0059.089 - @Suongdem(done-GD)

10/12/15
0059.089 - @Suongdem(done-GD)
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose:

    Đệ nhị kỷ - Quyển LXI

    Thực lục về Thánh tổ nhân hoàng đế

    Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10 [1829], mùa thu tháng 8, trấn thần Quảng Nam tâu rằng : “Năm huyện ở hạt trấn có 45 tổng, lệ mỗi tổng đặt một Cai tổng, nếu gặp có công việc quan trọng khẩn cấp, sợ một mình khó làm nổi, xin cứ số đinh từ 500 người, số điền từ 1.000 mẫu trở lên thì đặt thêm một Phó tổng ngoại uỷ để cùng Cai tổng làm việc”. Vua y cho.

    Thổ phỉ Tuyên Quang là Ma Đình Thiệu tự xưng là điều bát họp đảng vài nghìn người, đến uy hiếp trấn thành. Trấn thần đóng cửa tự thủ. Giặc đốt cướp các nhà dân ngoài thành gần hết. Quân Bắc Thành nghe báo, liền phái Chưởng cơ Hậu quân Thống quản thập cơ Uy thắng là Phan Bá Hùng đem binh tượng đến cứu, và đem việc chạy tâu lên.

    Vua dụ rằng : “Ngày gần đây, hạt thành hơi yên, nay chợt có chuyện gấp ấy, tuy trấn thần hốt hoảng báo, nhưng chắc rằng đảng ấy không đến nhiều như thế đâu, song chúng đã kết thành bọn lớn, tất không phải là một buổi mà làm nên, thế mà mù tịt chẳng nghe thấy gì, bọn chức sự như thế thì chẳng cần hỏi nữa. Vậy phải hỏi rõ ngay nguyên uỷ mà nghiêm xét để trừng trị”.

    Giặc lại đánh phá đồn Tụ Long. Thành thần phái thêm thự Phó vệ uý vệ Lạc dũng là Phạm Hữu Tâm đem quân tiến đánh, và phi sức cho Trấn thủ Trần Ngọc Trung cùng họp. Trung dùng dằng không đi. Thành thần hặc. Vua sai bắt trói giải về thành tra xét. Hiệp trấn Nguyễn Đăng Sỹ, Tham hiệp Phạm Ngọc Oánh đều phải giải chức đợi xét.

    Lấy Vệ uý vệ Quảng võ là Vũ Văn Tín làm Trấn thủ Tuyên Quang, Tham hiệp Cao Bằng là Nguyễn Khắc Biểu làm thự Hiệp trấn, Lang trung Binh bộ là Vũ Phan làm Tham hiệp. Tín chưa đến, thành thần uỷ trước Trấn thủ Hưng Hóa là Phan Bá Phụng quyền nhiếp Trấn thủ Tuyên Quang. Phụng liền cùng với quan binh do thành phái chia đường tiến đánh bắt được Ma Đình Thiệu và bọn đầu mục và đồ đảng của giặc rất nhiều. Thổ phỉ dẹp hết. Tin thắng trận tâu lên, vua sai đều rút quân về. Chiếu theo công trạng mà khen thưởng. Trung vì nhút nhát bị phát vãng làm binh ở nơi đất mới Chan Độc. Sỹ và Oánh đều cách chức.

    Quan Bắc Thành tâu rằng : “ở thành và ở các trấn bảo trong hạt thành, súng ống và thuốc đạn có rất nhiều, mà coi giữ chỉ có 6 đội Uy chấn. Theo lệ lại cấp cho Nam Định và Hải Dương đều 1 đội, chỉ còn 4 đội, thì 1 là đội giản binh, 3 đội là mộ binh, lính có hơn 150 người cùng với lính Trung vệ dinh Thần cơ ở Kinh phái ra 20 người mà thôi, chia phái thực không đủ được, xin phái thêm một suất đội Thần cơ và 30 biền binh cho đủ số 1 đội, để chuyên giữ súng ống ở thành, mỗi năm đổi 1 lần, các đội Uy chấn thì một đội giản binh để ở thành làm việc thu chi thuốc đạn, coi giữ sổ sách về súng ống. Ngoài ra 3 đội mộ binh thì chiếu theo các đồn lớn nhỏ ở các trấn chia lệ vào nhiều ít khác nhau”. Vua y lời xin.

    Thuyền của bọn A Sinh là người nước Chà Và đậu ở đảo Côn Lôn trấn Phiên An, lính giữ đảo bắt đưa đến thành Gia Định. Bọn Sinh nói là : “ở Ba La Sa (tên đất của nước Chà Và) được Quốc trưởng phái đến đảo Câu Mạch để nhặt lấy sào yến bị bão trôi dạt”. Thành thần tâu lên. Vua sai cấp gạo rồi cho về.

    Đốc học Thanh Hoa là Phạm Đình Trọng dung túng người nhà sách nhiễu, bị cách chức. Lấy Tri huyện Nga Sơn là Đoàn Bá Trinh làm thự Đốc học Thanh Hoa.

    Thự Đốc học Biên Hòa là Thiều Nguyên Diệu ốm. Lấy Giáo thụ ứng Hòa là Bùi Danh Kỳ làm thự Đốc học Biên Hoà.

    Định rõ lệnh đúc trộm tiền. Vua nghe tin dân gian đúc trộm tiền nhiều để tiêu lẫn với tiền nhà nước, dụ bầy tôi rằng : “Điều cấm đúc trộm tiền, phép nước rất nghiêm. Thế mà bọn không tốt coi thường hiến chương, vẫn có kẻ khinh suất xúc phạm như vụ án tiền dị dạng ở Lạng Sơn năm trước đã đủ thấy được. Hiện nay của trọng tiền khinh, vật giá đắt lên, thì cái tệ tiêu tiền lẫn lộn không những chỉ ở các hạt Bắc Thành mà thôi. Nếu không chỉnh đốn nghiêm ngặt thì sợ bọn tiểu dân không biết phạm pháp càng nhiều thì không phải là người nhân đức dụng tâm như thế. Vậy hạ lệnh cho Thừa Thiên cùng các thành trấn đạo nghiêm sức cho phủ huyện trong hạt, gia tâm dò xét, có kẻ nào phạm tội đúc tiền trộm ấy thì chém đầu để răn bảo dân chúng. Lại thông sức cho dân gian, ai trót đã trữ lầm tiền lại đúc trộm thì hẹn cho trước cuối năm nay phải đem nộp hết ở quan để tiêu huỷ và cấp trả cho số tiền nhà nước (mỗi 2 đồng, cấp cho 1 đồng tiền nhà nước). Ai dám dùng tiền ấy mua bán với nhau thì phạt 50 roi và thu tiền ấy vào quan. Lại chiếu số tang, chiết lấy một nửa số tiền nhà nước để thưởng cho người bắt được. Ngoài hạn ấy, mà còn dám trữ giấu và đem tiêu lẫn lộn thì theo điều luật đúc trộm tiền mà xử tội. Người bắt được thưởng như lệ. Lại đúc trộm tiền tất phải dùng bằng thứ kẽm, mà Tuyên Quang và Thái Nguyên là những nơi sản xuất ra kẽm, phải hạ lệnh cho quan Bắc Thành nghiêm sức cho các cửa quan, bến đò, phàm các đường tất phải đi qua, ở hai hạt ấy ngày đêm phải khám xét, có người mang lén kẽm đi qua thì bắt trị tội, nếu thiên tư dung túng thì có tội”.

    Cấm đóng thuyền kiểu lạ. Vua dụ bộ Hộ rằng : “Từ trước thuyền công tư vượt biển chiều ngang 7 thước trở lên thì cho làm các hạng tào thuyền, ứng ban, đại dịch, miễn dịch ((1) Tào thuyền : thuyền vận tải. ứng ban : thuyền phải theo ban mà vận tải cho nhà nước. Đại dịch : thuyền thay sai dịch. Miễn dịch : thuyền được miễn không phải sai dịch.1), lệ tải và lệ thuế đã có quy định sẵn, duy từ 6 thước 9 tấc trở xuống thì cứ theo số thước tấc nhiều ít mà định thứ bậc ngạch thuế ; không đủ 5 thước thì được tha thuế, như thế là muốn thuế má và sai dịch công bằng, để báo cho dân biết quy thức thông thường. Gần đây bọn gian trá hay đóng thuyền kiểu khác, trên thì hẹp, dưới thì rộng, phía trước nhỏ, phía sau lớn, rút ngắn thước tấc bề ngang ở giữa để mong được giảm thuế và miễn dịch. Như thế là trái phép thường, mưu cầu trốn tránh. Nay tài lực của nhà nước cố nhiên không so tính làm gì, nhưng nghĩ đặt phép ngăn việc lệnh cấm chỉ, mà còn có bọn dân gian xảo như thế thì không thể để lớn lên được. Vả từ trước đến nay, tào thuyền và thuyền ứng ban, lệ vận tải định làm 10 phần, tào thuyền thì 10 phần giảm 1, chở lương công 9 phần, thuyền ứng ban, 10 phần giảm 3, chở lương công 7 phần. Nay thuyền vận tải ở phía nam y lệ tải đúng mà thuyền còn nổi, hoặc giả khi trước khám đo không đúng, hay là chủ thuyền thầm vụng thay đổi đi thì chưa biết được. Phải nên một phen chỉnh đốn, để trừ thói tệ đã lâu. Vậy hạ lệnh cho Thừa Thiên và các thành trấn đạo bắt đầu từ ngày tờ dụ này đến, phàm trong hạt có đóng thuyền ghe thì phải theo kiểu thường, không được làm theo kiểu lạ. Làm trái thì xử tội 100 trượng, đóng gông 1 tháng. Trót đã đóng rồi thì chữa lại, lấy cuối năm làm hạn, việc còn dám để dùng thì trị tội nặng không tha. Lại thuyền vận tải phía nam và thuyền ứng ban thì nên khám lại thước tấc các bề dài, ngang, sâu rộng rồi lường tính số thóc gạo vừa phải có thể chở vượt biển, thì đăng ký rõ ràng, đến tuần tháng 10 đều làm sớ sách tâu lên định lệ thi hành”.

    Thành thần Gia Định tâu rằng trong hạt thành ruộng đất mầu mỡ, sinh lý dễ dàng, lại thêm sông hồ thông suốt bốn phương, đi đâu cũng tiện, cho nên dân an nhàn mà sinh lười biếng. Một khi động đến việc binh dao thì mưu đồ trốn tránh. Hiện nay dân có kẻ trải ba bốn đời ở đấy vì sợ phải đi lính mà bỏ ngay về quê quán, đến thôn không đủ số hạn. Có một nhà cha, con, ông cháu chia ra mà đi trú ngụ, không vào sổ nhất định. Thậm chí, trong một năm, mà một người đi ở đến ba bốn thôn. Lính hay thiếu ngạch là tự lý do ấy. Xin từ nay phàm dân trong các hạt, cho phải theo quê quán ông cha mà vào sổ, không được đi nơi khác. Nếu đã trót ở chia ra, cũng cho bắt về, có ông, thì theo quán của ông, không có ông, thì theo quán của cha. Sổ hộ có nhất định, thì số binh mới có thể thường đủ”.

    Lại nói : “Kỳ trước giá gạo rất rẻ, 1 phương gạo bất quá 5, 6 tiền. Gần đây, tuy năm được mùa mà giá gạo cũng không dưới 1 quan, đó là bởi bọn buôn gian giảo đong trộm nhiều, và thuyền người Thanh chở khách đến họp ăn rất nhiều, cho nên như thế.

    Xin lập thêm điều cấm : “Phàm thuyền thay đại dịch và thuyền đánh thuế, hằng năm cứ tháng 2 lĩnh đơn đi, đến khi trở về thì nộp lại, trong 1 năm hoặc có đi buôn nhiều lần, cũng chiếu từng thứ lĩnh đơn nộp đơn để làm bằng. Những thuyền đi buôn thì số gạo chở phải biên rõ trong đơn, do sở tại phê cho, đến địa phương nào, thì người coi đồn cửa biển khám qua, nếu đúng số thì cho bán, không đúng số thì báo quan xét trị. Đến khi trở về lại lấy chữ biên của người coi đồn xứ ấy làm bằng để về nộp sở tại. Làm trái thì có tội. Người coi đồn mà cố ý dung túng thì bị xử theo tội uổng pháp.

    Lại từ trước đến nay, thuyền người Thanh chở khách đến mỗi năm hàng vài nghìn, nay ở xen trong hạt thành đến 3, 4 phần 10, gián hoặc lừa dỗ dân ta hút vụng thuốc phiện hoặc sinh điều hung tợn ăn trộm ăn cướp, có án luôn luôn, tệ ấy cũng không thể để lớn lên được. Xin từ nay có khách đến buôn thì người tay lái và thuỷ thủ đều phải đăng hết vào sổ điểm mục. Đến khi trở về thì viên tấn thủ chiếu sổ điểm lại rồi cho đi, chớ để sót lậu một người nào”.

    Vua sai đình thần bàn cho ổn. Cho là hộ tịch của dân, phải theo quê quán ông cha ; lời ấy thật có thể làm được. Duy điều cấm về việc buôn gạo, chỉ vì phòng mua trộm gạo mà đặt, mà đơn bằng trình nộp, tiết mục phiền phức, sợ lại khó khăn cho nhà buôn. Vả lại, cấm bán trộm gạo, triều đình đã sẵn có điều cấm nghiêm ngặt, song năm tháng trôi qua, lòng người dễ biến, người thừa hành hoặc có thể chểnh mảng, mà người buôn có thể làm gian được, xin phàm thuyền buôn các hạt nhất thiết theo như lệ trước, cho được đi lại mua bán để tiện việc buôn. Còn các hải phận, cùng là hòn đảo, đầm sâu, bọn buôn gian thường nhờ đấy đậu giấu để mua bán gạo tư túi. Nên theo đúng điều cấm đã định trước, răn sức hạ lệnh cho các địa phương đều phái bắt biền binh cùng tấn thủ gia tâm tuần xét. Như bắt được kẻ buôn gian thì y lệ tịch thu cả thuyền và hàng hóa để sung thưởng ; lại tịch thu hết gia sản của kẻ phạm để thưởng. Kẻ gian buôn bán, thì đều xử nặng, bậc nặng hơn là trượng 100, lưu 3.000 dặm. Đến như người Thanh thấy nước ta đất tốt, đều muốn làm dân thì sao lại một mực cấm chỉ. Xin từ nay phàm thuyền người Thanh mới đến, thì sở tại chiếu sổ điểm mục đòi hỏi, người nào muốn ở lại thì phải có Minh Hương và bang trưởng bảo kết vào sổ chịu sai dịch để cho có chỗ cai quản. Còn người khác thì thả về nước hết. Thế thì số người ở lại có hạn, đã bớt được khoản phí họp ăn của họ, mà cái thói bướng nhờn cũng có thể trừ được. Vua theo lời bàn.

    Định lệ thuế vỏ quế ở Thanh Nghệ. Lệ trước, người chủ quế hộ bóc vỏ quế chia làm ba hạng thượng, trung, hạ, một nửa nộp nhà nước, một nửa trả công cho người bóc. Lại trích 2 phần 10 ở người bóc quế làm lễ thượng tiến, hoặc chỉ có hai hạng trung và thứ thì cũng chia đôi mà lấy hạng trung làm quế thượng tiến. Đến nay Hộ bộ tâu rằng : “Quế là vật xuất ở Thọ Xuân, Thanh Hoa là hạng tốt, ở Quỳ Châu, Nghệ An là hạng thứ hai. Trước gọi là quế cố công, quế thượng tiến, cũng là ngụ ý tôn vua và thân người trên, lúc bắt đầu gây dựng thì làm thế, nhưng nghĩ nhà nước có cả đất đai, ở đâu cũng là bề tôi, thì sản vật ở đấy sinh ra đều là của nhà nước, huống chi vỏ quế là vật báu trong núi, không phải là tư hữu của dân mọn. Nếu xét công khó nhọc thì chước lượng cho là phải. Nay lấy vật không phải của dân kia mà gọi là thượng tiến để dâng cung người trên mà gọi là thuê công thì có phải không ? Xin từ nay phàm quế ở hai trấn ấy hạng thượng phải nộp nhà nước hết ; còn thì chia mỗi bên một nửa. Nếu chỉ có hai hạng trung và thứ, thì hạng trung nộp nhà nước, hạng thứ chia đôi, để chính danh ngạch”. Vua cho là phải.

    Định lệ lương cho tạp sắc và lính thợ ở Kinh. Hộ bộ tâu rằng : “Từ trước đến nay ty thuộc Tượng y ty Chiêm hậu, lại ty Lễ sinh hiệu, lệ dịch ba huyện Thừa Thiên, dân phu canh giữ ngói gạch lính trạm ở trạm Kinh ; Pháp lục ty; các cục tượng Nội vụ, Thái y viện và ngoại khoa, ngư hộ, Thanh bình thự, dân tám xã trực lệ, dân phu kho Thường bình, có người tháng cấp tiền 1 quan, gạo 1 phương, có người tháng cấp 5 tiền, gạo 1 phương, cũng có người tháng cấp gạo 1 phương, và có người tháng cấp gạo lệ, hoặc là tới kỳ tâu chuẩn cho, hoặc gia ơn ngoài thể cách, nhưng trong đó có khó nhọc, thong thả khác nhau phải nên châm chước cân nhắc cho được ổn đáng. Vả xét ngư hộ chuyên giữ nghề đánh cá, Thanh bình thự chuyên giữ nghề hát xướng, đều là danh sắc tạp nhạp mà lệ lương cũng như binh lính thì tựa hồ không có phân biệt, duy chỉ đem hai loại ấy mà cân nhắc khinh trọng thì Thanh bình thự có quan hệ đến lễ nhạc thì nên hậu cấp. Đến như tám xã trực lệ bấy lâu kiến thiết hơi nhiều, cho nên cho theo giám thành mà cấp lương cho. Nay công việc hơi rỗi thì hà tất lại phiền sức dân mà hư phí lương của nhà nước. Kho Thường bình đặt ra là để phòng khi bất kỳ bán ra đong vào, dân phu chỉ có giữ đấy mà thôi, không phải như lính coi kho còn bận về việc thu phát, cũng không nên lấy thế mà đòi lệ lương. Xin từ nay ngư hộ và Thanh bình thự chỉ cấp gạo tháng mà bớt số tiền. Duy Thanh bình thự đến kỳ các quân hội họp cấp riêng cho mỗi tháng 5 tiền, dân tám xã trực lệ và dân phu kho Thường bình thì đều nên thôi cấp. Còn các ngạch khác như : thuộc nhân Tượng y ty cho đến Thái y viện, ngoại khoa hoặc lệ theo quân đội, hoặc sung việc đê trạm, có kẻ làm việc ở nơi quan phủ có kẻ cung dịch ở chốn ty nha, thì vẫn chiếu lệ thường mà chi cấp. Xin ghi làm lệ nhất định để tuân hành mãi mãi, mà bãi lệ hằng năm liệt kê thành đơn”.

    Vua y lời bàn. Rồi thấy tám xã trực lệ không có việc gì, sai phủ thần ở Thừa Thiên xét sổ định trích 30 người bổ thuộc lệ Quốc tử giám, miễn trừ thuế thân 30 người làm phu chùa Linh Hựu, 30 người coi giữ sáu sở cầu cống, 20 người canh giữ hai sở công quán, thuế thân coi như hạng biệt tính còn dư thì cũng chịu binh dao thuế với dân trong huyện.

    Lấy Phó vệ uý vệ Ban trực tả là Đoàn Văn Cải thăng làm thự Vệ uý vệ Tuyển phong tiền, Quản thủ Anh Sơn là Trần Hữu Thăng làm Phó vệ uý vệ Ban trực tả, Cai đội Toàn võ là Nguyễn Văn Sử làm Phó vệ uý vệ Hữu bảo nhất, thự Phó vệ uý vệ Trung vệ dinh Thần cơ là Tôn Thất Thiện đổi đi làm thự Phó vệ uý vệ Loan giá kiêm quản hai kho súng ống và thuốc đạn, Thống chế dinh Thần cơ là Trương Công Tuyên già yếu, làm việc kém cỏi, đặc giáng làm Chưởng cơ quản Trung vệ dinh Thần cơ.

    Trấn thành Quảng Nam tâu rằng : “Đồn thuỷ của trấn đặt ở bờ sông xã An Hòa huyện Diên Phước, sông bị cát bồi cạn, xin dời đến bờ sông hai xã Hoa Phố và Thanh Châu (Hoa Phố thuộc huyện Diên Phước, Thanh Châu thuộc huyện Hòa Vang ở phía đông trấn thành)”. Vua y cho.

    Thợ các cục ở Bắc Thành và Nghệ An năm trước có lệnh đòi công tác, không kể số người nhiều ít, đều được miễn thuế. Đến bây giờ chuẩn lời bàn của Hộ bộ rằng : Từ nay phàm hằng năm có người tới Kinh và tới trấn ứng dịch, thì chiểu số đinh thực thụ của dân sở tại, chia làm 10 phần, ứng dịch từ 6 phần trở lên thì các thuế của dân ấy, thuế dung, thuế điệu, tiền đầu lạt, tiền cước, tiền cửa đình đều được giảm hết cả ; ứng dịch là 5 phần thì giảm thuế 9 phần 10, 4 phần thì giảm 8 phần, 3 phần thì giảm 7, 2 phần thì giảm 6, 1 phần thì giảm 5, không đủ 1 phần thì giảm 4.

    Ngày Bính Tuất, hoàng tôn (tức Đức Kim thượng) ((1) Kim thượng : vua hiện đại.1) sinh, do nguyên phi của hoàng trưởng tử là Phạm Thị sinh (tức Hoàng thái hậu ngày nay) (Phạm Thị là con gái Thượng thư Lễ bộ Phạm Đăng Hưng, năm 14 tuổi, tiến vào hầu ở tiềm để). Trước đó, phi đêm mộng thấy một vị thần áo đai xúng xính, mi tóc bạc phơ, mang một bức giấy vàng chữ đỏ có đóng ấn và một chuỗi hạt châu trao cho bảo rằng : “Xem đó sẽ thấy nghiệm về sau”. Phi tin lời, rồi sinh ra mình thánh điềm tốt ứng hợp không phải là ngẫu nhiên.

    Bắc Thành tâu báo việc yên sóng. Sớ nói : “Việc đắp đê năm nay công trình lớn 18 sở, công trình nhỏ hơn 1.000 sở, tuy chín lần nước lên to, mà đều giữ vững, không có nạn tràn ngập. Nay kỳ trước mùa thu đã qua, nước lụt sắp hết, nước sông hơi trong, thật là nhờ Hoàng thượng chăm lo nghĩ cho dân, trù tính chu đáo. Cho nên lòng trời thuận giúp, sông ngòi linh thiêng mà có sự mừng nước yên lặng này”.

    Vua phê bảo : “Mở xem sớ chưa hết, mà vui vẻ xiết bao, sâu cảm ơn trời, lại nhờ phước của thần kỳ giúp đỡ, nên nước lụt vụ hạ lên vọt khác thường mà giữ được dòng sông thuận nẻo, việc giữ đê nguy hiểm ở Kim Quan thường xảy ra và cuối cùng đã giữ được vững chắc không lo. Việc yên sông này công lao các khanh cũng đáng thưởng đó”.

    Khi đầu, sớ tâu của thành chưa đến, vua bảo bộ Lễ rằng : “Một việc đê điều, ta ngày đêm nóng ruột, bọn khanh đã biết đó. Nay đã đến kỳ yên sóng, tin mừng sắp tới, chính là việc mừng vui của triều đình đấy. Vả trẫm làm vua, mong cho việc nước trị, dẫu chẳng hay ứng được điềm tốt như đời thịnh trị đời xưa, thì cũng mong trừ được tai tiêu được biến, để yên lợi cho dân ta, thế mà năm trước thường có nạn vỡ đê, thì sau này người viết sử cầm bút chép thẳng, sao tránh khỏi được điều nghị luận của người đời sau”.

    Đến khi được báo, vua rất mừng cho bầy tôi xem tuồng ở nhà Duyệt thị, phát hương lụa ở kho nội gửi ra Bắc Thành, sai sắm lễ vật đến miếu hà thần, và đến nơi công trường Kim Quan mà đặt đàn lễ tạ.

    Dụ thưởng cho thành thần Phan Văn Thuý và các Thống quản Quản cơ, coi việc giữ đắp đê, phẩm cấp và kỷ lục theo thứ bậc, Suất đội đến binh đinh thì đều được thưởng 1 tháng bổng ; Đê chính thần Nguyễn Văn Khoa thì thưởng gia 1 cấp ; Lê Đại Cương, Lê Thuận Tĩnh và Hoàng Quýnh trước bị giáng cấp đều cho khai phục ; Trương Văn Minh trước can án đê bị cách xuống làm binh thì cho khởi phục chức hàm Quản cơ ; Phan Thế Chấn trước bị cách chức làm binh thì cho được về Kinh yết kiến ; Ngô Phước Hội, Nguyễn Đăng Khánh, Trần Thiên Tải bị cách lưu đổi làm giáng 3 cấp lưu ; Hồ Văn Vân, Nguyễn Trọng Vũ, Ngô Bá Nhân, Nguyễn Nhược Sơn, Nguyễn Cửu Lợi, Hoàng Văn Tú, Nguyễn Mẫn, bị xử giáng, xử lưu thì đều được tha. Duy Nguyễn Đức Hội, Nguyễn Văn Nghị và Lê Phước Bảo còn can vụ án chi lạm tiền đắp đê Yên Sơn thì đợi bồi xong sẽ cho Đức Hội và Văn Nghị được đưa về bộ dẫn vào yết kiến, Phước Bảo thì do thành đệ tâu để đợi giáng ơn. Rồi sau thành thần tâu rằng : “Các quan trấn, phủ, huyện ở các trấn Sơn Nam, Nam Định, Sơn Tây, Bắc Ninh cùng Cai tổng, lý dịch, dự vào việc đê, tự năm trước hưng công đến năm nay nước yên, ngày đêm làm việc công, không dám lười bỏ, xin lượng gia ân thưởng”.

    Vua dụ rằng : “Hôm nọ ta tiếp được tin báo nước sông đã yên, nghĩ lại đến việc vỡ đê năm trước, các viên làm việc phần nhiều mắc tội, mới giáng ân dụ khai phục đó là đặc cách vậy. Sao được thấy thế mà nhất khái xin ơn cho nhân viên các sở, cho đến lý dịch ty tiện. Kể ra xét công về việc đê tự có định lệ. Nay chưa qua hạn bảo thì sao đã nên vội làm quá mức. Duy sở Kim Quan tình hình gian hiểm gấp mấy chỗ thường, mà ngày đêm sang hộ, nguy mà lại yên thì cũng nên nghĩ đến. Nay nên xét rõ tự trấn, phủ, huyện đến Cai tổng, từ trước đến nay làm việc đê, như người nào đắc lực nhất thì khai danh sách tâu lên đợi chỉ, chớ được giả mạo quá lạm chút nào”.

    Gọi bang biện Đê chính là Lê Thuận Tĩnh và Hoàng Quýnh về Kinh trình bày phục mệnh. Vua hỏi về việc đắp đê khó dễ và nước lên xuống so với năm trước thế nào ? Đáp rằng : “Các sở đắp đê, duy sở Kim Quan là nguy hơn cả, nhờ lòng chí thánh của Hoàng thượng cảm được trời đất, cho nên nước sông lên mau rồi tiêu ngay, mới được thấy điều mừng nước yên. Ví thử thế nước như năm thứ 9 thì đê ấy sợ vị tất giữ được”.

    Vua nói : “Trước mùa thu, mưa lụt việc đê chính lúc nguy cấp thì Lê Đại Cương trù tính thế nào ?”. Đáp rằng : “Cũng chỉ ngày đêm đôn đốc mà thôi”.

    Vua nói : “Ta cũng biết là không thể làm thế nào được”, bèn sai Lê Thuận Tĩnh kiêm quản vệ Dực bảo và các đội ty Hùng sai, ứng sai, Phú thuận, Lý thiện và Hoàng Quýnh quyền thự Hữu thị lang Hộ bộ.

    Cho con Chưởng Tiền quân tặng Thái phó Nguyễn Hoàng Đức là Nguyễn Hoàng Thành lấy Trưởng công chúa Ngọc Cơ, con Khâm sai thuộc nội chưởng cơ tặng Thống chế Hồ Văn Bôi là Hồ Văn Thập lấy Trưởng công chúa Ngọc Thành, đều bổ thụ chức hàm Vệ uý Tam phẩm, thưởng cấp mũ áo đại triều. Trưởng công chúa Ngọc Thành chưa kịp làm lễ cưới thì mất.

    Gọi Thống chế Thống quản biền binh thành Gia Định là Đỗ Quý, Chưởng cơ thự Thống chế Nguyễn Văn Quyền và thự Vệ uý Đoàn Dũ về Kinh.

    Vua thấy công việc biên giới ở Gia Định hơi rỗi, cho nên gọi bọn Quý về. Nhân sắc cho biền binh năm cơ tòng thành và các đội đã có đầu mục, cai quản, nếu gặp việc sai phái, thì nên chọn người giỏi cho quyền việc cai quản, còn chức Thống quản thì không phải ngạch nhất định, đình đặt.

    Sai Hữu thị lang Lễ bộ là Hà Quyền kiêm quản Hàn lâm viện.

    Dời đặt đồn Liêu Lạc ở Nam Định. Trước kia lĩnh Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ tâu rằng : “Cửa biển Liêu Lạc ở Nam Định, thuyền bè công tư từ Gia Định ra Bắc đều do đường ấy mà đến Bắc Thành, giặc biển tất cũng rình chờ ở đó, thật là quan yếu. Từ trước đến nay, thủ sở đặt ở xã Quần Liêu, cách biển đã xa, binh giữ lại ít. Nếu thấy giặc biển, tất phải phi báo, đợi được thuỷ binh thành trấn tới nơi thì bọn giặc đã lảng đi về đông rồi. Thế là nơi quan yếu chỉ là đặt khống, giặc biển không yên được là vì đó. Thần từng đi qua nơi ấy, từ đồn Liêu Lạc trở xuống ước hai dặm, có một dải phù sa gọi là Đột Châu có thể đóng đồn được. Từ đấy đến biển chỉ chốc lát. ở chòi canh trông bốn bề xa đến đâu cũng thấy. Xin dời đồn Liêu Lạc đến đặt ở đấy. Lại phái Quản vệ 2 người, Quản cơ 1 người, chiến thuyền 10 chiếc, đóng giữ đồn sở. Như thấy thuyền giặc qua lại trên biển, đem binh thuyền đóng thú đuổi bắt ngay, thì việc binh không đến nỗi chậm trễ nhỡ việc. Không những trừ tuyệt được bọn giặc biển nhỏ mọn ấy, mà bọn người Thanh vô lại cũng không dám dòm ngó hải phận ta nữa. Lại từ nam ra bắc, đường bộ do núi Tam Điệp, đã có đồn Bỉm Sơn (thuộc Thanh Hoa) lại có đồn Lý Nhân (thuộc Ninh Bình), đủ để hỏi xét, còn đồn Bồng Hải ở đối ngạn với đồn Liêu Lạc không phải đường chính thì nên bỏ đi”.

    Vua sai quan Bắc Thành họp bàn với quan các Tào để tâu. Đến nay lời bàn tâu lên, cho là chỗ mà Công Trứ xin dời đặt đồn Liêu Lạc, ba mặt đông, tây, bắc đều là sông lớn, phía nam giáp biển lớn, không phải là nơi dụng võ. Từ đấy qua sông Lạch Ngang, có một bãi cát, địa thế cao ráo, phía đông tây nam có sông lớn quanh, Bắc giáp đồng ruộng, cách cửa Liêu hơn 1.800 trượng, cửa Lạc hơn 1.600 trượng, mà đến biển cũng hơi gần, phàm thuyền ghe ra vào hai cửa biển ấy tất phải qua đấy. Nay xin bỏ hai đồn Liêu Lạc, hợp làm một đồn ở đấy, phái Quản cơ các quân một người lấy bản chức mà lĩnh chức án bảo kiêm việc thủ ngự, giản binh 1 Cai đội, 50 binh, mộ binh 1 Suất đội, 50 binh, thuỷ quân 1 Đội trưởng, 20 binh, cùng 4 chiếc ô thuyền cho lệ theo để đóng giữ. Phàm thuyền buôn đi lại thì xét hỏi, thuyền công ra vào thì hướng dẫn hộ vệ, khi vô sự thì theo hạt của mình mà tuần xét, hữu sự thì tuỳ cơ đuổi bắt. Như thế mới nghiêm được việc phòng bị mà cương giới mặt biển mới yên ổn. Đến như đồn Bồng Hải thì thuộc riêng hạt Ninh Bình, từ Thanh Hoa ra Bắc, do đường quan lộ thì có đồn Bỉm Sơn, đồn Lý Nhân, theo dọc biển thì có đồn Chính Đại, đồn Càn và đồn Bồng Hải, cùng làm môi và răng giữ gìn nhau. Nay đồn Liêu Lạc đã dời xuống hạ lưu, mà đồn ấy lại bỏ thì ở nơi hai trấn giáp nhau, ví thử có kẻ gian tà thông đồng đi lại, hội họp nhau, thì ai hỏi xét. Vậy đồn Bồng Hải xin chớ bỏ. Vua theo lời bàn. Khi đồn làm xong, đặt tên là đồn Bình Hải.

    Quan Bắc Thành tâu rằng : “Bốn sở thành phủ huyện thuộc Sơn Nam, công việc đã hoàn thành, chiếu theo quy thức nhà cửa phủ huyện do bộ gửi cho năm trước. Còn thì sảnh đường của Quản phủ, cùng nhà kho, trại lính, khám đường, ngục thất chưa từng bàn đến”. Vua sai bộ Công châm chước bàn bạc rồi gửi quy thức cho khởi công. Tự nay về sau có sửa đắp thành phủ huyện thì theo đấy mà làm. (Sảnh đường của Quản phủ thì coi như Tri phủ ; kho phủ một toà 7 gian, kho huyện một toà 5 gian ; kho thuốc đạn ở phủ huyện đều một gian lợp ngói, trại lính ở phủ hai toà đều 5 gian 2 chái ; trại lính ở huyện hai toà đều 3 gian ; ngục thất ở phủ huyện đều 3 gian ; xưởng voi ở phủ 3 gian lợp tranh. Phủ huyện đã có mặt trước sảnh đường làm chỗ làm việc, nên thôi khám đường).

    Thanh Hoa, Ninh Bình và năm nội trấn Bắc Thành, gió bão và mưa nhiều, thuyền đắm, nhà đổ, dân chết đuối nhiều, Nam Định hại hơn cả (nhà dân đổ nát hơn 44.000 nóc, thuyền buôn đắm hơn 170 chiếc, dân chết đuối hơn 530 người).

    Vua nghe tin báo, rất thương. Dụ sai sở tại đều chiếu số người chết cấp mỗi người 3 quan tiền, nhà cửa bị tai nặng cấp mỗi hộ 1 quan tiền, 1 phương gạo, tai nhẹ thì 1 phương gạo, thuyền ghe lớn thì cấp 1 quan tiền, 1 phương gạo, nhỏ thì 1 phương gạo. Ruộng lúa tổn thương thì đợi án khám tâu lên sẽ lượng giảm thuế. Thanh Hoa, tai nạn hơi nhẹ, nhà dân đổ nát thì mỗi hộ cấp 1 quan tiền. Có xã Hội Triều, một nhà dân chết trôi 4 người, trấn thần cấp trước tiền vải, lại sai cấp thêm 10 lạng bạc.

    Hưng Hoá cũng có nạn bão, hơn tháng mới tâu vào. Vua quở rằng : “Dân nơi biên giới cũng là con đỏ của triều đình, chợt bị tai thương, lòng trông ngóng cơm cháo há chẳng thảm thiết chăng ? Sao lại báo chậm thế ?”. Lập tức sai chẩn cấp mà phạt bổng trấn thần.

    Vua lại thấy bão lụt khác thường mà đê mới chỗ nào cũng vững, phát hương lụa ở kho nội sai thành thần sắm lễ tạ miếu Hà thần.

    Bộ Hình dâng sách thu phẩm. Vua nhân bảo rằng : “Pháp luật là chung cho thiên hạ, hễ buông lỏng một việc thì dân mọn nhân đó mà khinh nhờn, pháp luật thật không thể làm sai được. Nhưng trẫm nghĩ năm trước có người thay cha chịu tội, và có người tội trạng hơi nhẹ, tình cũng khá thương. Nay nên theo từng việc liệt kê mà dâng xem, sẽ lượng cho khoan giảm”. Trong ấy có Nguỵ Đại Tô trước vì tội xông vào nghi trượng, bị cha tố cáo phải phát đi Trấn Ninh sung quân, đến nay được tha.
  • Chia sẻ trang này