0059.092 - @suongdem(done-GD)

31/12/15
0059.092 - @suongdem(done-GD)
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose:

    Bình thì làm 2 đội Chấn uy nhị và Chấn uy tam. Binh Thần uy lệ vào Quảng Nam thì làm 2 đội Thần uy nhất, Thần uy nhị, lệ vào Bình Định thì làm đội Thần uy tam, lệ vào Quảng Bình thì làm đội Thần uy tứ ; không được đề tên đầu là Thị nội Thần cơ dinh, để cho có phân biệt.

    “Đến như cơ Ngũ kích của Tượng quân thì 2 cơ Hữu và Hậu, quê thuộc Ninh Bình, xin đổi cơ Hữu kích làm Ninh Bình TiCaền cơ, Hậu kích làm Ninh Bình Hữu cơ, cơ Ninh Bình đổi làm Ninh Bình Tả cơ, cơ Ninh Dũng đổi làm Ninh Bình Hậu cơ, đều lệ vào đạo Ninh Bình để sai phái. Con ba cơ Trung, Tiền, Tả, quê thuộc Bắc Thành, thì xin do thành thần tán bổ vào số giản binh thiếu ở năm quân”.

    Vua y theo lời bàn. Quan Bắc Thành lại tâu : “Số binh ở cơ Tam kích, hàng ngũ đã thành, bỏ trốn cũng ít, người quản suất vốn cùng luyện tập, nếu theo quê quán mà chia bổ tan ra thì chẳng khỏi sợ hãi. Xin chiếu số thiếu ở cơ đội các quân, cho cả số 1, 2 đội, hoặc 5, 6 đội sung vào, khiến cho đội ngũ liền nhau, có thể mong sai khiến được việc”. Lại nói : “Giản binh của năm quân, từ trước mỗi cơ chia làm 3 hiệu, Trung hiệu 4 đội, Tiền Hậu hiệu đều 3 đội ; xin đổi 4 đội Trung hiệu làm 4 đội nhất, nhị, tam, tứ, Tiền hiệu làm 3 đội, ngũ, lục, thất, Hậu hiệu làm 3 đội bát, cửu, thập mà tước bỏ danh ngạch ba hiệu đi”.

    Vua đều y theo. Hạ lệnh chế cấp cho 2 vệ Tả, Hữu dinh Thần cơ ấn đồ ký bằng đồng và kiềm bằng gỗ mỗi vệ mỗi thứ 1 cái, và cho 4 cơ Tiền, Tả, Hữu, Hậu ở Ninh Bình mỗi cơ 1 ấn đồ ký bằng đồng.

    Lấy Phó vệ uý Hậu vệ dinh Thần cơ là Nguyễn Văn Niên làm Phó vệ uý Tả vệ dinh Thần cơ, Vệ uý vệ Hùng cự nhất là Phạm Văn Sỹ làm Vệ uý Hữu vệ dinh Thần cơ, Phó vệ uý Thần uy dinh Thần cơ là Trần Công Điều làm Phó vệ uý Hậu vệ dinh Thần cơ, Phó vệ uý vệ Chấn uy dinh Thần cơ là Trần Văn Quý làm Phó vệ uý Tiền vệ dinh Tiền phong, Phó vệ uý vệ Thành võ là Nguyễn Đức Trường làm Phó vệ uý Tả vệ dinh Long võ, Phó vệ uý vệ Hùng cự nhị là Nguyễn Văn Vỵ làm thự Phó vệ uý Hữu vệ dinh Hổ oai.

    Lấy Phó vệ uý vệ Nghĩa võ quân Thần sách là Đào Văn Nghị làm thự Vệ uý vệ Quảng võ, thự Phó vệ uý vệ Trung võ là Tống Phước Minh làm thự Phó vệ uý vệ Nghĩa võ, Phó vệ uý quân Thần sách là Tống Văn Uyển làm Phó vệ uý vệ Tráng võ.

    Triệu Chưởng cơ Thống quản thập cơ Chấn định của Trung quân là Nguyễn Xuân, Thống quản thập cơ Hùng dũng của Hữu quân là Hồ Bôi về Kinh. Lấy thự Thống chế Lê Văn Quý lĩnh Trung quân, Thống quản thập cơ Chấn định thự Thống chế Nguyễn Văn Quyền lĩnh Tả quân, Thống quản thập cơ Kiên nhuệ của Tả quân là Trần Văn Lộc đổi bổ làm Thống quản thập cơ Hùng dũng của Hữu quân.

    Đổi bổ Thống chế quản biền binh Gia Định là Đỗ Quý làm Thống chế Tả dinh quân Thần sách.

    Quan Bắc Thành tâu rằng : “Từ trước đến nay, việc làm xưởng để thuyền, những vật liệu đều do biền binh tự biện. Xin các xưởng thuyền ở Bắc Thành và ở đồn thuỷ Nam Định đều chiếu theo lệ ở Kinh, chia hạng mà cấp tiền”.

    Sai bộ Công bàn tâu, cho rằng : Thuỷ sư là việc lớn của nhà nước, Bắc Thành là nơi quan trọng, ngạch thuế so với các nơi nhiều hơn, nếu bắt ở sức binh lính thì sợ khó biện nổi. Duy binh ở ngoài cùng binh ở Kinh, việc công nhiều ít có khác nhau, tưởng nên xem lệ ở Kinh lượng giảm mà cấp. Nay xin cứ số thuyền ghe trong ngạch, định làm bốn hạng : hạng nhất là các thuyền hiệu Ba Lãng, hạng nhì là thuyền hải đạo, hạng ba là thuyền ô, thuyền lê, hạng tư là thuyền sam bản. Hạng nhất hạng nhì thì chia đặt mỗi xưởng 1 thuyền, hạng ba hạng tư hợp lại, mỗi xưởng 2 thuyền. Xưởng hạng nhất cấp tiền 350 quan, hạng nhì và ba đều 200 quan, hạng tư 120 quan. Đặt quy chế cao rộng bao nhiêu trượng thước. Lại lấy năm dựng xưởng bắt đầu, 3 năm một lần tiểu tu, 6 năm một lần đại tu, sau đại tu đến tiểu tu, sau tiểu tu đến đại tu, hết lượt lại bắt đầu. Chi phí việc tiểu tu thì kém số tiền mới làm là 8 phần 10, đại tu thì kém 6 phần 10. Duy có thuyền hiệu Ba lãng có sai việc công, đến khi về lại làm xưởng, thì theo số tiền làm xưởng lúc đầu cấp cho 1 phần 10, nếu gặp năm đại tu, tiểu tu thì không phải cấp lần nữa. Còn các thuyền khác hằng năm thường sai phái thì không ở lệ ấy”. Vua theo lời.

    Triệu Đốc học trấn Định Tường là Nguyễn Huy Hựu về Kinh để bổ dùng, lấy Hàn lâm Thị giảng làm Vũ Đức Mẫn là Đốc học Định Tường.

    Bổ Nguyễn ái làm Đốc học Quảng Bình.

    Thự Phủ doãn Thừa Thiên là Đặng Đức Thiệm và Phủ thừa là Thang Huy Thận bị tội cách chức. Bọn Thiệm vì thuộc viên ở phủ gá bạc mưu lợi mà lại thiên vị che chở đến nỗi kẻ thua bạc bị giam, cùng bức mà tự tử. Bộ Hình nghị xử cách chức và truy bắt tiền mai táng 10 lạng để cấp cho người chết.

    án tâu lên. Vua gia ơn đổi làm giáng 4 cấp đổi nơi khác. Thiệm giáng làm Chủ sự, tá bổ hàm Hàn lâm Tu soạn, theo làm việc ở bộ Lễ ; Thận giáng làm Tư vụ, tá bổ hàm Hàn lâm Biên tu, theo làm việc ở bộ Lại.

    Lấy Tham hiệp Quảng Bình là Phan Thanh Giản làm thự Phủ doãn Thừa Thiên, Lang trung Hộ bộ là Bạch Xuân Nguyên làm Phủ thừa. Thanh Giản từ Quảng Bình vào yết kiến, vua hỏi : “Ngươi trước ở Nghệ An có thám biết việc Trấn Ninh không ?”. (Trước kia Tham hiệp Nguyễn Ngọc Trác về đinh ưu sai Phan Thanh Giản quyền nhiếp việc trấn). Đáp rằng : “Thần nghe như Chiêu Nội đương có lòng ngờ sợ, không được an tâm ; nhưng vì uy đức triều đình gia đến nơi xa, cho nên cũng chưa dám xuẩn động”.

    Vua hỏi : “Việc Trấn Ninh ngày nay ý ngươi thế nào ?”. Đáp : “Thần ngu muội, cho Trấn Ninh cũng là một mối lo ở ngoài. Nay nếu không nhân việc chưa phát mà ngăn đi, sợ sau này thế đã thành thì càng khó trị”.

    Vua nói : “Trẫm từng nghĩ ngăn việc ở khi chưa phát thì dùng sức ít mà thành công dễ, lo việc ở khi đã phát thì dùng sức nhiều mà thành công khó. Cho nên về hạt Trấn Ninh trẫm thường lấy làm lo. Lời nói của ngươi chính hợp ý trẫm. Tháng trước sai Tạ Quang Cự đi, ngươi thử liệu xem Chiêu Nội có theo mệnh không ? hay là chống mệnh ?”. Đáp : “Thần trộm nghĩ hắn không dám chống mệnh”.

    Vua nói : “Sợ lòng kẻ tiểu nhân không điều gì không làm. Hắn nếu chống mệnh thì quân đi đánh kẻ có tội, trẫm không ngăn được”. Lại hỏi : “Ngươi ở Nghệ An cùng với Nguyễn Văn Quế và Hồ Hựu làm việc, xem hai người ấy thế nào ?”. Đáp : “Quế là người chăm chỉ giỏi giang, Hựu không kịp được”.

    Vua nói : “Trẫm vốn biết tài của Quế có thể dùng làm việc lớn được, cho nên giao cho trọng trấn. Gần nay làm việc cũng hơi khá. Đến như Hựu thì trước ở Kinh trẫm xem xét kỹ cũng là người tầm thường. Song có Quế cùng làm, có thể không ngại”. Lại nói : “Nghệ An trước nay thường được mùa luôn, dân gian dần đã yên ổn. Tháng trước mới gặp nước lụt, giá gạo kém, dân có sắc đói không ?”. Đáp : “Dân tuy ăn khổ, mà đường sá chưa thấy người có sắc xanh xao”.

    Vua lại hỏi : “Trong hạt có yên ổn không ?”. Đáp : “Nay nhà nước cường thịnh, ngoài cương giới chắc có thể giữ không lo ngại. Vừa rồi nhân sự khó kiếm ăn, trộm cướp hoặc cũng có đến, như thổ phỉ thì không dám nổi đâu”.

    Vua nước Chân Lạp là Nặc Chăn khiến người đưa thư đến Gia Định. Thư nói rằng trước Nguyễn Văn Thuỵ bảo hộ nước ấy, người nước cảm ơn đức, muốn cắt đất ba phủ Chân Nơm, Mật Luật và Lợi ỷ Bát dâng nộp để đền ơn, đã có dụ sai Văn Thuỵ chỉ tiếp thu nhân dân 2 phủ Chân Nơm và Mật Luật gần đồn Châu Đốc để quản hạt và huấn luyện, đến như thuế lệ 2 phủ và phủ Lợi ỷ Bát thì giao trả cho Chăn quản lý. Chăn tự nghĩ dân số hai phủ không mấy, lại lấy phủ Lợi ỷ Bát giao riêng cho. Nay Thuỵ đã chết, xin lại đem 3 phủ ấy về thuộc đồn Châu Đốc mãi mãi, do viên bảo hộ mới quản lý, thuế lệ thì giao cho đầu mục thu giữ, để phòng cần đến khi có việc sai phái.

    Thành thần đem việc về tâu. Vua giao xuống đình thần bàn. Đều nói: “Chân Lạp, khi trước nhỏ yếu, bị nước láng giềng áp bức, chỉ nhờ cậy uy đức của triều đình mà bảo vệ được nước, lâu không có mối lo khổ sở lưu ly, như thế thì không một thước đất, không một người dân của nước Chân Lạp là không ở trong phạm vi che chở. Vua Phiên dâng nộp đất đai, sửa lễ cống hiến, đời nào cũng giữ đạo phiên phụ. Tự biết là ơn to của nhà vua không thể báo đền được, nhưng thấy viên bảo hộ Nguyễn Văn Thuỵ giúp đỡ cho là có ơn, xin cắt đất 3 phủ để trả ơn, Thuỵ đã từng vâng lời dụ rõ ràng, chỉ thu 2 phủ, khiến người huấn luyện nhân dân mà giữ đất đai cho họ, thật là chí ý bồi đắp cho nước nhỏ. Nay vua Phiên lại xin nộp đất 3 phủ, tuy thành khẩn, song trong đó 2 phủ trước đã giao quản thì có lời lẽ rồi, đế như phủ Lợi ỷ Bát là đất giao riêng mà viên bảo hộ cũ nhận riêng thì có lẽ nào lại cho là việc cũ mà giao cho viên bảo hộ mới. Xin theo lời dụ trước mà làm. Hạ lệnh cho thành thần tuyên bảo đức ý của triều đình, khiến vua Phiên biết lòng nhân vỗ về của triều đình mà càng gắng giữ lâu dài để tỏ cái nghĩa tôn thân”. Vua khen là phải.

    Dân Phiên ở phủ Ba Xắc nước Chân Lạp họp đảng cướp bóc thuyền buôn trấn Hà Tiên, giết hại chủ thuyền. Hai đồn Trấn Di, Giang Thành đem binh tìm bắt, bắt được kẻ phạm 4 người và tang vật. Quan thành Gia Định làm án nghĩ xử các tên phạm thì chém bêu đầu, còn chức minh phủ (chức quan người Lạp) cai quản hạt ấy là Trần Phòng Quan không biết kiềm thúc được dân thì cách chức. án tâu lên, vua cho là phải. Trần Phòng Quan thì tư cho vua Phiên xử trí.

    Trấn Hải Dương chữa lại kho trấn, xin chi nhu trước rồi sau báo số tiêu. Quan Bắc Thành đem việc tâu lên, và xin từ nay trong hạt thành cần tu bổ gì thì chiếu lệ ấy mà làm.

    Vua bảo bộ Công rằng : “Dùng của công để xây dựng tất phải tính giá trước tâu lên, để làm bằng cứ về sau khi xét sổ tiêu, thế là trọng của nhà nước. Nếu vội chi nhu thì công trình làm có được hợp cách hay không ? Vật liệu cần dùng có thích đáng hay không ? Lấy gì mà xét cho đúng ? Vậy hạ lệnh phàm các sở hành cung, kho tàng, thành trì trong hạt thành, dùng của công để sửa sang thì tự 30 quan tiền trở lên đều phải xét kỹ, tính giá tâu lên đợi chỉ, không được làm khinh suất”.

    chính biên

    Đệ nhị kỷ - Quyển LXIII

    Thực lục về Thánh tổ nhân hoàng đế



    Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10 [1829], mùa đông, tháng 11, lấy Hàn lâm viện Thừa chỉ là Tôn Thất Bạch làm thự Tham hiệp Bình Định.

    Sai các quân Thị nội, Thần sách đều cử một Suất đội và 50 biền binh đi thú Hải Vân quan, mỗi tháng thay phiên một lần.

    Vua dụ bộ Lễ rằng: “Từ trước đến nay, con các hoàng tử cũng gọi là công tử, theo lẽ chưa hợp. Cho tự nay về sau phàm con hoàng tử gọi là hoàng tôn, cháu hoàng tử gọi là hoàng tằng tôn, con tằng tôn gọi là hoàng huyền tôn, con gái cũng theo lệ ấy. Không phải các hàng ấy thì không được lạm xưng. Làm trái thì trị tội theo luật.

    Cải bổ thự Hữu Tham tri Binh bộ là Hoàng Văn Diễn làm Hiệp trấn Quảng Trị.

    Vua thấy Diễn làm việc tầm thường, không kham nổi chức đường quan ở Kinh, cho nên bổ ra ngoài.

    Lấy nguyên thự Hiệp trấn Bắc Ninh là Nguyễn Văn Mưu quyền làm công việc bộ Binh.

    Trấn thủ Sơn Tây cách lưu là Lê Phước Bảo và nguyên lĩnh Đê chính là Nguyễn Đức Hội và Nguyễn Văn Nghị, án đê đã bồi thường xong, quan Bắc Thành tâu lên; cho Phước Bảo khai phục nguyên hàm, Nghị thì giao cho bộ dẫn vào yết kiến, Đức Hội còn can án về việc thuế cửa quan và bến đò thì sai tư cho vào Kinh, đợi bồi thường xong sẽ theo dụ trước do bộ dẫn vào yết kiến.

    Người huyện Vĩnh Yên trấn Vĩnh Thanh thành Gia Định là Dương Thị Ư, chồng bị bệnh hủi mà nhà nghèo, có tên chủ nợ thích nhan sắc của thị muốn tư thông, hoặc lấy của mà dỗ dành, hoặc lấy oai mà doạ nạt, thị nhất định không chịu, cuối cùng bị nó đâm chết. Thành thần tâu lên. Bộ Lễ xin cấp cho biển ngạch khắc bốn chữ “Dương thị trinh phụ” để khuyến khích người trinh tiết trong thiên hạ. Vua y cho, nói rằng: “Phụ nữ Gia Định vốn phần nhiều dâm đãng, lấy việc này để khuyến khích phong tục cũng là nên, hạt khác thì chưa đáng đâu”.

    Triệu thự Hiệp trấn Bình Định là Hoàng Văn Quyền về Kinh.

    Tù trốn ở châu Mường Vanh đạo Cam Lộ là A Điền Cáo trước phải tội giam ở Quảng Trị, vượt ngục trốn ra, lại họp đảng cướp bóc làm hại dân biên thuỳ. Đến khi quan quân đánh bắt, không chịu hàng, chạy trốn đi xa, đến bấy giờ thế cùng, đem bộ lạc đến trấn Quảng Bình thú phục. Tỉnh thần tâu lên. Vua hạ lệnh cho đóng gông giải về Kinh, giao bộ Hình tra hỏi. án thành, giải đến thú sở Ai Lao để giết. Còn thân quyến và quân man 200 người đều tha cả.

    Thống chế Thuỷ quân là Nguyễn Tài Năng có tội cách chức. Năng trước đây đi Đà Nẵng, đem thuyền Oai phượng ra cửa bị gió mắc cạn. Vua giáng dụ nghiêm trách, phái lính Kinh đến hộ dẫn. Gặp nước thuỷ triều lên hơn 3 thước, lính chưa đến mà thuyền đã ra khỏi chỗ cạn. Vua được tin nhân bảo bộ Công rằng: “Trẫm ở ngôi mười năm nay, nhiều lần được trời giúp. Gần đây ở Bình Thuận việc nông thiếu mưa, ở Kinh thành thì việc nông đã xong mà mưa dầm mãi, trẫm bảo nếu lòng trời thương dân thì chuyển mưa chỗ nọ đến chỗ kia thì đâu đấy đều nhờ ơn cả. Không mấy ngày trấn thần đã tâu báo được mưa. Bây giờ lại có việc nước triều dâng lên gấp bội, há chẳng phải thần kỳ giúp đỡ hay sao. Nhưng lòng trẫm vẫn kinh sợ, chưa từng lúc nào dám sao nhãng”. Bèn dụ sai trấn thần soạn lễ đến tạ. Thuyền Oai phượng bị nhiều tổn hại. Bộ Hình nghị Năng tội đồ. Vua cho đổi làm cách lưu, bắt sửa chữa lại thuyền. Đến khi thuyền chữa xong, Năng lại tự tiện cho thuyền ra sông. Vua sai Thị vệ chạy trạm đến ngăn lại không kịp. Vua giận bảo bộ Hình rằng: “Nguyễn Tài Năng việc này việc khác đều làm bậy, đã nhiều lần bị lỗi nặng. Còn nghĩ năm trước làm việc cần mẫn, muốn dạy bảo để cho đổi mới mà chờ cố gắng sau này. Nhưng ngày càng thêm bậy. Gỗ mục không chạm được, nếu còn để làm việc, hẳn đến đổ vỡ”. Bèn sai giải chức tống giam ở vệ Cẩm y.

    Sai Vệ uý Hậu thuỷ là Trương Văn Tín hộ lý ấn triện Thuỷ quân.

    Định lại lệ chạy ngựa trạm. Lệ trước hằng tháng thì mồng 1 đến rằm tự Kinh đệ đến Gia Định và Bắc Thành, từ 16 đến cuối tháng đệ tự hai thành đến Kinh.

    Vua thấy hai thành có lệ mỗi tháng báo giá gạo, đều phát đệ vào thượng tuần. Nếu đổi cho chạy ngựa thì đỡ khó nhọc cho người. Bèn đổi lại trước ngày rằm thì phát tự các thành. Sau ngày rằm thì phát tự Kinh sư.

    Cấp ngựa trạm cho Bình Thuận. Trước đấy từ trạm ở Kinh vào nam đến Bình Hòa, ra bắc đến Bắc Thành, mỗi trạm đều có ngựa để chạy trạm, duy Bình Thuận đất nhiều bãi cát nên chưa bàn đến. Bấy giờ sai trấn thần xem kỹ, chín trạm từ Thuận Lai đến Thuận Sơn đều có cỏ nước có thể nuôi ngựa, mới cấp ngựa cho. (Mỗi trạm 3 con ngựa 2 lá cờ đề chữ “Mã thượng phi đệ”((1) Mã thượng phi đệ : đệ theo ngựa phi.1), 1 lá cờ đề chữ “Mã thượng trì đệ” ((2) Mã thượng trì đệ : đệ theo ngựa chạy.2).

    Bãi việc Gia Định mua ngà voi và đậu khấu cho nhà nước.

    Vua bảo bộ Hộ rằng: “Gần đây trẫm nghe nói trước kia bộ có tư giấy kiếm mua sản vật ở Gia Định, thành tào Trần Nhật Vĩnh chỉ một niềm cầu lợi riêng, thành ra nhiều chuyện lôi thôi. Trong số đó có các thứ ngà voi, đậu khấu lại giao cho bảo hộ Nguyễn Văn Thuỵ, hoặc bắt ép bán rẻ, hoặc bày cách lấy không, nhân việc công làm việc tư, biếu người quyền quý. Lại có bọn lại dịch bậy bạ nhân đó làm càn, lấy nặng thêm để bù hao, đến nỗi bọn lái buôn Man phải oán thán. Thổ sản địa phương có quan hệ đến việc tiêu dùng của nước, phàm việc phải tổn người trên bù người dưới, lập pháp vốn là muốn lợi dân. Nếu quan địa phương làm được đúng đắn, một lòng chí công, thì nhân dân được nhờ đó mà có của. Việc ấy ai cũng nghe thấy rõ ràng. Sao ở hạt khác lại xảy ra nhiều điều tốt như thế ? Nên truyền cho thành thần Gia Định, phàm mua vật hạng chỉ cứ trong hạt có thức gì thì mua, không được trách cứ ở quan Bảo hộ. Như ngà voi, đậu khấu nay không cần gấp thì thôi không mua nữa. Còn thổ sản khác, nếu gặp giá cao thì tự bộ tâu lên, không nên mua lấy cho kỳ được mà sinh mối tệ. Thành tào Ngô Bá Nhân, phàm trăm việc đều phải giữ lòng công để làm, chớ bảo là triều đình xa vạn dặm mà phụ lòng. Gương Trần Nhật Vĩnh trước cũng chẳng xa đâu !”.

    Vua đi xem sông Lợi Nông ((3) Lợi Nông hà : ở phía bắc huyện Hương Thuỷ phủ Thừa Thiên.3).

    Cấp lương tháng cho Cửu phẩm thư lại thí sai ở Tả Hữu thừa ty thuộc các thành trấn đạo 1 quan tiền 1 phương gạo.

    Đổi lễ Đầu xuân ra quân làm lễ Tế cờ. Bộ Lễ tâu rằng: “Binh là việc lớn của nước. Sai tướng ra quân rồi mới trao cho cờ mao tiết là để chuyên trách nhiệm và trọng sự thể. Liệt thánh quốc triều ta, lúc mới gây dựng, đánh nam dẹp bắc, việc binh rất cần. Kịp đức Thế tổ Cao hoàng đế ta, thánh đức trung hưng, võ công cả định, cho nên lệ trước cứ đầu năm ban cờ mao tiết, sai tướng ra quân. Đó là theo việc mà đặt lễ là như thế. Ngày nay trong ngoài yên ổn, nhà nước nhàn hạ, chính là lúc việc võ không nên nhàm. Huống chi binh khí là vật dữ, chiến tranh là việc nguy, người xưa rất thận trọng. Như nay đầu mùa xuân mà ra quân, không việc gì mà ban cờ mao tiết, sợ không phải là việc nên làm. Duy buổi thái bình việc võ bị không nên quên, cho nên đời xưa cứ mùa xuân đi săn để sửa sang binh khí mà phòng việc không ngờ, thực là ngụ ý lúc yên phải nhớ lúc nguy. Vả lại quân lữ là việc lớn, có thần coi giữ. Cẩn xét điển nhà Minh, mỗi năm đến tháng trọng thu sai quan tế ở miếu Kỳ đạo. Nếu sai tướng ra quân thì tế Kỳ đạo rồi mới đi. Lại tra điển nhà Thanh, Kỳ đạo không có miếu riêng, hằng năm cũng không có nghi thức tế, duy có sai tướng hay vua thân chinh thì khi ra đi mới tế cờ ở ngoài cửa trong của nhà Đường tử ((1) Đường tử : chỗ tế thần của nhà Thanh.1), như thế thì việc tế cờ cũng là tôn chuộng lắm. Nay xin đến đầu xuân sai quan tế cờ mà bớt lệ ban mao tiết. (Tự nay về sau hằng năm cứ tháng 11 Khâm thiên giám chọn ngày tốt để đầu xuân sang năm tế cờ. Ngày mồng 7 tháng giêng, bộ Lễ tâu xin chọn phái đại thần võ ban Khâm mạng làm lễ. Ngày 11 đặt triều nghi ở điện Cần Chính để quan Khâm mạng bái mạng. Đến kỳ tế cờ, trước một ngày Hữu ty làm đàn đặt án ở ngoài quách phía nam Kinh thành, án giữa đặt một bài vị “Kỳ đạo chi thân”, án bên tả đặt ba bài vị “Kỳ đầu đại tướng”, “Lục đạo đại tướng”, “Ngũ phương kỳ thần”, án bên hữu đặt 4 bài vị “Chủ tể chiến thuyền chính thân”, “Kim cổ dác nạo pháo chi thần”, “Cung thỉ phi thương phi thạch chi thần”, “Trận tiền trận hậu thần kỳ”, đều hướng về nam cả. Sửa lễ tam sinh, biền binh mang súng 300 người, voi lễ 10 con, đại bác 3 cỗ, đến bày ở đàn sở. Đến ngày, quan Khâm mạng làm lễ. Lễ xong bắn 3 phát đại bác, về phục mạng). Việc thao diễn biền binh thuỷ bộ tượng mã thì vẫn do bộ Binh tâu xin chọn ngày tốt mà thi hành. Các thành trấn ở ngoài cũng cứ bộ Binh tư gửi nhật ký mà hội họp biền binh trong hạt để thao diễn).

    Đình thần bàn lại rằng: Đầu xuân tế cờ là để tỏ không quên người có công mà việc gì cũng có người đặt trước. Chọn ngày tốt để thao diễn là để tỏ ra không quên võ bị mà chấn khởi kẻ lười biếng. Không trái ý xưa và hợp với đời nay, xin y lời bàn của bộ”. Vua nhận lời tâu.

    Bộ Binh lại tâu rằng: “Các địa phương ở ngoài thì lệ ra quân và thao diễn chỉ Gia Định và Bắc Thành có thôi. Nay ở Kinh lệ ra quân đã đổi làm tế cờ, mà tế cờ thì nên thống nhất về Kinh sư, lệ ra quân ở hai thành nên đình chỉ. Đến như điểm binh thao diễn, thì các địa phương cũng nên cùng làm như hai thành để đều chỉnh bị hàng ngũ quân đội mà phòng có việc thì dùng. Xin cứ tháng 11 hằng năm, Khâm thiên giám lấy ngày sang năm điểm binh ở Kinh tâu trước lên, sau khi được chỉ thì chuyển tống cho các địa phương cũng lấy ngày ấy mà điểm duyệt. Thành Gia Định thì lượng đòi binh các trấn trong hạt đến với binh của thành, Bắc Thành thì trừ số binh trú phòng ở các trấn, còn bao nhiêu thì họp cả ở thành. Các địa phương từ Quảng Nam trở về nam đến Bình Thuận, từ Quảng Trị trở ra bắc đến Ninh Bình, các thượng ty đều cứ sổ biền binh sở thuộc nhất tề gọi đến để điểm. Ngày điểm duyệt, biền binh đều phải đủ quân trang quân khí, theo đội ngũ sắp hàng. Phái người theo tên mà gọi điểm, người nào giả mạo thuê người đi thay thì trị tội. Điểm duyệt xong đem số tâu lên. Vẫn cấp cho lương tháng, tiền 1 quan, gạo 1 phương, ai không kịp lệ thì cấp thêm cho để ngày ngày thao diễn phép đi đứng đánh nghỉ. Một tháng thì thôi. Ai có ban thì chia về ban, không có ban thì lưu tại ngũ”. Vua theo lời bàn. Sai ghi làm lệ.

    Phú Yên gạo đắt. Vua sai trấn thành phát thóc kho cho vay (mỗi người 1 hộc). Ai xin đong thóc kho thì bán giảm giá cho.

    Định ngạch nhân viên ở các tào, phòng, cục thuộc Bắc Thành và Gia Định. Các tào phòng cùng hai cục Bảo tuyền và Tạo tác của hai thành, tự trước nhân việc mà đặt, chưa có định lệ. Lại Gia Định đặt người kiêm biện từ chương mà Bắc Thành thì đặt ty Thừa biện, Gia Định thì Hình tào kiêm quản Lễ phòng, Từ chương kiêm quản Lại phòng, mà Bắc Thành thì Binh tào kiêm quản Lễ phòng, Hình tào kiêm quản Lại phòng, sâm si không giống nhau.

    Đến bấy giờ bộ Lại tâu xin xem công việc phiền hay giản mà định số nhân viên nhiều hay ít, cho được thích đáng.

    Chuẩn định thành Gia Định tào Hộ thì Lang trung 1 người, Viên ngoại lang, Chủ sự, Tư vụ mỗi chức 2 người, Bát phẩm thư lại 3 người, Cửu phẩm 4 người, Vị nhập lưu 50 người. Hai tào Binh, Hình thì từ Lang trung đến Cửu phẩm thư lại cũng như tào Hộ, Vị nhập lưu 40 người.

    Bắc Thành tào Hộ thì Lang trung 2 người, Viên ngoại lang 3 người, Chủ sự, Tư vụ mỗi chức 4 người, Bát phẩm thư lại 6 người, Cửu phẩm 8 người, Vị nhập lưu 75, hai tào Binh, Hình thì Lang trung, Viên ngoại lang mỗi chức đều 2 người, Chủ sự, Tư vụ đều 3 người, Bát phẩm thư lại đều 4 người, Cửu phẩm đều 6 người, Vị nhập lưu tào Binh 70 người, tào Hình 60 người. Tào Hộ kiêm quản Công phòng và cục Tạo tác, tào Binh kiêm quản Lại phòng và hai ty Chiêm hậu, Lương y, tào Hình kiêm quản Lễ phòng và Lễ sinh. Duy Hộ tào Bắc Thành lại kiêm quản cục Bảo tuyền. Lại phòng ở Gia Định thì Viên ngoại lang, Chủ sự, Tư vụ, mỗi chức 1 người, Bát phẩm thư lại 2 người, Cửu phẩm 3 người, Vị nhập lưu 20 người, Lễ phòng thì Chủ sự, Tư vụ mỗi chức 1 người, Bát cửu phẩm thư lại mỗi chức 2 người, Vị nhập lưu 15 người, Công phòng thì Viên ngoại lang, Chủ sự mỗi chức 2 người, Tư vụ, Bát phẩm thư lại mỗi chức 3 người, Cửu phẩm 4 người, Vị nhập lưu 40 người. Lại phòng ở Bắc Thành thì Viên ngoại lang, Chủ sự, Tư vụ mỗi chức 1 người, Bát phẩm thư lại 2 người, Cửu phẩm 3 người, Vị nhập lưu 30 người. Lễ phòng thì Chủ sự, Tư vụ mỗi chức 1 người, Bát, Cửu phẩm thư lại mỗi chức 2 người, Vị nhập lưu 20 người. Công phòng thì Lang trung 1 người, Chủ sự 2 người, Tư vụ 3 người, Bát phẩm thư lại 4 người, Cửu phẩm 6 người, Vị nhập lưu 60 người. Những Viên ngoại lang, Chủ sự, Tư vụ ở Lại phòng đều mượn chức hàm bộ Binh; Chủ sự, Tư vụ Lễ phòng đều mượn chức hàm bộ Hình; Lang trung, Viên ngoại lang, Chủ sự, Tư vụ Công phòng đều mượn chức hàm bộ Hộ mà làm việc phòng. Duy Viên ngoại lang, Chủ sự, Tư vụ Lại phòng thì lại kiêm biện từ chương. Cục Tạo tác Gia Định thì Viên ngoại lang, Chủ sự, Tư vụ, Bát phẩm thư lại, mỗi chức 1 người, Cửu phẩm 2 người, Vị nhập lưu 15 người. Bắc Thành, cục Tạo tác Lang trung, Chủ sự, mỗi chức 1 người, Tư vụ, Bát phẩm thư lại, mỗi chức 2 người, Cửu phẩm 3 người, Vị nhập lưu 30 người, đều trích trong Công phòng mà bổ. Bắc Thành, cục Bảo tuyền thì Viên ngoại lang, Chủ sự, Tư vụ, mỗi chức 1 người, Bát, Cửu phẩm thư lại, mỗi chức 2 người, Vị nhập lưu 5 người, đều trích ty viên tào Hộ mà bổ. Gia Định, ấn phòng thì Viên ngoại lang, Bát, Cửu phẩm thư lại, mỗi chức 1 người, Vị nhập lưu 10 người, đều liệt vào một phòng, vẫn theo hai thành mà chuyên giữ công việc của ấn phòng. Lại thành Gia Định nguyên đặt Công tào và tả hữu Thông phán, tả hữu Kinh lịch thuộc thành, mỗi chức 1 người, mượn bổ theo chức hàm Chủ sự, Tư vụ hai bộ Binh, Hình, chia giữ công việc ba phòng Lại, Lễ, Công, Bắc Thành nguyên đặt ty Thừa biện, tự nay về sau đình bãi cả.

    Thuyền sai của nước Thanh là Hoàng Đạo Thái đi phủ Đài Loan chở thóc công, bị gió dạt vào dương phận Hà Tiên, thành thần Gia Định tâu lên. Sai theo lệ nạn bão mà chẩn cấp. Bánh lái cột buồm của thuyền bị gãy, cho mua gỗ sửa chữa mà miễn thuế. Rồi đợi thuận gió cho về.

    Cho các Phó bảng Phạm Văn Hợp, Dương Đăng Dụng, Phan Văn Nhã, Nguyễn Thường, Trần Ngọc Dao, làm Hàn lâm viện Kiểm thảo. Bèn lấy đó làm lệ.

    Sai bọn Phó vệ uý là Nguyễn Trọng Tính, gia hàm Hiệp trấn là Trần Chấn ngồi các thuyền hiệu Phấn bằng và Định dương sang Tiểu Tây dương((1) Tức ấn Độ.1) làm việc công.

    Đổi tên điện Hoàng Nhân làm điện Phụng Tiên. Bộ Lễ tâu rằng: “Khoảng năm Gia Long dựng điện Hoàng Nhân để đặt thần chủ Thừa thiên Cao hoàng hậu, năm
  • Chia sẻ trang này