0059.094 - @ nhani78 (Done WK)

4/1/16
0059.094 - @ nhani78 (Done WK)
  • PDF
    GoogleDocs




    :rose::rose::rose:

    Vua bảo bộ Binh rằng: “Man Thạch Bích ở Quảng Ngãi từ trước hay quấy rối biên thuỳ. Khoảng năm Gia Long, đức Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta sai Lê Văn Duyệt đem quân đánh cho một phen rất dữ, phá tận sào huyệt, tự đấy không dám bén mảng đến nữa, bờ cõi được yên. Năm trước đặt các đồn ở ven biên giới đều dùng thổ binh đóng thú. Gần đây nghe nói binh ấy chỉ để cho quản quan sai khiến cày cấy, khó nhọc mà chả được thăng đấu nào. Vả lại lúc triều đình có việc thì chỉ lấy lính các trấn Bình Định, Quảng Nam, mà hạt ấy vì có việc biên phòng nên chưa từng gọi lấy một người nào, sợ như thế thì không khỏi khinh trọng. Vậy nên xử trí thế nào cho thoả hợp thì bộ ngươi nên bàn xem”.

    Lại hạ lệnh tư cho các trấn thần cứ tình hình tụ họp ăn làm gần đây của các làng ven núi mà tâu lên. Trấn thần tâu rằng: “Tự năm Minh Mệnh đến nay đã sức cho Quản cơ sáu cơ mộ dân ngoại tịch lập được 34 thôn ấp, nhân số là 331 người. Nhưng đất đá sỏi, ruộng khẩn không được bao nhiêu, cư dân chuyên sinh lý bằng nghề than củi”.

    Vua dụ rằng: “Bọn ngươi nên gia tâm khuyến khích, sao cho nhân khẩu mỗi năm một thêm, ruộng nương mỗi ngày một mở, khiến ai cũng có sản nghiệp thường và yên lòng, ra vào giữ gìn, giúp đỡ lẫn nhau thì tốt”.

    Phòng ngự sứ Trấn Ninh là Chiêu Nội chịu tội chết. Chiêu Nội đã bị giải đến Kinh giao cho đình thần hội xét. Chiêu Nội đã nhận tội. Đình thần bàn cho rằng: “Chiêu Nội là một tù trưởng dân man ở nơi xa xôi. Trước đã đem cả đất đai xin nội thuộc. Hoàng thượng ta thương có lòng nội phụ, ban cho sắc lệnh, trao cho quan tước, thế mà không lo cung thuận lại mang hai lòng. Trước đây Quốc trưởng Vạn Tượng về nước, đã biết rõ là có mệnh triều đình, lại còn dám thừa nguy đón bắt, bảo là không có ý bội bạn nước ta mà lại thế à ? Huống chi đã bắt lại đem dâng riêng cho nước Xiêm để lấy lòng, lưu làm đường lối đi lại sau này, bảo không có ý ngầm theo nước khác mà lại thế à ? Xem một việc này bỏ nghĩa quên ân là đã đáng tội chết rồi. Lại còn ngăn trở đường đi sứ của nước Nam Chưởng. Cùng là nghe có mệnh triệu, mà cố ý trốn tránh, sau mới chịu ra. Mọi việc càn dỡ, tội không thể đếm hết, xin xử trảm quyết, đem đầu đến Trấn Ninh bêu lên cây cao. Bọn Thổ tri huyện Liên huyện là Tạo ấn, Thổ tri huyện Xôi huyện là Chiêu Mã Nã cùng làm ác với nhau, đều xin trị tội”.

    Vua theo lời bàn. Còn bọn Thổ tri huyện và Huyện thừa là Đông Bồng Xả, Phiếm Mã Xán 12 người bị Chiêu Nội bắt hiếp phải theo đều được gia ân tha cho, vẫn cung chức như cũ. Vợ con Chiêu Nội 15 người đều tha gông xiềng, sai Nghệ An an trí ở tấn Quy Hợp mà quản thúc nghiêm ngặt. Trấn thần lại dâng sách tịch thu tài sản của Chiêu Nội lên. Vua nói rằng: “Chiêu Nội xa ở biên thuỳ, chuyên nắm uy lực, nhân dân bị hiếp chế, tài sản bị vơ vét, những của cải này đều là máu mủ của dân cả. Nên hiểu dụ các đầu mục dân man mà chia cấp những của ấy cho. Duy vàng ngọc voi ngựa không phải là đồ thưởng cấp thì sung công”.

    Lại sai đem tội trạng của Chiêu Nội báo cáo cho các phủ đất mới. Dụ rằng: “Chiêu Nội là một tù trưởng man đã được ơn triều đình cho quản nhiếp việc phủ, thế mà dám mang lòng phản trắc, đón bắt Quốc trưởng Vạn Tượng giao riêng cho nước Xiêm, ngăn trở công sứ nước Nam Chưởng không cho vào cõi. Rồi Nghệ An nhiều lần tư đòi đến Kinh chiêm cận thì thác cớ chần chờ. Đã giáng dụ nghiêm trách mà còn dám trốn tránh ngầm mưu chống lại, tự giữ cõi đất, đến lúc kế cùng sức quẫn mới chịu thò đầu ra. Mọi việc đều là bội nghịch, xét sự tình, chiếu pháp luật, tội không xiết giết. Cùng với bọn Tạo ấn và Chiêu Mã Nã đều đã chuẩn y xử tử. Còn bọn Thổ tri huyện và Thổ huyện thừa Đông Bồng Xả, Phiếm Mã Xán bị Chiêu Nội hiếp chế thì đã được gia ân rộng tha, vẫn cho cung chức như cũ. Nhân nghĩ các phủ Trấn Ninh, Trấn Tĩnh, Trấn Định, Trấn Biên, Lạc Biên, Trấn Nam ở xa hẻo lánh, thấy Chiêu Nội phải tội, có người chưa rõ lý do đắc tội thế nào hoặc sinh lòng sợ hãi. Vả chăng giết kẻ có tội là để yên lương dân, triều đình lập pháp vẫn là nhân từ. Như Chiêu Nội gây việc tai vạ, thực tự nó chuốc lấy, không can thiệp gì đến nhân dân các phủ. Vậy sai Nguyễn Văn Quế ở Nghệ An, Hồ Văn Chương ở Thanh Hoa đem dụ này hiển thị cho những quan chức các phủ thận trọng giữ phép thường, cho nhân dân đều yên nghiệp làm ăn, thể tất lòng tốt của triều đình yêu mến, để cùng hưởng phước thái bình”.

    Cho Vệ uý Tạ Quang Cự làm Chưởng vệ sự vệ Cẩm y, vẫn quyền lĩnh việc phủ Trấn Ninh.

    Vua thấy Quang Cự trước đến Trấn Ninh biết tuỳ cơ lập mẹo, bắt sống được Chiêu Nội đem về cửa khuyết, vẫn thường khen nên trao cho chức ấy. Quang Cự bèn tâu cử Thổ mục Quảng huyện là Chiêu Huống Khâm Quyết làm Bang biện việc phủ để nhờ tay quen việc.

    Vua y cho.

    Chuẩn định điều lệ cấm giới trong các lễ tiết ở điện Phụng Tiên.

    1. Hằng năm cứ đến ngày đản, ngày kỵ, vua ngự làm lễ, thì phàm các hoàng tử tước công cùng các quan văn võ bồi tế và chấp sự, đều ở ngoài sàn gỗ hai bên tả hữu đường gạch ở ngoài cửa, đội mũ mặc áo theo thứ tự đi vào. Các hoàng tử tước công chỉ được đem theo mỗi người một Trưởng sử thuộc phủ, còn các tôi tớ không được lộn vào.

    2. Ngày lễ kỵ, các quan chức bồi tế và chấp sự có mũ áo thì theo thứ tự đứng chầu. Ngoài ra, nhân viên tôn thất cùng các quan văn võ lệ được vào lạy mà chưa đủ lễ phục thì phải đứng đợi ở ngoài ban tả hữu, không được chuyện trò huyên náo, đợi vào sân lạy xong thì ra ngay.

    3. Những biền binh đài đệ cỗ bàn đều phải tĩnh túc, phần việc bày đặt xong thì đi ra ngoài đứng chờ, không được ở hai bên giải vũ. Đợi lễ xong thì triệt cỗ, lại tĩnh túc lĩnh đệ ra.

    4. Mỗi tháng ngày rằm ngày mồng một dâng hương, hoàng tử tước công theo thứ tự mặc đồ thường triều đến chiêm bái, cũng chỉ đem theo một viên Trưởng sử.

    5. Những biền binh đương ban ứng trực, cấp cho mỗi người một cái bài sừng. ở tả vu, hữu vu không được để đồ vật gì, lại thường phải quét dọn cho sạch sẽ.

    6. Hai bên đường gạch ngoài cửa đã có sàn gỗ ngăn cấm, phàm quan chức, lại dịch, quân nhân, ngày thường không được tự tiện vào trong sàn ấy. Làm trái thì chiếu luật trừng trị.

    Đổi tên thủ Hoành Phiếm ở trấn Vĩnh Thanh làm thủ Thuận Phiếm.

    Bộ Hộ tâu rằng: “Tự trước đến nay, những án phạt bổng, phàm hiện làm chức cao bổng nhiều mà phải phạt vào lúc chức thấp bổng ít, thì đến kỳ lĩnh bổng, cứ số bổng nguyên phẩm đối chiếu với số bổng hiện lĩnh, theo từng tháng mà chiết trừ, còn thừa được lĩnh. Vả lại việc phạt bổng là để răn người phạm nhẹ, nay được quan cao mà bị phạt vào chức thấp trước, được trừ theo nguyên bổng là đã hậu lắm rồi, nếu trừ chưa xong mà được lĩnh số bổng thừa thì lấy gì để tỏ tín lệnh và nghiêm phép công ? Vậy xin từ nay về sau, những người bị phạt bổng, cứ lương hiện được lĩnh, không cứ năm tháng, đều chiết trừ cho hết rồi mới cho chiếu phẩm lĩnh lương.

    Vua y lời bàn.

    Định lại trình hạn các địa phương đệ án. Lệ trước phàm những án cướp án mạng định đến cuối tháng 11 thì đệ đến bộ. Chậm thì bị bác. Còn các án kiện của địa phương quan hệ đến hộ chính, như tranh kiện về điền thổ, khám tai nạn và dân xiêu dạt, thường thường để đến hết năm mới đệ. Vua dụ bắt từ nay về sau, nhất thiết các án kiện đều lấy tháng 11 làm hạn, không được để chậm.

    Tả Thị lang Binh bộ gia hàm Tham tri lĩnh Binh tào Bắc Thành là Trần Thiên Tải và thự Hiệp trấn Nam Định là Nguyễn Nhược Sơn, trước ở Sơn Nam thất sát về việc trấn, lại ăn trộm gạo công, đến bấy giờ việc phát ra, đều phải giáng 2 cấp. Bộ Lại thấy rằng hai người ấy đã bị giáng 3 cấp, hợp lại là giáng 5 cấp, theo lệ tâu lên. Vua đặc cách cho giáng Thiên Tải làm Lang trung, đeo giáng 3 cấp, vẫn Biện lý Binh tào Bắc Thành, giáng Nhược Sơn làm Viên ngoại lang, đeo giáng 3 cấp, vẫn thự Hiệp trấn Nam Định.

    Nguyên thự Hiệp trấn Bắc Ninh quyền biện công việc Binh bộ là Nguyễn Văn Mưu, vì ngày ở trấn nhiều lần bị lỗi giáng đến 7 cấp, đặc cách giáng làm Hàn lâm viện Thừa chỉ.

    Gọi 3.500 biền binh Bắc Thành và Thanh Nghệ đến tháng 2 sang năm đến Kinh thao diễn.

    Quan Bắc Thành tâu rằng: “Lạng Sơn tiếp giáp nước Thanh, cửa ải trọng yếu có hai chỗ là cửa Nam Quan và cửa Du Thôn, đều thuộc về địa hạt châu Văn Uyên. Năm đầu Gia Long cấp cho một ấn đồng (khắc “Văn Uyên châu thủ hiệu chi chương”), phàm văn thư đi lại thì người giữ hai cửa ấy hội bàn mà đóng ấn. Chiếu quan ải cùng ấn triện hai đằng không phù hợp nhau, xin đổi cấp ấn khác để chính danh nghĩa”.

    Vua sai Hữu ty chế lại ấn kiềm ký bằng đồng “Văn Uyên tấn khẩu”, “Du Thôn tấn khẩu”, mỗi tấn một cái cấp cho.

    Đắp đê nước mặn ở Kim Sơn thuộc Ninh Bình (một đường đê nhỏ phía tây dài 435 trượng, mặt rộng 3 thước, chân rộng 7 thước, thân cao 3 thước, một đường đê trung phía nam, dài 2.835 trượng, mặt rộng 5 thước, chân rộng 1 trượng, thân cao 4 thước).

    Kim Sơn đất tiếp bãi biển cho nên đắp đê ấy để che chở nghề nông. Cho dân ấy lương tiền 3 tháng. Đê xong rồi cho làm tư đê, hằng năm do huyện viên sở tại đốc sức tu bổ.

    Đắp lại ba sở đê mới sông trung ở Bắc Ninh và Sơn Nam. (Một sở ở Bắc Ninh, từ xã Đẩu Hàn huyện Yên Phong đến xã Cô Mễ huyện Võ Giàng, dài hơn 293 trượng; hai sở ở Sơn Nam, một sở từ xã Vân Lâm huyện Kim Bảng đến xã Kim Bảng, dài hơn 379 trượng, một sở từ xã Quang ấm, huyện Duy Tiên đến xã Đường ấm, dài 310 trượng).


    BẢNG SÁCH DẪN

    ĐẠI NAM THỤC LỤC - CHÍNH BIÊN - ĐỆ NHỊ KỶ

    A

    A Điền Cáo : 130, 274, 569, 718, 767, 916
    A Nghê (sách): 274
    A Nhân (man): 542
    A Nhân (sách): 396, 425, 472, 491, 565
    A Nỗ : 522, 599, 609, 621, 622, 625, 626, 631, 632, 636, 642, 643, 644, 664, 684, 727, 728, 738, 741, 745, 746, 747, 770, 780, 783, 784, 810, 821, 822, 905
    A Sinh: 882
    Á Lữ (xã): 152
    Ai Lao : 183, 228, 232, 361, 387, 388, 788, 801, 812, 847
    Ai Lao (thú sở) : 361, 387, 408, 434, 441, 462,517, 535,708,916
    An Bảo (tổng): 288
    An Bảo (xã): 290
    An Bằng : 86,290
    An Biên (phủ): 532
    An Bình (kho): 213
    An Bình (phường): 510
    An Cựu (sông): 115
    An Cựu (xã): 77,234
    An Châu (châu): 249
    An Di (đội): 738
    An Dụ (kho ngói): 124, 390
    An Dương (huyện): 476, 575, 876
    An Dương (xã): 494
    An dương (thuyền): 371,441,735,797
    An Dương vương (miếu): 151, 625
    An Đại (nguồn): 95
    An Đan (trạm): 234, 584
    An Định Nha (phưòng): 255
    An hải (đội): 298, 465, 596
    An Hải (phường): 193, 340
    An hải (thuyền): 360, 427,441,797
    An Hồ (xã): 564
    An Hoà (kho): 553
    An hoà (nhạc): 204
    An Hoà (thành): 324
    An Hoà (thôn): 543
    An Hoà (xã): 290,400
    An Hoà đông (thôn): 321
    An Hóa: 716
    An Hội (chợ): 647
    An Hương (trạm): 234, 584
    An Hướng (phưòng): 255
    An Khê (trạm): 234,584
    An Kim (trạm): 234, 584
    An Lạc (huyện) : 193
    An Lạc (sở) : 80
    An Lạc (trạm) : 234, 934
    An Lai (xã) : 126
    An Lãng (mỏ kẽm) : 310
    An Lãng (xã) : 69
    An Lão (huyện) : 389, 438, 476, 527
    An lãng (thuyền) : 797,798
    An Lão (thuyền) : 220
    An Liêu (trạm) : 584
    An Lỗ (xã) : 386
    An Luỹ (trạm) : 234, 584
    An Lưu (xã) : 462
    An Nam chí : 561
    An Náu : 430
    An Náu(nguồn): 95
    An Nẫm (bảo) : 387
    An Nẫm (xã) : 234
    An Nghĩa (thuộc) : 485
    An Ninh (phường) : 376
    An Ninh (xã) : 77, 86, 126,290, 459
    An Quỳnh (trạm) : 234, 584
    An Sa (trạm) : 234, 584
    An Tây (ấp) : 498
    An Tây (đạo) : 55
    An thuận (cơ) : 80, 141, 143, 230, 344, 352, 370, 375, 387, 449, 457, 597, 677, 725, 796, 805, 832, 855,925
    An Tiêm (xã) : 72
    An Trung (xã) : 564
    An Truyền (xã) : 507 An Vân (xã): 43, 119, 290
    An Xá (xã) : 615
    Anh Cát Lợi (nước) : 226, 398, 533
    Anh Duệ thái tử : 275, 277
    Anh duệ Hoàng thái tử : 298, 390, 400, 520, 533
    Anh Đô (phủ) : 56, 246, 249
    Anh Sơn (phủ) : 249, 564, 637, 785, 874, 886
    Ấp Ma Hạt : 642, 643, 644, 727, 815

    B

    Ba Cầu Nam (núi) : 79
    Ba Cầu Nam (phủ) : 79, 374
    Ba Lai (phủ) : 374
    Ba Lan (đạo) : 693
    Ba Lan (châu) : 788, 801, 812, 817, 841,842
    Ba lãng (thuyên) : 650, 921
    Ba Lạt : 480
    Ba Lạt (cửa biển) : 849
    Ba Nguyệt (xã) : 687, 688
    Ba Nông (bảo) : 646
    Ba Thắc (man) : 817
    Ba Thắc (phủ) : 758
    Ba Tơ (nguồn) : 78, 303
    Ba Xắc (phủ) : 914
    Bà Địa (nguồn) : 78
    Bà Nam : 92
    Bà Sơn (núi) : 462
    Bá Văn (núi) : 492
    Bách ty chức chế: 671
    Bạch Câu (xã) : 361
    Bạch Hạc : 554
    Bạch Hạc (huyện) : 675, 776, 892, 899
    Bạch Hạc (xã) : 776
    Bạch Xỉ (người) : 372, 773
    Bạch Xỉ công : 373
    Bạch Xỉ Công Khuyến : 851
    Bạch Xỉ Hoàng Kỳ Trung : 372, 699
    Bạch Xỉ hưng sư (ấn) : 373
    Bái Ân (tổng) : 385, 582
    Bái Hạ (xã) : 264
    Bàn Chấn (sở) : 537
    Bàn Hà (xã) : 497
    Bàn Thạch (sông) : 363
    Bàn Văn Lập : 343
    Bản Khẩu : 850
    Bản triều ngọc phả : 63
    Bang giao điển lệ : 166
    Bào Phô' (xã) : 252
    Bảo An (huyện) : 288
    Bảo Đà (xã) : 358
    Bảo Đài (chùa) : 427
    Bảo Hà : 233
    Bảo Hoà(phường): 548
    Bảo hoá (cục) : 520, 521, 658
    Bảo Quang (chùa) : 620
    Bảo quốc an dân đại tướng quân (súng đại bác) : 111
    Bảo thành (nhạc) : 194
    Bảo thành (vệ) : 132, 299, 306, 307, 792
    Bảo Thắng (bảo) : 234, 246, 247, 253, 291, 342
    Bảo Thắng (phố) : 233, 258
    Bảo Thắng (sở) : 233, 258, 259, 290, 291
    Bảo tuyền (cục) : 258,259, 837
    Bát dật (nhạc) : 194, 687
    Bạt Thái (đồn) : 64
    Bắc Bố Chính (châu) : 67
    Bắc Củng (đài) : 44
    Bắc Định (đài) : 44, 353
    Bắc Hà (dịch) : 91
    Bắc Hà (phủ) : 167,170, 176
    Bắc Nham : 538, 775
    Bắc Ninh : 27, 51, 216, 271, 309, 347, 353, 357, 358, 361, 362, 370, 375, 382, 413, 424, 452, 479, 542, 582, 587, 592, 593, 604, 613, 625, 645, 646, 673, 681, 731, 741, 744, 749, 803, 826, 847, 849, 862, 895, 909, 915, 922,926, 934
    Bắc Ninh (đê) : 755, 792, 793, 817, 893, 894, 899, 900
    Bắc Ninh (trấn) : 249, 323, 352, 485, 511, 560, 564, 676, 743, 898, 899, 900
    Bắc Thành : 35, 37, 39, 42, 44, 55, 59, 60, 64, 70, 74, 80, 82, 84, 94, 96, 100, 105, 110, 111, 124, 137, 138, 140, 141, 145, 152, 153, 156, 162, 163, 164, 165, 166, 167, 168, 170, 171, 172, 173, 174, 175, 176, 177, 178, 182, 184, 185, 186,187, 198, 201, 210, 212, 214, 217, 219, 223, 224, 225, 228, 229, 230, 235, 240, 244, 248, 252, 256, 257, 258, 261, 262, 275, 279, 280, 284, 288, 290, 291, 296, 306, 309, 313, 315, 318, 323, 333, 334, 335, 336, 339, 341, 344, 346, 352, 366, 370, 374, 377, 378, 387, 393, 394, 397, 419, 503, 507, 511, 520, 522, 532, 538, 540, 541, 553, 562, 569, 574, 575, 579, 581, 582, 583, 584, 589, 598, 609, 614, 625, 630, 633, 634, 639, 645, 662, 663, 664, 665, 667, 668, 670, 671, 673, 676, 678, 679, 680, 683, 684, 691, 692, 698, 700, 702, 703, 704, 708, 714, 716, 717, 719, 720, 721, 729, 731, 732, 734, 737, 740, 741, 744, 745, 749, 750, 753, 756, 757, 758, 759, 763, 764, 765, 766, 767, 769, 770, 772, 773, 774, 775, 780, 785, 789, 792, 796, 805, 812, 815, 818, 826, 830, 837, 840, 842, 845, 847, 849, 850, 851, 853, 862, 864, 869, 873, 879, 889, 890, 894, 895, 899, 908, 910, 911, 914, 916, 917, 919, 922, 926, 933, 934.
    Bắc Thành (ấn): 124, 154, 827, 840
    Bắc Thành (bão): 367
    Bắc Thành (biền binh) : 62, 70, 109, 151, 170, 182, 245, 262, 298, 299, 329, 334, 359, 375, 449, 480, 517, 542, 545, 558, 559, 564, 577, 591, 651, 708, 749, 797, 810, 857, 861, 934
    Bắc Thành (cháy): 537, 725
    Bắc Thành (dân đinh): 319,708
    Bắc Thành (dân đói): 528, 837
    Bắc Thành (dịch): 108, 611
    Bắc Thành (diêm): 199
    Bắc Thành (đài): 381, 921
    Bắc Thành (đàn, đền, thần) : 152, 170, 317, 776
    Bắc Thành (địa đồ): 738, 869
    Bắc Thành (đê) : 107, 137, 358, 488, 641, 648, 702, 725, 741, 755, 756, 771, 792, 817, 829, 847, 856, 862, 887, 892, 899, 909, 915
    Bắc Thành (đồng hồ cát): 248
    Bắc Thành (đúc tiền) : 48, 55, 63, 93, 94, 101, 135, 226, 256, 289, 332, 431, 506, 618, 702, 804, 827, 833, 841, 882, 898
    Bắc Thành (được mùa): 680, 857, 906
    Bắc Thành (giặc) : 190, 247, 266, 271, 329, 343, 395, 461, 515, 535, 537, 545, 554, 559, 571, 573, 579, 580, 585, 588, 608, 612, 613, 615, 633, 640, 646, 669, 670, 676, 697, 733, 752, 789, 851, 874, 881, 889, 902
    Bắc Thành (hạn, lụt): 329, 465, 525, 755, 762,763, 890
    Bắc Thành (hộ khẩu): 858
    Bắc Thành (kho) : 169, 288, 355, 440, 498, 501, 536, 590, 613,629,731, 887
    Bắc Thành (lính) : 106, 136, 137, 395, 468, 471, 282, 516, 546, 559, 560, 572, 591, 691, 694, 695, 709, 727, 830
    Bắc Thành (lính hạm): 42, 596
    Bắc Thành (lúa, gạo) : 43, 183, 243, 290, 313, 339, 343, 347, 353, 359, 371, 381, 389, 417, 424, 429, 431, 438, 457, 462, 526, 547, 632, 652, 667, 677, 714, 801, 803, 812, 835, 846, 851, 891
    Bắc Thành (mỏ): 193, 244, 310, 653, 794
    Bắc Thành (mua bán kẽm) : 124, 154, 827, 840
    Bắc Thành (quân) : 167, 173, 175, 190, 202, 212, 213, 219, 227, 244, 248, 252, 292, 320, 330, 365, 390, 450, 476, 517, 540, 569, 671, 761, 918
    Bắc Thành (sông): 849, 892, 893
    Bắc Thành (súng): 676, 882
    Bắc Thành (thành): 903
    Bắc Thành (thổ binh): 535
    Bắc Thành (thổ phỉ) : 558, 570, 577, 578, 585, 586, 587, 588, 595, 598, 613, 615, 648
    Bắc Thành (thợ): 137, 479, 545, 642, 886
    Bắc Thành (thuế) : 64, 65, 102, 115, 117, 124, 126, 128, 171, 244, 258, 380, 383, 392, 462, 468, 526, 632, 650, 673, 702, 706, 748, 795, 823, 829, 873, 903
    Bắc Thành (thuyền) : 385, 407, 517, 726, 798, 799, 824, 827, 872, 912 Bắc Thành (trạm): 401
    Bắc Thành (trấn): 163, 535
    Bắc Thành (trường thi, khoa thi) : 359, 447, 452, 456, 581, 630, 744, 764, 765, 877, 897
    Bắc Thành (tù phạm): 166, 220, 320, 361, 486, 559, 611, 665, 754, 781 Bắc Thuận (cơ) : 365, 377, 387, 449, 484, 517, 597, 899
    Bắc Thuận (đài): 353, 601, 921
    Bắc Trung (đài): 403, 601, 921
    Bắc Trường (phưòng): 613
    Bằng Dã: 788
    Bất Bạt (huyện): 64
    Bến Nghé : 137,143, 362
    Bích Đại (xã): 554
    Biên Hoà : 40, 70, 87, 97, 123, 144, 167, 182, 241, 244, 248, 262, 292, 306, 308, 310, 321, 327, 331, 332, 358, 361, 374, 389, 410, 484, 508, 513, 530, 536, 540, 581, 613, 664, 681, 682, 698, 715, 724, 752, 769, 789, 791,795, 802, 882
    Biên Hoà (lụt): 92, 111
    Biên Hoà (thuyền): 799
    Biên Hoà (trạm): 234
    Biên Hoà (trấn): 265, 757
    Biên Hoà (trường): 215,451,757
    Biện lý Binh bộ (ấn): 394
    Biện Sơn (cửa biển): 342, 405, 748, 841
    Biện Sơn (đài): 841
    Bỉm Sơn: 145
    Bỉm Sơn (đồn): 889
    Binh ty khu mật (ấn): 82, 272
    Bình An (đạo): 98, 561
    Bình An đường : 308
    Bình An (huyên): 319
    Bình An (trạm): 234
    Bình Chính (huyện): 662,729
    Bình Dương (huyện): 318, 367, 635
    Bình dương (thuyền): 371, 390, 427, 441, 797,829
    Bình Định : 35, 45, 46, 47, 59, 79, 100, 101, 104, 110, 115, 118, 124, 125, 132, 143, 144, 153, 185, 195, 200, 211, 216, 226, 228, 235, 248, 284, 305, 306, 315, 319, 327, 329, 332, 334, 335, 347, 359, 360, 361, 377, 382, 383, 386, 395, 397, 400, 403, 406, 410, 420, 440, 441, 445, 463, 477, 482, 485, 487, 498, 502, 522, 526, 528, 530, 537, 539, 541, 543, 545, 551, 553, 568, 574, 581, 582, 589, 595, 612, 613, 621, 625, 640, 645, 647, 680, 683, 698, 715, 717, 722, 730, 735, 739, 749, 752, 757, 759, 777, 781, 787, 789, 791, 795, 804, 805, 827, 829, 831, 838, 852, 858, 869, 908, 909, 910, 911, 915, 916.
    Bình Định (cơ): 263, 806
    Bình Định (được mùa): 906
    Bình Định (hạn): 338, 407
    Bình Định (kho): 59, 124, 309, 390
    Bình Định (quân) : 103, 108, 151, 198, 518, 807
    Bình Định (ruộng) : 289, 348, 408, 473, 551
    Bình Định (súng): 808
    Bình Định (tiền): 263, 618, 726
    Bình Định (thành): 443, 761
    Bình Định (thóc, gạo) : 235, 263, 304, 309, 342, 453, 621, 650, 748
    Bình Định (thuế) : 131, 203, 289, 309, 348, 407, 471, 551
    Bình Định (thuyền): 44, 189, 798, 799
    Bình Định (trạm): 234
    Bình Định (trấn) : 47, 59, 188, 200, 311, 453, 515, 541, 551, 610, 620, 650, 931
    Bình Định (trường) : 136, 215, 257, 319, 322, 715, 749
    Bình Giang (phủ): 189, 318, 812
    Bình Hải (bang): 488
    Bình Hải (đội): 803
    Bình Hải (đồn): 890
    Bình hải (thuyền): 797, 816
    Bình Hoà : 46, 70, 88, 102, 108, 118, 130, 140, 144, 199, 203, 211, 228, 235, 239, 248, 258, 259, 267, 270, 275, 293, 296, 297, 319, 322, 350, 355, 360, 361, 362, 395, 396, 402, 420, 425, 433, 447, 467, 471, 473, 476, 479, 483, 486, 487, 491, 492, 536, 546, 553, 561, 618, 670, 673, 681, 698, 717, 726, 765, 781, 787, 805, 808
    Bình Hoà (bảo): 98
    Bình Hoà (bão): 164
    Bình Hoà (cơ): 263, 584, 806
    Bình Hoà (hạn): 115
    Bình Hoà (lụt): 794
    Bình Hoà (man): 441, 501, 615
    Bình Hoà (phủ): 375, 546, 561
    Bình Hoà (quân): 481, 483, 791, 807, 808
    Bình Hoà (thóc, gạo): 551, 587, 794
    Bình Hoà (thuế) : 115, 347, 392, 407, 565, 615
    Bình Hoà (thuyền): 798, 799
    Bình Hoà (trạm): 234, 509
    Bình Hoà (trấn) : 98, 151, 188, 375, 472, 477, 523, 533
    Bình Hoà (trường): 215, 257
    Bình Lục (huyện): 426, 811, 900
    Bình Lý (tổng): 722
    Bình Nguyên: 602
    Bình Nguyên (bảo): 533
    Bình Nguyên (đồn): 441, 481
    Bình Nguyên (sở): 98,118
    Bình Nguyên (thủ): 98, 602
    Bình Phiên (bang): 488
    Bình Sơn (huyện): 340, 497, 637
    Bình Sơn (trạm): 234
    Bình Thuận : 40, 46, 55, 70, 100, 102, 107, 108, 139, 144, 188, 201, 203, 204, 211, 215, 228, 229, 235, 239, 248, 259, 265, 293, 296, 297, 304, 317, 319, 321, 322, 330, 332, 339, 340, 356, 360, 361, 369, 377, 382, 401, 406, 414, 420, 450, 453, 461, 467, 472, 473, 483, 486, 487, 508, 509, 518, 526, 533, 543, 553, 581, 584, 586, 587, 589, 613, 624, 637, 638, 681, 694, 697, 698, 715, 724, 726, 744, 749, 781, 785, 789, 791, 805, 806, 808, 852, 858, 869, 906, 908, 916, 919
    Bình Thuận (bão): 103,174
    Bình Thuận (cơ): 807
    Bình Thuận (dịch): 75, 378
    Bình Thuận (đại hạn): 366
    Bình Thuận (được mùa): 474
    Bình Thuận (thuế) : 115, 182, 347, 392, 604
    Bình Thuận (thuyền): 693, 798, 799
    Bình Thuận (trạm): 234, 309, 392, 917
    Bình Thuận (trấn) : 140, 151, 257, 400, 670, 692
    Bình Tuyền (xã) :648
    Bình Viễn (tổng): 722
    Bình Xuyên (bảo): 425
    Bình Xuyên (thủ): 837
  • Chia sẻ trang này