0059.091 - @ nhani78 (Done WK)

14/1/16
0059.091 - @ nhani78 (Done WK)
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN LXII

    THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾj

    Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10 [1829], mùa đông, tháng 10, mồng 1, lễ Đông hưởng. Gặp trời mưa, người bồi tế, người chấp sự, cho đến người theo hầu, áo đều ướt cả. Đến khi vua về cung, thưởng các hoàng tử tước công trở xuống áo hoa và bạc lạng theo thứ bậc.

    Sai Vệ uý các quân cho đến Suất đội và [các viên tử] sách Hoa danh diễn bắn súng tay, cấp cho thuốc súng và đạn chì.

    Đình thần tâu rằng : “Từ trước đến nay, việc kiện cáo của quân dân, quan trên như có xử sai thì cho được đến Kinh kêu bày, là muốn để nhà vua biết đến tình u ẩn, mà người oan uổng bất bình được thân oan. Thế mà có người ngu dốt mượn người viết thay đơn từ, nên bọn điêu toa và thầy kiện thường thường mượn cớ việc làng mà đồ mưu, thêu dệt, mong được đắt lời, mà cuối đơn không ghi họ tên. May được việc thì một mình thu lợi, hỏng việc thì tội về người kiện, cho nên kẻ ngu dốt chịu tội oan, mà kẻ bị vu cũng không khỏi đà luỵ vô cùng. Bọn thần từng nghĩ kỹ và xét nghiệm thấy gần nay đơn kiện tới Kinh, lời đơn nào quê mùa thì phần nhiều là chân thực mà lời văn khôn khéo thì thường là bịa đặt, phải nên nghiêm xét để cấm chỉ kẻ điêu ngoa. Xin từ nay, phàm tờ trạng kêu ở Kinh thì người nguyên cáo tự viết lấy, nếu không biết viết mà nhờ người viết hộ thì ở các huyện quanh Kinh kỳ phải đòi đến để xét hỏi, ở thành trấn đạo thì cho ghi họ tên quán chỉ người làm đơn hộ ở cuối đơn. Nếu xét trong đơn xếp đặt mà không có thực trạng thì giao cho địa phương bắt trị. Nếu người làm đơn không biết ở đâu thì chỉ hỏi tội người kiện”.

    Vua y lời tâu, hạ lệnh cho bộ Hình tư khắp cho nha môn xử kiện, phải chiếu lệ ấy mà làm.

    Trấn Quảng Bình bão lụt lớn, nhà dân đổ nát hơn 500 hộ, chết đuối hơn 20 người. Trấn thần hơn tuần mới báo tai. Vua dụ sai phát ngay tiền kho để chẩn tuất, mà phạt bổng trấn thần.

    Vua nhân hỏi Hộ bộ Lương Tiến Tường và Văn thư phòng Hoàng Quýnh rằng : “Quảng Bình đã báo tin vụ mùa chưa ?”. Đều tâu là chưa. Khi lui về tra xem thì đã báo rồi. Hai người sợ hãi, dâng biểu xin tội. Vua phê bảo : “Người xưa nói : kiến thức một người có hạn, nhưng bộ ngươi và Văn thư phòng nhiều người như thế mà đều quên cả, lại trách gì một mình ai ! Huống chi việc sau này còn có thể sửa. Nhưng nếu mọi việc cứ mờ tối như trước rồi sau xin lỗi thì câu nói “Làm vua khó, làm tôi không dễ” chỉ quy cả cho vua, há có phải là ý người xưa trịnh trọng lập ngôn đâu”.

    Đình thần tâu rằng : “Kỳ thu thẩm năm nay, sách hoãn quyết của bộ Hình trình bày có cái án bắt được kẻ phạm mà tình tội chưa định, còn gia hạn để bắt kẻ phạm trốn, đối chất, có cái án tư bác lời tra kết của thành thần, có cái án do vua giao tra xét chưa xong, đó đều là những án chưa kết, theo lệ trước mà đăng cả vào sách thẩm thì rất là bề bộn. Xin từ nay, đến kỳ thẩm án thì phàm người phạm tội mà tội danh đã định, các án còn lưu giam, còn lưu đợi xét, còn lưu đợi phát, cùng án đã kết đệ tâu và được chuẩn, thì theo lệ mà kê vào sách thẩm, còn sách khác thì do bộ bày rõ để xin chỉ”. Vua theo y cho.

    Gia hàm Thượng thư cho Tả Tham tri Binh bộ là Bùi Đức Minh, vẫn hiệp đồng bảo hộ quốc ấn Chân Lạp, án thủ đồn Châu Đốc, kiêm lĩnh Biên vụ Hà Tiên.

    Vua thấy đồn thuỷ ở Nam Định cùng với trấn không quan hiệp với nhau, sợ tới khi có việc, hoặc đến chậm trễ lỡ việc, sai hai bộ Binh, Công hội bàn. Cho là địa phương Nam Định, so với các trấn Bắc Thành, là nơi trấn lớn, địa thế giáp biển, đường thuỷ tất qua đấy, giới phận miền đông nam, giặc cướp thường hay ẩn hiện, việc dùng thuỷ quân càng là khẩn yếu. Triều đình kinh lý biên phòng, ở phía nam trấn thành đặt một đồn thuỷ lớn, đã phái cơ Tứ dực để giúp sức. Lại cấp đủ thuyền ghe định ngạch, thực là dự phòng trước khi có việc. Thế mà từ trước đến nay viên quan lớn thống quản đồn ấy hễ có việc đều nhất thiết do thành điều độ, đối với trấn coi như không liên quan gì. Thói quen noi theo mãi, mà trấn chỉ biết có trấn, đồn chỉ biết có đồn, hình thế vì đó mà thành cách trở. Vả lại đồn thuỷ thuộc địa hạt trấn, nay có việc sai phái, tất báo ở thành, đi lại chần chờ, há không chậm trễ lỡ việc ư ! Xin từ nay, phàm gặp việc binh thì trấn thần một mặt báo thành, một mặt tư cho thuỷ binh sách ứng. Quản đồn nghe báo thì phải thân hành đem binh thuyền đi hội chiến. Nếu trông ngóng chần chờ để đến lỡ việc quân thì xử tội nặng. Như thế thì trấn cùng với đồn liên thuộc với nhau, mà việc không rắc rối trở ngại. Vua y lời tâu.

    Chuẩn định từ nay, phàm Nội vụ phủ may chế các thứ, không cứ gấm đoạn vải lụa, thì Văn thư phòng và Thị vệ đều 1 người, hội cùng chức giám lâm xem xét, đề vào sổ tiêu. Nếu có làm bậy thì lập tức xét nêu ra, đem kẻ phạm trị tội nặng, nếu dung túng thiên vị hoặc chia tay tang vật, việc phát ra thì cùng bị xử tội với kẻ phạm. Nếu không thông mưu mà thất giác thì cũng nghị xử nghiêm ngặt. Ghi làm lệ mãi mãi.

    Thành ở phía trước mặt Bắc Thành bị sụt. Thành thần Phan Văn Thuý cho là chất đất nơi ấy không chắc, trước đã dùng nhiều gỗ đá mà lấp, thành mới được vững. Từ khi Trương Văn Minh đào hào ở ngoài thành, nhân thế cứ đắp lên lại sụt theo. Xin lại theo như cũ, lấp hào ấy đi.

    Vua dụ rằng : “Thành mà có hào là để giữ gìn cho chắc. Thành sụt là bởi đắp không chắc, có phải là lỗi tự hào đâu. Nay hào đã đào mà lại lấp, chẳng những phí cả công trước mà ba mặt thành có hào, một mặt thiếu thì cũng không phải là nghiêm việc phòng vệ. Vậy ngươi phải nghĩ cách mà xây đắp khiến cho thân thành và bờ hào đều hoàn toàn kiên cố. Việc lấp hào thì không được”.

    Thự Tả Tham tri Hộ bộ là Lý Văn Phức có tội, bị bỏ ngục. Trước là bọn nhà buôn giảo quyệt là Liêu Ninh Thái và Đỗ Huy Tùng mưu lĩnh trưng thuế cửa quan của Bắc Thành, Phức nhận hối lộ hơn 100 lạng bạc và đề thỉnh hộ. Việc phát giác, giao xuống bộ Hình tra xét. Đến bây giờ án thành. Vua nói : “Phức nhờ ơn nước, chức vị đến Tham tri. Sao không nghĩ giữ mình trong sạch, lại uổng pháp mà nhận hối lộ, làm việc mờ ám, mất lương tâm, tội là tự mình làm nên, bắt tội giảo giam hậu. Người đồng sự là thự Hữu Tham tri Thân Văn Quyền nhận của sau việc thì giáng làm Hàn lâm viện Thị độc. Thượng thư Lương Tiến Tường, tuy không dự biết, cũng nhận đồ biếu thì giáng 2 cấp lưu”. Phức sau được phái đi hiệu lực ở đường biển.

    Trấn Thanh Hoa, cuối thu, các phủ huyện thuộc hạt đều được yên ổn, trấn thần tư danh sách chung lên bộ Hình để bàn thưởng. Bộ thần tâu lên. Vua dụ : “Khi trước từ Nghệ An ra Bắc, chợt gặp mất mùa đói kém mà quan lại sở tại vỗ trị sai trái, đến nỗi dân nghèo họp làm trộm cướp. Trẫm ngày đêm lo nghĩ quanh quẩn, dụ sai cứ cuối thu thì bàn thưởng để khiến phấn khích, đó là tuỳ việc mà quyền nghi. Đến như khảo công xét việc thì triều đình đã có điển lệ. Quảng Bình trở vào nam vẫn chưa từng có lệ thưởng ấy. Gần đây, Thanh Nghệ và Ninh Bình, cùng với Quảng Bình trở vào nam đều được yên ổn cả, thì điển lệ xét công phải nên thi hành nhất thể, sao lại phân biệt. Vậy cái việc nghị thưởng cuối thu nên bãi đi”.

    Định lương bổng và quy trình giảng tập cho học sinh Quốc tử giám.

    Vua dụ bộ Lễ rằng : “Đạo trị nước tất phải lấy việc gây dựng nhân tài làm trước, mà phương pháp gây dựng thì trước hết là phải nuôi sẵn. Đời xưa, con trưởng của các công khanh, đại phu và những người tuấn tú con nhà dân, đều đến 15 tuổi thì vào đại học, phép giáo dục đầy đủ rõ ràng. Trẫm từ khi lâm chính đến nay, thường lấy việc học chứa nhân tài làm việc cần kíp. Năm trước từng cho quan văn võ Tam phẩm trở lên thì một con được vào trường Giám, cùng với Giám sinh học tập, thật là ý muốn nuôi nấng sẵn sàng cho mọi người đều có thành tựu để cho nhà nước dùng. Lại nghĩ quan ở Kinh từ Tứ phẩm bổng lộc hơi kém, phí tổn đèn sách của con mình có khi không đủ, thì việc học không khỏi gián đoạn, làm sao mà chăm chỉ kịp kỳ để tiến bộ mau chóng được ? Nay chuẩn định : Phàm quan Kinh, quan văn Tứ phẩm trở lên thì các con, Ngũ phẩm thì 1 người con trưởng, 15 tuổi trở lên, nếu tình nguyện vào Giám học tập thì bổ làm học sinh Quốc tử giám, đợi khi học thành tài sẽ tuỳ tài bổ dùng. Lương bổng chi cấp và quy trình học tập thì nên bàn rõ tâu lên”.

    Bộ thần bàn, cho là : “Học sinh tuổi tác có cao thấp, sức học có nông sâu, lương bổng và sự học tập tất phải định có thứ bậc. Xin phàm người nào được ơn bổ làm học sinh thì do giám thần xét thật, ai kiêm thông văn thể tứ trường hoặc tam trường là bậc nhất, nhị trường hoặc nhất trường là bậc nhì, chưa thông thể văn là bậc ba. Bậc nhất được cấp mỗi tháng tiền 2 quan, gạo 2 phương, dầu 3 cân ; bậc nhì tiền gạo giảm 1 phần ; bậc ba giảm nửa ; dầu thì giảm dần nửa cân. Tháng nhuận cũng cấp. Cách giảng dạy ở học đường thì giám thần bắt đầu giảng kinh truyện, thứ giảng các sách chính sử và tính lý. Học sinh nghe giảng thì ngồi ở dưới giám sinh. Việc tập bài thì tháng chia làm bốn kỳ (mồng 3, mồng 9, 17 và 25). Chiếu theo đề mục bốn trường, bậc nhất thì theo đầu đề mà tập ; bậc nhì, bậc ba, kỳ đệ nhất thì chế nghĩa, trong 5 đề kinh nghĩa, 1 đề truyện nghĩa cho tập 1 đề kinh nghĩa, 1 đề truyện nghĩa ; kỳ đệ nhị, trong 3 đề chiếu, chế, biểu, cho tập 2 đề ; kỳ đệ tam, thơ 1 bài, phú 8 vần, cho tập thơ 1 bài, phú 2, 3 vần ; kỳ đệ tứ, vấn sách 1 đề, cho tập 1, 2 đoạn văn sử. Nếu học lười nết xấu và thiện tiện dời bỏ nhà trường thì bị đánh đòn, nếu bừa bãi phóng đãng có những nết xấu như rượu, chè, trai gái, cờ bạc thì bị cách đuổi. Học sinh bậc nhất, hạn học 2 năm, bậc nhì 3 năm, bậc ba 4 năm, đều phải đủ văn thể bốn trường, cùng học với giám sinh, lương bổng thưởng phạt như nhau. Lại cấp mũ áo thanh khâm ((1) Thanh khâm : kiểu áo xanh của học sinh.1). Gặp ba kỳ tết lớn thì cùng giám sinh vào lạy vua. Như có thi Hương thì người nào đã đủ văn thể bốn trường mà kỳ khảo tháng trọng được dự trúng cách, thì được miễn hạch. Vào thi trúng Cử nhân thì đợi thi Hội. Người trúng Tú tài, cùng người thi trượt vẫn được ở lại Giám. Nếu đã mãn hạn 2, 3, 4 năm mà học tập chưa đủ văn thể bốn trường cùng là chưa thi chưa trúng, mà kỳ khảo trong 3 năm sau hạn đều không được một ưu, một bình, thì đều cách cho ra ?”.

    Vua theo lời bàn. Lại sắc rằng quan Tứ phẩm trở lên hưu trí hay đã chết đều cho 1 người con làm học sinh.

    Sai Trung vệ dinh Long võ là Tạ Quang Cự quyền lĩnh ấn vụ Phòng ngự sứ Trấn Ninh. Trước kia Quốc trưởng Vạn Tượng là A Nỗ đã về nước, với người Xiêm đánh nhau bị thua, lại chạy. Phòng ngự Trấn Ninh là Chiêu Nội sai người đón bắt dâng cho nước Xiêm mà lấy hết của báu. Trấn thần dò được tình trạng đem tâu. Vua còn bao dung. Đến bấy giờ tới kỳ tuế cống, lâu không thấy tăm hơi, trấn thành xin phái binh đến đóng phòng ngự, mà đòi Chiêu Nội về trấn.

    Vua mật dụ rằng : “Chiêu Nội làm điều gian giảo, bụng tự hoài nghi, cho nên chần chờ như thế. Vậy cách xử trí càng nên cẩn thận chu đáo, không nên làm ồn ào chút nào mà đến lỡ việc. Nay nên chọn phái Quản vệ Thần sách 2 người, Suất đội 10 người, biền binh 300 người, chỉnh bị binh khí đi đánh nơi ấy. Phàm các quân lưu tù phạm ở sở phát phối đều tha hết cho quản thúc để sai phái. Lại trách Chiêu Nội là trái hạn, thúc giục đến ngay để xem ý ra sao”.

    Rồi Chiêu Nội thác bệnh không đi, sai con là Chiêu Phọc đi thay. Việc tâu lên, sai Tạ Quang Cự đem theo 2 Quản vệ, 6 Suất đội và 300 biền binh ở Nghệ An đi thu ấn phòng ngự để xét, và dụ rằng : Ngày đến phủ thì tuyên dịch tờ dụ chỉ, Chiêu Nội nếu tuân lệnh lên đường đi ngay thì phái binh hộ tống, nếu thác cớ chần chờ thì bắt xích lại, giải trấn. Nếu dám không phục mà mưu đồ đem quân kháng cự thì sẽ chém ngay trước quân để bảo cho mọi người. Rồi gia cho Quang Cự hàm Vệ uý quân Thị trung, thự Vệ uý Tống Văn Uyển thì đổi trao cho hàm Phó vệ uý quân Thần sách, Cai đội Cao Khả Tuyên thì gia hàm Quản cơ, đều lệ theo Quang Cự làm việc quân.

    Lại sai trấn thần Nghệ An ở các đồn Mường Then, Lam Mãn lượng bắt thổ
    dân sở tại hoặc miền tiếp cận chia đóng các ven đường, có người sai phái đi về thì hộ tống.

    Lấy thự Vệ uý Đoàn Dũ làm Vệ uý Trung vệ dinh Long võ.

    Tha cho quan võ phạm tội là Ngô Văn Vĩnh, phát vãng làm binh cơ Định man (Vĩnh trước làm Trấn thủ Thanh Hoa, vì đi tuần biển hỏng việc, bị xử trảm giam hậu).

    Đặt thêm chức Hiệp thủ ba tấn Cù Huân, Cam Linh, Vân Phong thuộc trấn Bình Hòa.

    Lại cho Cáp Văn Mao ấm thụ chức Ân kỵ uý. Mao là con trưởng công thần Vọng các Chưởng cơ Cáp Văn Hiếu, trước vì đến kỳ duyệt không trình bằng sắc, chiếu lệ trở về hạng tráng, đến bây giờ đem đủ lý do bày xin. Sai trả lại nguyên hàm, hết đời thì thôi.

    Vua bảo bộ Lễ rằng : “Cáp Văn Hiếu dự hàng công thần mà không được đời hưởng ơn nước, tình cũng khá thương. Sau khi Mao chết, nên cho con người em của hắn được tập phong, đời đời mang ơn, để tỏ sự hậu đãi”.

    Đổi định ngạch thuyền ô và thuyền sai ở Kinh (ngạch cũ, thuyền sai 10 chiếc, thuyền ô 5 chiếc, nay đổi làm thuyền ô 15 chiếc).

    Thừa Thiên, Bình Định, Bình Hòa cùng các trấn ở Bắc Thành, vụ mùa này được mùa lớn.

    Chế cấp triện gỗ cho kho tàng các địa phương (đều chiếu hiệu kho mà khắc triện).

    Bộ Lễ nhân tâu rằng : “Tổng trưởng, Lý trưởng ở Gia Định và Bắc Thành lệ có cấp triện gỗ, mà từ Bình Thuận trở ra bắc đến Ninh Bình chưa từng bàn đến”. Vua bèn hạ lệnh cho quan địa phương sở tại theo thức mà chế cấp cho.

    Sai các quan Kinh và ở ngoài trấn cử chức giáo quan.

    Dụ rằng : “Triều đình dùng người không phải lấy một cách làm hạn. Từ trước đến nay có thi Hương, thi Hội, có lệ phủ huyện cử người, đường lối cầu hiền cũng đã rộng lắm. Ngày nọ, đặt chức Giáo thụ, Huấn đạo, viên số rất nhiều, đã từng sai quan liêu đề cử những người mình biết, thế mà gần đây không cử được bao nhiêu. Nếu không tìm kiếm rộng thêm thì làm sao không có nhân tài bỏ sót ? Nay hạ lệnh, ở Kinh thì Tứ phẩm trở lên, ở ngoài thì các quan địa phương, như có ai học rộng, hiểu thông, tuổi 40 trở lên, có thể làm được giáo chức thì cho được chỉ tên bảo cử. ấy là điển lệ tốt về chọn cử nhân tài, không nên xem là hư văn mà lâu không đề cử được ai. Cũng không nên chút giữ lòng tư vị mà lạm cử người bậy. Phải được người thực tài để dùng”.

    Lấy Cai đội Tượng quân là Nguyễn Hữu Kim làm Phó vệ uý vệ Tiền bảo nhất.

    Đổi bổ Trấn thủ Hưng Hóa là Phan Bá Phụng làm Trấn thủ Tuyên Quang, Trấn thủ Tuyên Quang là Vũ Văn Tín làm Trấn thủ Hưng Hóa.

    Cấm người buôn nước Thanh chở trộm phụ nữ.

    Trước kia người Thanh là Đặng Phước Hưng buôn ở Quảng Nam, lấy người con gái ở phố Hội An làm vợ, ngày về chở trộm người vợ về nước. Việc phát giác, giao xuống bộ Hình bàn, xin chiếu lệ đem người và quân khí ra ngoài địa giới và ra biển, giảm một bậc mà xử tội. Phúc Hưng thì phát đi sung quân ở nơi biên viễn, người vợ thì phát làm nô ở chỗ nhất định. Nhân xin lập rõ điều cấm : Phàm người Thanh đến ngụ ở nước ta, ở phố làm dân, đã đăng vào sổ hàng bang, thì mới được cùng dân lấy vợ lấy chồng, bất kỳ đến buôn bán thì đều cấm không cho như thế. Làm trái thì đàn ông đàn bà đều tội mãn trượng, và phải ly dị ; người chủ hôn đồng tội, người mối lái, người bang trưởng và người láng giềng đều tội giảm một bậc. Quan địa phương biết mà cố ý dung túng thì giáng 1 cấp, đổi nơi khác. Nếu nhân thế mà chở đem về nước Thanh thì người đàn ông phát sung quân nơi biên viễn, người đàn bà phát làm nô ở chỗ nhất định, chủ hôn giảm một bậc, người mối, bang trưởng, láng giềng đều tội mãn trượng. Quan địa phương cố ý dung túng, tấn thủ không xét hỏi ra thì quan giáng 4 cấp đổi đi, lính trượng 90, có hối lộ mà dung túng thì kể tang mà trị theo luật nặng.

    Đình thần bàn lại, cho là : Bộ Hình bàn định lệ ấy, là muốn cho ngu dân biết mà răn sợ, và người xét hạch có chỗ cầm giữ. Lời bàn ấy là phải. Đến như người Thanh lấy người nước ta sinh con cái mà chở trộm về nước Thanh thì xin cũng nghiêm cấm. Nếu phạm cấm thì người đàn ông, người đàn bà, bang trưởng, và người láng giềng tư tình đều tội 100 trượng ; địa phương cố ý dung túng, và tấn thủ không xét được thì chiếu lời nghị trước mà xử tội. Lại con sinh ra cấm không được bện tóc làm đuôi sam, làm trái thì người đàn ông người đàn bà đều tội 100 trượng ; bang trưởng và láng giềng thì giảm 2 bậc. Vua đều theo cả.

    Phát thóc công làm vốn cho đường hộ ở Quảng Nam, Quảng Ngãi. Định lấy Quảng Nam 200.000 cân, Quảng Ngãi 400.000 cân, hạn tháng 4 tháng 5 sang năm thì nộp trừ đủ số thóc. Quảng Nam mỗi 100 cân đường hạng nhì phát thóc 7 hộc ; hạng ba 6 hộc. Quảng Ngãi mỗi 100 cân đường hạng nhất phát thóc 6 hộc rưỡi ; hạng nhì 6 hộc, hạng ba 5 hộc rưỡi.

    Lấy Phó vệ uý Hữu vệ dinh Hổ oai là Nguyễn Văn Mỹ làm Phó vệ uý vệ Trung nhất quân Thị trung, Phó vệ uý Tả vệ dinh Long võ là Nguyễn Văn Trung làm thự Phó vệ uý vệ Hữu nhị quân Thị trung.

    Vua xem sách thống kê cả năm về năm ngoái, bảo Hộ bộ Lương Tiến Tường rằng : “Trẫm xem định ngạch tiền bạc thuế khoá một năm, so với số bổng các quan lớn nhỏ trong ngoài và số thường chi, còn thiếu không kém 50 vạn. Duy số thóc thuế chính cung còn thừa chừng 2 vạn hộc thì lấy 1 vạn để cấp thêm, còn trữ 1 vạn cũng chả đáng lo, nhưng số tiền thu vào không bù số chi ra thì rất đáng lo đấy. Thuế thì có định ngạch không thể thêm lên được, trừ một việc đúc tiền thì lấy gì mà cấp. Nay nhà nước đang thịnh mà của dùng còn thiếu như thế, nếu đời vua sau này không biết đạo dè dặt yên dân nuôi dân mà cứ hoang phí không chừng, thuế má không mức, thì mối lo nói sao xiết được ! Tài chính là việc lớn của nước, nên trù liệu sớm đi”.

    Định lại danh hiệu và số ngạch tượng binh ở trong và ngoài. Bộ Binh bàn cho rằng : “Nhà nước có tượng binh dùng về việc quân, thật là đắc lực, mà từ trước đến nay ở Kinh và các thành trấn đạo, có nơi số binh nhiều, số voi ít, có nơi số binh ít, số voi nhiều ; lại có nơi binh và voi đều chưa từng có. Nếu không tuỳ nghi định lại, cứ nhân tuần như thế, thì sự chăn nuôi ngày thường đã lo khó đủ, mà khi có việc sai khiến lại sợ có chỗ làm không nổi. Xin lượng theo địa phương lớn nhỏ và công việc nhiều ít để định số binh số tượng khác nhau cho có định ngạch.Ở Kinh có 3 vệ, mỗi vệ 10 đội, biền binh 1.500 người, voi 150 thớt. Bắc Thành 3 cơ, mỗi cơ 5 đội, biền binh 750 người, voi 110 thớt. Thành Gia Định 10 đội, biền binh 500 người, voi 75 thớt. Quảng Nam 5 đội, biền binh 250 người, voi 35 thớt. Nghệ An 3 đội, biền binh 150 người, voi 21 thớt. Quảng Bình, Quảng Ngãi, Thanh Hoa đều 2 đội, biền binh đều 100 người, voi đều 15 thớt. Quảng Trị, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận, Ninh Bình đều 1 đội, biền binh đều 50 người, voi đều 7 thớt. Lại cứ hiện số thừa thiếu mà bớt hay thêm. Nếu chưa đủ số, binh thì mộ sung vào, voi thì bổ tiếp. Đến như danh hiệu vệ, cơ, xin dùng một chữ tên Kinh, thành, trấn, đạo mà gọi.Ở Kinh thì gọi là 3 vệ Kinh tượng nhất, nhị, tam ; Quảng Trị thì gọi cơ Trị tượng ; Quảng Bình gọi cơ Quảng tượng ; Quảng Nam gọi cơ Nam tượng ; Quảng Ngãi gọi cơ Ngãi tượng ; Bình Định gọi cơ Bình tượng ; Phú Yên gọi cơ Phú tượng ; Bình Hòa gọi cơ Hòa tượng ; Bình Thuận gọi cơ Thuận tượng, Nghệ An gọi cơ An tượng ; Thanh Hoa gọi cơ Hoa tượng ; Ninh Bình gọi cơ Ninh tượng ; Gia Định gọi cơ Định tượng ; Bắc Thành gọi 3 cơ Bắc tiền, Bắc tả và Bắc hữu”.

    Vua y theo lời bàn. Đổi bổ Phạm Văn Điển làm Thống chế Kinh tượng, Lê Phục Tấn làm Phó vệ uý vệ Kinh tượng nhất, vẫn chuyên quản các tượng cơ ở Quảng Trị, Quảng Nam và Quảng Bình, Hồ Văn Đa làm Vệ uý vệ Kinh Tượng nhị, vẫn chuyên quản các tượng cơ Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận và Gia Định, Nguyễn Văn Thị làm Vệ uý Kinh tượng tam, vẫn chuyên quản các tượng cơ ở Nghệ An, Thanh Hoa, Ninh Bình và Bắc Thành.

    Sai Hữu ty chế ấn quan phòng Kinh tượng Thống chế bằng ngà và ấn đồ ký ba vệ Kinh tượng bằng đồng, mỗi vệ một cái, ấn đồ ký bằng đồng và kiềm bằng gỗ cho 15 tượng cơ, mỗi cơ đều một cái. Lại chế ấn quan phòng Kinh tượng bằng đồng một cái và kiềm bằng ngà một cái, 1 ấn đồ ký đồng và 1 kiềm gỗ cho các tượng cơ Trị, Nam, Quảng, 1 ấn đồ ký đồng và 1 kiềm gỗ cho các tượng cơ Nghĩa, Bình, Phú, Hòa, Thuận, Định, 1 ấn đồ ký đồng và 1 kiềm gỗ cho các tượng cơ An, Hoa, Ninh, Bắc.

    Chuẩn định từ nay, phàm các công trình xây dựng tu bổ ở Kinh, khi việc làm xong, Công bộ và Hộ thành binh mã sứ theo lệ uỷ giao nhân viên đến khám nghiệm, lấy đủ tờ cam kết của viên giám tu, lưu giữ ở Bộ, để phòng ngày sau tra xem niên hạn bảo cố, không phải làm tờ tâu như trước nữa. Ghi làm lệ.

    Định lệ khóa thanh tra kho thuốc đạn. Kho thuốc đạn, từ năm Gia Long trở lại, số trữ cũ và thu mới chồng chất nhiều năm, chưa từng tra xét. Đến nay mới sau Lang trung Công bộ là Phan Đình Sỹ sung chức Đổng lý đem 4 người Bát phẩm và Thư lại vị nhập lưu theo làm việc. Chế cấp ấn quan phòng và kiềm ngà “Thanh tra hỏa dược khố”. Thưởng cho Đổng lý và các Thư lại tiền gạo lương 2 tháng, cho biền binh phòng hộ tiền lương nửa tháng. Lại chuẩn định trình hạn thanh tra, lấy năm Minh Mệnh thứ 11 bắt đầu, mỗi vòng 12 năm làm một khóa.

    Hiệp trấn Vĩnh Thanh là Nguyễn Duy Cần vì sai riêng binh lính sửa đóng thuyền ghe bị cách chức. Lấy Hữu Thị lang Hộ bộ Biện lý Hộ tào thành Gia Định là Vũ Giu lĩnh coi việc trấn Vĩnh Thanh.

    Triệu thự Hiệp trấn Biên Hòa là Đặng Chương và Tham hiệp Nghệ An là Nguyễn Ngọc Trác về Kinh.

    Bọn nguyên Trấn thủ Bắc Ninh là Nguyễn Cửu Lợi, Hiệp trấn là Hoàng Văn Tú, Tham hiệp là Nguyễn Mẫn nhiều lần can nghị tội. Đầu là bộ Hình dâng án xin xử tội lưu ; vì còn can án khác, có chỉ cách chức giao tra xét. Sau nhân Bắc Thành tâu báo việc sông nước đã yên nên lại có chỉ tha cho tội lưu, nhưng vẫn theo án khác nghị tội. Đến nay bộ Hình lấy hai án là việc để thóc kho men mục và việc xử án mạng trái phép, tâu lên một việc đáng giáng đổi nơi khác, một việc đáng cách chức, xin theo việc nặng đều xử cách chức.

    Vua thấy trong án Nguyễn Mẫn có khoản riêng là thiện tiện rời bỏ chức thủ, tìm tội nặng hơn, đặc biệt là hạ lệnh đánh 100 trượng và cách chức, bắt về dân chịu sai dịch ; Nguyễn Cửu Lợi và Hoàng Văn Tú đều cách chức, vẫn cho về Kinh hiệu lực ở bộ.

    Triệu Tham hiệp Quảng Nam là Lê Công Tường về Kinh. Lấy thự Tham hiệp Bình Định là Lê Bá Tú làm thự Tham hiệp Quảng Nam.

    Cho cháu thúc bá của Chiêu thảo sứ Đinh Đạt Biểu là Đinh Đạt Huấn được đời đời giữ tự điền quan cấp. Biểu là người huyện Nga Sơn, buổi đầu trung hưng ứng nghĩa, chết trận không con. Năm Gia Long thứ 1 cấp tự điền 20 mẫu và cho em là Đinh Đạt Lượng được tập ấm làm nhiêu ấm để chủ việc thờ cúng. Đến đây Lượng chết, trấn thần xin cho con là Huấn phụng việc thừa tự. Vua y cho.

    Đổi lại danh hiệu và số ngạch các dinh vệ cơ đội các quân ở Kinh và ở ngoài.

    Bộ Binh tâu : “Triều đình đặt binh, ngoài ngạch túc vệ có năm quân((1) Năm quân : Tiền quân, Hậu quân, Tả quân, Hữu quân, Trung quân.1), lại có Thuỷ quân, Tượng quân là bảy quân. Vả nước ta địa thế rộng đến tận biển Nam, thuỷ quân rất là sở trường, cho nên đặt Thuỷ quân cùng năm quân là sáu quân, thật là hợp với chế độ thiên tử lục quân ((2) Thiên tử lục quân : Thiên tử có sáu quân, mỗi quân 10.000 người.2) đời xưa. Còn như Tượng quân, nay đã chia lệ vào các hạt thì nên bớt danh hiệu quân ấy đi, các vệ cơ còn thừa thì lượng bổ vào các quân khác, cũng là một cách châm chước thêm bớt vậy.

    “Lại chiếu số mộ binh ở các dinh vệ quân Thị nội, có đội 30, 40 người, có đội 10, 20 người, có danh hiệu vệ đội, mà không có thực số vệ đội. Lại như dinh Thần cơ có riêng các vệ Thần uy, Chấn uy, mà hai vệ tả hữu còn trống không. Lại có vệ Thành võ từ trước đến nay chưa thuộc dinh nào, cùng các đội sai, các đội Dực bảo, Phú thuận, số quân linh tinh, nên dồn bổ để sung vào số quân thiếu của các dinh vệ.

    “Nay xin lấy 10 đội của Tiền vệ dinh Thần cơ và 2 đội của vệ Thần uy đóng giữ ở Bình Định, 4 đội đóng giữ ở Quảng Nam, số binh hơn 500 người, dồn làm Tiền vệ dinh Thần cơ ; lấy 10 đội của Hậu vệ và 4 đội của vệ Chấn uy ở Kinh, 3 đội đóng giữ ở Quảng Bình, số binh hơn 500 người, dồn làm Tả vệ dinh Thần cơ ; lấy cả vệ Hùng cự nhất đổi làm Hữu vệ dinh Thần cơ ; lấy 2 đội Tiền sai, 5 đội Hữu sai, 2 đội Tân sai, 3 đội Hùng sai, 2 đội Ứng sai, 2 đội của vệ Dực bảo, và 3 đội Phú thuận, số binh hơn 490 người, dồn làm Hậu vệ dinh Thần cơ ; lấy 10 đội Tiền vệ, cùng 9 đội Tả vệ dinh Long võ, số binh hơn 500 người, dồn làm Tiền vệ dinh Long võ ; lấy 1 đội Tả vệ dinh Long võ và 3 đội Hữu vệ dinh Hổ oai, cùng vệ Thành võ, số binh hơn 480 người, dồn làm Tả vệ dinh Long võ ; lấy 10 đội Tả vệ dinh Hổ oai cùng 7 đội Hữu vệ, số binh hơn 500 người, dồn làm Tả vệ dinh Hổ oai, lấy cả vệ Hùng cự nhị đổi bổ làm Hữu vệ dinh Hổ oai. San bổ như thế thì 4 dinh quân Thị nội, mỗi dinh đều được 3 vệ lính giản, 2 vệ lính mộ.

    “Lại lính vệ Chấn uy, 1 đội đóng giữ ở Quảng Trị, 2 đội đóng giữ ở Quảng Bình và lính vệ Thần uy, 2 đội đóng giữ ở Quảng Nam, 2 đội đóng giữ ở Bình Định và Quảng Ngãi xin đổi lệ vào các trấn như các đội Uy chấn ở Thanh Nghệ và Bắc Thành. Binh Chấn uy lệ vào Quảng Trị thì làm đội Chấn uy nhất, lệ vào Quảng
  • Chia sẻ trang này