua phần biển Hoà Phong ở đấy mà trông thì chỗ nào cũng thấy cả. Xin đặt một đồn nhỏ, bắt một người thổ hào sở tại cùng 30 người thủ hạ đóng giữ đấy.

    “Đến như các đồn Cẩm Phả, Đồng Tôn, Trí Xuyên, Vị Lại, Bắc Nham, Định Lập ở châu Vạn Ninh đều là đất xung yếu lợi hại cả, trước đã có đặt đồn, phái thêm số ngạch binh lính và thủ hạ : Vạn Ninh thì trấn binh và thủ hạ đều 50 người ; ở Cẩm Phả thì trấn binh 50 người, ở Bắc Nham, Đồng Tôn, Trí Xuyên, Vị Lại thì thủ hạ đều 30 ; ở Định Lập thủ hạ 20 người, đều cứ đồn đóng giữ y như đồn lớn. Như thế thì ngăn giữ cũng nghiêm hơn mà yên được miền biển”.

    “Đến như các châu Vạn Ninh, Vân Đồn ở Quảng Yên, ruộng đất ít, dân chỉ chuyên nghề đánh cá, hoặc đem cá muối chuyển bán ở Hải Dương, Nam Định mà mua thóc, hoặc dân Hải Dương, Nam Định chở thóc gạo đến đổi, đem chỗ có đến chỗ không thật là mối lợi vô cùng.

    “Nhưng bọn buôn gian lặt vặt, vẫn thường bán trộm ở ngoài biển để cầu chút lợi nhỏ nhen. Hiện đã có điều cấm, nhưng sự gian ở ngoài pháp luật chưa thể trừ hết được. Nay định lệnh tính nhân khẩu mà đong gạo, là muốn không cần cấm mà mối tệ tự bỏ, để trở lại tốt cả. Lại chiếu nhân số trong số ở hai châu cùng số dân ngụ cư không có trong sổ ước chừng hơn 3.000 người, mỗi tháng chi dùng số thóc hơn 3.000 hộc, xin hạ lệnh cho trấn thần cứ lý dịch sở tại cam kết cấp bằng cho đến kho Hải Dương nộp tiền lĩnh thóc, lấy cứ 3 tháng làm một lần. Song hãy thử làm 2, 3 năm, nếu mười phần ổn thoả thì sẽ thi hành mãi mãi. Nhưng cũng chưa dám chắc. Vì xứ ấy ở hẻo lánh nơi hải đảo, đường bộ không thông, mà từ đấy đến Hải Dương, đi về đường thuỷ không dưới 9, 10 ngày, người nghèo kiếm được 2, 3 quan tiền chắc cũng đã khó, lại vượt đi đường thuỷ xa xôi hằng tuần mới đong được 1, 2 hộc thóc, phí tất gấp bội, thế không khỏi bị bọn hào phú bao mua cả để kiếm lợi, mà dân nghèo cuối cùng chẳng được nhờ cậy gì. Kể ra địa giới Quảng Yên, tiếp giáp nước Thanh phía bắc liền với Lạng Sơn, Cao Bằng, phía nam ra biển lớn, cũng là một trấn mạnh ở nơi biên thuỳ thế mà thóc gạo có ít, tuy có hai huyện An Dương, Thuỷ Đường nộp thuế về đấy, số thu vào một năm bất quá chỉ hơn 12.000 hộc. Nếu có việc cần kíp thì lấy gì để chi. Vả lại 7 huyện thuộc phủ Kinh Môn, Hải Dương tiếp giáp với Quảng Yên đường thuỷ lưu thông, xin cho nộp thuế về Quảng Yên. Trong 3 năm kho thóc hơi thừa thãi thì theo lời bàn trước của trấn thần, xét số người số gạo, mà bán ra thì không những kho thóc của trấn chứa mỗi năm tăng lên, mà dân đi lĩnh mua được cũng gần tiện”.

    Sai đình thần bàn tâu. Cho là việc đặt đồn bảo, lời bàn của thành thần là đúng. Duy có việc “Quảng Yên đong gạo” vì nhiều dân kiếm ăn buổi sớm buổi tối mà đi lại phí tổn thì không khỏi ngặt nghèo thì cách ấy không thể thi hành lâu được. Đến như điều xin 5 huyện phủ Kinh Môn nộp thuế thóc về Quảng Yên, thì đường sông quanh co, sự chuyên chở đã là không tiện, mà thóc nộp ở Quảng Yên, tiền nộp ở Hải Dương, thuế của một dân mà chia nộp ở hai nơi, cũng không phải là phép hay để thi hành lâu mãi. Vả lại 3 châu của Quảng Yên, từ trước đến nay, vẫn đem cá muối của xứ mình sản xuất đổi lấy thóc gạo xứ khác, cái sinh sống là ở đấy. Nay lo kẻ gian, mà cấm sự đi lại buôn bán thì nhân dân nơi bãi biển lấy gì mà sống được. Huống chi việc bán trộm thóc gạo đã có điều cấm, địa phương biết nghiêm ngặt kiểm soát, kẻ phạm tội thì trị tội, thì con buôn gian giảo biết sợ, mà mối tệ có thể trừ được. Vậy dân Quảng Yên xin cho cứ mua bán như trước, tự đong gạo mà ăn là tiện”.

    Vua cho là phải. Sắc cho thành thần hằng năm phái người vận tải thóc kho Hải Dương đến Quảng Yên cho đủ trên dưới 30.000 hộc.

    Vua dụ bộ Hình rằng : “Từ trước đến nay văn án các địa phương, cứ theo thứ tự mà xử đoán. Như huyện nha có bị dân kiện lại, bắt đầu ở phủ, sau đến trấn, có khi trấn lại giao về phủ. Kể ra phủ và huyện, trách nhiệm chuyên một nhà cũng như nhau, không như trấn có quyền thống nhiếp, nay cho phủ xét huyện thì có được không ? Vậy cho từ nay nếu huyện bị dân kiện thì do trấn tra xét, phủ nha không được nhận đơn”.

    Chia phát Cử nhân, Giám sinh đi hậu bổ ở các địa phương, vì Gia Định và Bắc Thành đường xa, cho được nhân việc công mà đi trạm đến.

    Sai Thượng thư Lễ bộ là Nguyễn Khoa Minh kiêm lĩnh Thái thường tự.

    Sửa sang lăng tẩm Thuỵ Thánh ((1) Lăng tẩm Thuỵ Thánh : lăng Hiếu khang Hoàng hậu, mẹ sinh ra Nguyễn Ánh.1).

    Hạt phủ Thừa Thiên có thuyền buôn chở thuê cho người Thanh đi đong gạo. Việc phát, phủ thần khinh suất nghị xử người mua trộm cùng người chở gian đều tội trượng, người biết chuyện (mà không tố cáo) tội xuy. Hình bộ duyệt lại, không trích ra việc ấy. Lang trung Vũ Đức Mẫn dâng bài lục đầu((2) Bài lục đầu : cái thẻ bài ghi chép đầu mục các án.2) lại không dâng bản án ; chỉ đem phiếu nghị án tiến trình thôi. Vua chiểu nghị phê điểm. Sau liền nhớ ra, sai tìm bản án, thấy án ấy nghị xử có nhiều chỗ buông nhẹ, giao xuống bộ Lại bàn. Bộ xin xử tội quan đường bộ Hình giáng 2 cấp và đổi đi, Vũ Đức Mẫn cùng phủ thần Thừa Thiên giáng 3 cấp đổi đi.

    Vua gia ân cho bộ thần Hoàng Kim Xán, Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Danh Giáp, đổi giáng 1 cấp lưu ; phủ thần thì Nguyễn Văn Phượng cách mất hàm thự Thống chế, Đặng Đức Thiệm và Thang Huy Thận thì đổi làm giáng 2 cấp lưu ; Vũ Đức Mẫn thì y lời nghị giáng Hàn lâm viện Thị giảng. Phạm nhân là người mua trộm và người chở gian, thì phát đi làm lính ở cơ Định man đạo Cam Lộ ; người tri tình thì bị tội mãn trượng ((3) Mãn trượng : 100 trượng.3). Thống chế Phạm Văn Điển khinh suất cấp cho giấy đi đường thì phạt bổng 6 tháng.

    Vua thấy thói tệ của quan lại địa phương phần nhiều chưa trừ được, dụ bộ Lại rằng : “Điều cốt yếu trong việc trị nước, trừ tệ là đầu. Tất phải thường có lời cảnh cáo, khiến biết lấy làm răn đe thì việc trị nước mới tốt được. Vả lại sắc mệnh triều đình là để khen thưởng, khuyến khích người khó nhọc và tài năng. Năm trước, các nhân viên đáng được cáo sắc, thì khoản tiền đóng ấn và viết sắc hiện đã đình chỉ rồi. Gần đây các địa phương khi có chiếu sắc lịch mới và cấp giấy thông hành, thường thường cũng có giữ lại để vòi tiền ; đến như các sở cửa quan, bến đò cũng nhiều khi thác sự để trở ngại, mối tệ rất nhiều. Nếu không nghiêm sức răn cấm thì làm sao trừ tuyệt được. Lại như các nha môn xử án phải theo thứ tự mà kết xử đệ trình, đó là muốn hai ba lần xét rõ, cho được thực tình và đều giữ ý kiến của mình để xem việc phân tích ngục án thế nào. Nhưng từ trước đến nay, gặp có việc án, chỉ làm bản ước lược đóng dấu vào giấy không, mà phái đệ lên, không bàn gì đến tình lý có đáng hay không, để cho lại điển thượng ty muốn làm thế nào thì làm, nghị xử các án đều do một tay họ cả, đến nỗi người giảo quyệt được tự ý làm nặng nhẹ, rồi theo đấy mà sách nhiễu. Lại như viên phủ huyện muốn nịnh quan trên, mượn cớ đệ án lên trấn ở lỳ hằng tuần hằng tháng, khiến việc quan ở nha, đều để đọng lại, đến lúc kết nghĩ, chẳng qua do người xếp đặt. Như thế thì trách nhiệm chuyên nha ở đâu ? Nếu không khuyên bảo lại thì lại đến cứ theo thói cũ thôi. Từ nay, các nha môn trong ngoài, như các viên văn võ được chiếu văn và lịch mới ban hành, hễ tiếp nhận thì phải cấp ngay cho người ta. Người xin giấy thông hành, nên cấp thì cấp cho. Sở cửa quan, bến đò nào không thu thuế thì y lệ xét hỏi kẻ gian. Nếu khách buôn đi lại xem đích có thông hành thì cho đi ngay, không được đòi hỏi ngoài lệ. Lại việc án, chiếu hạn kết nghĩ xong thì cho uỷ giao lại mục lĩnh đệ lên, viên phủ huyện không được thiện tiện dời bỏ chức vụ. Ví thử thẩm đoán chưa đúng, thì thượng ty xử phân lại một thể. Nếu có án tra xét chưa rõ khó kết xong thì phải bày rõ duyên do, chua rõ ngày tháng mà giao về nghĩ xử lại, không được lơ là theo thói cũ, cứ chấp mê mà cố ý làm sai”.

    Cấp ruộng tự điền cho Chưởng Tượng quân Quận công Nguyễn Đức Xuyên. Vua dụ bộ Lễ rằng : “Nguyễn Đức Xuyên buổi đầu đương lúc mây sấm gian truân, theo đòi bên ngựa nơi hiểm, nơi bằng cũng thế, cho nên giúp thành nghiệp lớn, sánh hàng với các bậc công đầu. Sau khi chết đã từng truy tặng vẻ vang, lại chuẩn cho tòng tự ở miếu đình, ơn của nhà nước báo đền thật là ưu hậu. Nay nên cấp thêm tự điền 100 mẫu, để con cháu nối đời truyền giữ, thu tô và dùng vào việc thờ.

    Sai Phó vệ uý vệ Tiền bảo nhất là Đặng Phước Cần lĩnh chức Quản thủ ba thủ Tân Châu, Chiến Sai và Hùng Ngự.

    Bộ Lễ tâu rằng : “Sang năm kính gặp đại khánh chính thọ tứ tuần của Hoàng thượng ta, thật là tiệc thọ ức muôn năm điển lệ rất long trọng. Xin chước định sự nghi, theo từng khoản kê bày, đợi được sắc giao xuống thì vâng theo thứ tự mà làm. Từ nay về sau, kể tiết mừng, điều khoản nghi chương sau này cứ 10 năm lại xin chước nghĩ thêm, cho được hoàn bị điển lễ đời thái bình :

    1) Tuần tháng 8 năm nay, viện Hàn lâm dự soạn các bản ân chiếu đầu xuân sang năm, bản ân chiếu ngày đại khánh, cùng là văn thức biểu mừng và nhạc chương do viên chưởng lĩnh trình dâng.

    2) Tuần tháng ấy, các trấn Quảng Trị, Thanh Nghệ, đến chuyển sức cho thổ ty đạo Cam Lộ cùng các phủ Trấn Ninh, Trấn Định, Trấn Biên, Trấn Man, thuộc các hạt ấy, dự bị phẩm vật hành nghi để trung tuần tháng 3 sang năm về Kinh, kịp ngày chúc mừng. Còn nước Nam Chưởng, nước Chân Lạp, man Mục Đa Hán và 2 phủ Trấn Tĩnh, Trấn Biên thì vì ngày tháng giêng đã tuân dụ tư rồi thì thôi. Lại Gia Định, Quảng Trị, Thanh Nghệ phải tư sức cho Nam Chưởng, Chân Lạp và các phủ đất mới đều kén chọn con hát đem theo nhạc khí, đi theo sứ bộ và đầu mục đến Kinh, cho đủ âm nhạc bốn phương.

    3) Tuần tháng 10, hai bộ Lại, Binh kê khai danh sách các quan văn võ tại chức, từ Tam phẩm trở lên ở Gia Định, Bắc Thành, và thượng ty các trấn đạo đợi vâng châu điểm chấm tên, mỗi hạt một viên ; lại xin chỉ tuyên triệu thổ ty các hạt Bắc Thành, Thanh Hoa, Ninh Bình, cùng các quan văn võ từ Tòng ngũ phẩm trở lên, hưu trí hay xin nghỉ về quê, có ai tình nguyện về Kinh chúc mừng thì cho, do quan sở tại cấp giấy đi, đều là thượng tuần tháng 3 sang năm tới cả.

    4) Tuần tháng ấy, Bắc Thành, Thanh Nghệ tuyển con hát cùng các nghề vặt trong hạt như leo dây, trèo thang và múa rối trên cạn dưới nước, thượng tuần tháng 2 sang năm đến Kinh diễn tập.

    5) Thượng tuần tháng 3 sang năm, Hữu ty dựng một điện hoa ở trước điện Thái Hòa, một lầu hoa ở phía dưới cửa điện Càn Nguyên, ở ngoài cửa Túc Môn tả hữu đều dựng một cái nghi môn ; ở phía trước sân lầu Phú Văn thì dựng một nhà yến.

    6) Trung tuần tháng 4 sang năm, các hoàng tử tước công, các quan văn võ cùng sứ bộ đầu mục các nước phiên thuộc, làm riêng danh sách dự yến, đợi vua định những phẩm vật thưởng cho.

    Vua y lời tâu.

    Thành thần Gia Định dâng sớ tâu rằng : “Con cháu công thần Vọng Các, khẩn xin cấp mộ phu, mộ cho 40 người”. Lễ bộ bàn, cho là : “Ân điển nhà nước đền công ban thực nên long trọng, mà triều đình xử sự thì số dân lại càng quan trọng, khi trước Thế tổ Cao hoàng đế ta khai sáng đã truy nhớ công lao của người đi hầu bên ngựa, chước định lệ mộ phu nên đặc cách thi hành long trọng để tỏ lòng hậu đãi. Nay Hoàng thượng nối giữ nghiệp lớn sửa sang mọi việc, châm chước thêm bớt cầu cho thoả đáng, mới có thể lấy làm điển thường. Vả lại trong tập tâu thì Vệ uý Hoàng Phước Khương, đánh giặc, chết tại trận, liệt vào công thần bậc năm lệ được 10 người mộ phu, nhưng con hiện được tập ấm là Ân kỵ uý về sau đời đời theo nối, ơn nước đã ưu hậu lắm, xin cấp cho 2 người mộ phu để khuyến khích những người tử tiết ở chiến trường. Còn như Chánh tuần hải đô dinh Hoàng Trung Đồng theo tướng quân họ Hà sang Vọng Các, không ví như người đi theo bên ngựa được. Cùng bọn khâm sai Cai cơ Nguyễn Đức Lân 34 người, đều là quan nhỏ, sau khi mất, con cháu đã được ơn tập ấm rồi, sao lại xin ân điển nữa ! Xin đừng cấp. Duy có Khâm sai Cai cơ Phan Văn Hóa, Cai đội Nguyễn Văn Thông, Đội trưởng Lê Văn Phượng, không có người tập ấm, xin lượng cho bạc tiền giao dân sở tại thờ cúng. Như thế thì nghĩa thù lao khuyến khích của nhà nước được rõ lắm”. Vua cho là phải, sai cấp cho bọn Phan Văn Hóa đều 200 quan tiền.

    Sai các nha Lục bộ đem những thể lệ chương tấu soạn thành tập. Vua dụ rằng : “Từ trước đến nay, chính sự lớn nhỏ trong ngoài đều do sáu bộ coi giữ. Đến như các Tự, Nội vụ, Vũ Khố, Thương bạc, Tào chính, Khâm thiên giám, Quốc tử giám, Hàn lâm viện, đều có trách nhiệm riêng của mỗi nha. Trong đó công việc rất nhiều, sổ sách ngày càng bề bộn, năm tháng trôi đi hoặc có cái tán lạc mất. Nếu không một phen soạn thành tập, thì lấy gì để làm điển lệ để chỉ bảo việc thường. Phàm đế vương đời xưa mỗi đời nổi lên là có chế tác riêng của đời ấy, trong ấy, chính hay phép tốt, tất biên chép thành sách, mới có thể để lại lâu dài được. Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta ngự trị 18 năm, chính trị mở rộng, rành rành xét thấy. Kịp đến khi ta nối ngôi tới nay, xa thì kê phép tắc đời xưa, gần thì xem hiến chương đã định, xây dựng xếp đặt tuỳ theo từng thời. Vậy sai Tôn Nhân phủ và các nha Lục bộ kiểm soạn từ năm Gia Long thứ nhất, đến năm Minh Mệnh thứ 10, tất cả dụ chỉ đã ban, thể lệ đã định, cùng những bản tấu chuẩn của Lục bộ cùng chương tấu của trong ngoài, nhất thiết những văn thư án tập, có quan hệ đến chính sự, chia môn định loại, và theo năm tháng trước sau mà biên thành tập, làm sao cho cương mục rõ ràng, các điều rành mạch, để sẵn mà tra xét và lưu định thức”.

    Trấn thủ Sơn Tây là Lê Phúc Bảo, vì năm ngoái quan Đê chính cũ trích riêng một đoạn đê mới ở Yên Sơn, giao sai thuê người đắp chi lạm tiền hơn 1.600 quan, bị quan Đê chính mới hạch tâu. Đến nay bộ Hình nghị xin bắt tội đồ. Vua đặc ơn đổi làm cách lưu, cùng bọn Đê chính cũ là Nguyễn Đức Hội, Nguyễn Văn Nghị phải bồi thường, đợi xem có đền xong hay không, sẽ lại xuống chỉ thi hành.
  • Chia sẻ trang này