0059.006 - @tran.ngoc (soát xong)

19/11/15
0059.006 - @tran.ngoc (soát xong)
  • PDF
    GoogleDocs


    2.000 người, đánh vây trấn thành. Trấn thủ Phan Văn Hài đóng chặt thành để tự thủ. Thành thần nghe tin báo, lập tức sai Vệ uý vệ Hùng dũng là Đỗ Thiên Thẩm họp đánh. Thẩm đem 300 quân đánh nhau với giặc, bắt chém rất nhiều. Thiệu giải vây chạy.

    Tin thắng trận tâu lên. Vua sai thưởng cho Thẩm và Hài mỗi người một bộ mũ áo đại triều, cho quân lính hơn 600 lạng bạc. Người chết hay bị thương thì hậu cấp cho.

    Rồi Thiệu chạy đến Quỳnh Động (tên xã thuộc huyện Yên Thế, Bắc Ninh). Thẩm cùng Thống quản thập cơ là Ngô Văn Vĩnh đuổi bắt được Thiệu và Lương Hoàng Hải cùng đồ đảng hơn 160 người.

    Vua cho rằng thành thần Lê Văn Phong điều độ được đúng, hạ chiếu nêu khen. Thưởng thêm cho quân lính hơn 300 lạng bạc ; cho Thẩm thăng Chưởng cơ, các tướng hiệu theo thứ tự được thăng thưởng.

    Khi thành thần dâng án lên, vua không nỡ giết nhiều, chỉ ra lệnh giết Thiệu và Hải cùng vài người cố phạm, còn các người khác thì rộng tha hết.

    Sai hành nhân là Quan Vĩnh Phát sang nước Thanh mua hàng hoá.

    Lấy Lê Bá Phẩm làm Thượng thư Hình bộ. Phẩm vì già ốm xin từ. Vua dụ rằng : “Trẫm trẻ tuổi nối ngôi, nghĩ nhờ năm ba người bề tôi cũ giúp đỡ, nay có mệnh mà khanh từ, vậy thì khanh không nghĩ yêu vua à ? Vả lại, trẫm lấy khanh quản lãnh việc bộ là để nắm đại cương thôi, đến như án kiện giấy tờ thì có Tham tri Thiêm sự chia giữ, chứ có phiền khanh đến việc nhỏ đâu”. Phẩm nhỏ nước mắt khóc cố từ, vua vẫn không nghe.

    Bộ Lễ bàn nghi thức dâng tôn thuỵ (trước kỳ, vua ăn chay, sai quan kính cáo ở Giao Miếu Xã Tắc, chọn sai đại thần chấp sự. Trước 1 ngày, nhân lễ điện buổi sớm đem việc dâng tôn thuỵ cáo ở bàn thờ. Đến ngày, lúc sáng rõ, hữu ty bưng sách vàng, sách lụa, sách hương, ấn hương, minh tinh để ở trên án trong Tiện điện. Vua mặc đồ trắng đến trước án, đứng quay mặt về phía bắc, cung kính xem xong, hữu ty bưng ra, dâng để ở thái đình cho loan nghi rước đi. Vua lên xe theo. Đến ngoài cửa điện Hoàng Nhân, xuống xe vào, mặc áo tư thôi làm lễ. Sách vàng dâng để ở bên tả bàn thờ, minh tinh treo ở bên hữu ; sách lụa, sách hương, ấn hương đều đốt đi), xin vua mặc đồ trắng kính duyệt sách vàng ở Tiện điện, rồi đi xe theo đến ngoài cửa điện Hoàng Nhân.

    Vua xem tờ tâu, phê rằng : “Trẫm phải mặc áo tư thôi mà duyệt sách và đi bộ theo, lòng trẫm mới yên”. Bầy tôi đều tâu nói : “Chỗ điện đình là nơi chính lệnh ban ra, không nên mặc áo tư thôi ra vào, cho nên Tiên đế để tang Hiếu Khang hoàng hậu cũng mặc áo trắng duyệt sách ở Tiện điện. Xin theo như bộ Lễ đã bàn”.

    Vua nói : “Bọn khanh đã cho rằng mặc áo tư thôi duyệt sách chưa tiện, nên để cho trẫm đi bộ theo là phải”. Lại dụ rằng : “Làm vua thì lấy Tôn Miếu Xã Tắc làm trọng, lễ hạn chế nên tình không được tỏ hết ra. Đầu là trẫm muốn đưa tử cung Tiên đế để ở điện Trung Hoà cho được sớm hôm gần sát, sau đưa để ở điện Hoàng Nhân là cũng bởi các khanh hai ba lần lấy di mệnh của Tiên đế mà cố xin mãi, trẫm không theo không được thôi”.

    Ngày Bính dần, vua đem bầy tôi bưng sách vàng dâng tôn thuỵ Đại hành hoàng đế ((1) Đại hành hoàng đế : vua mới chết chưa có tôn thuỵ1) là Khai Thiên Hoằng Đạo Lập Kỷ Thuỳ Thống Thần Văn Thánh Vũ Tuấn Đức Long Công Chí Nhân Đại Hiếu Cao hoàng đế, miếu hiệu là Thế tổ.

    Sách văn rằng : “Vẫn nghe, bàn soạn để thuật đức hay, nêu rạng để tôn đạo hiếu, cho nên lời luỹ ((2) Luỹ : trình bày đức hạnh người chết bằng lời văn. Kinh Lễ nói : người hèn không được trình bày đức nết người sang, kẻ nhỏ không được trình bày đức nết người lớn.2) đã rõ ở Kinh Lễ ; mà lời tụng((3) Tụng : văn xưng tụng công đức, Kinh Thi có Thương tụng để xưng tụng công đức nhà Thương, Chu tụng để xưng tụng công đức vua nhà Chu3) bày ra ở Kinh Thi. Duy đức tốt tỏ lên đến trời, nêu danh to cao trùm nghìn thuở.

    Kính nghĩ, đức “Đại hành hoàng đế bệ hạ, đức vừa cứng sáng, tài kiêm võ văn. Gặp vận nước nhiều việc khó khăn ; chỉnh kiền cương((4) Kiền cương : quyền của vua4) lúc đã rối loạn. Chân trời góc biển, đi chỗ hiểm như đất bằng ; hang hổ đầm rồng, ở chỗ nguy thành ra phước. Dầm mưa chải gió, thân đánh trăm trận. Giết thù nước để yên nạn lớn ; vững nghiệp cũ mà mở thái bình. Đức hiếu sinh khắp ở lòng dân ; oai thần vũ vang nơi tục khác. Công to đức thịnh, hơn các đế vương ; sáng nghiệp trung hưng, cao hơn Hạ Hán. Luân thường tốt đẹp, trên cả xưa nay ; đạo đức sáng tươi cảm đến trời đất. Tốt thay ! ba chục năm ngựa sắt gươm vàng ; mười tám năm dựng giường bày mối. Như trời mở đất đóng, vực lặng sấm vang. Biến hoá mầu nhiệm như thần ; chuyển vần như trời không nghỉ. Đức hoá đương thi hành trong nước ; linh hồn đã vội trở lại quê. Thềm Đế Nghiêu rụng hoa, canh tường ((5) Canh, tường : khi Đế Nghiêu chết đi, Đế Thuấn nhớ Đế Nghiêu quá, rồi lúc ăn thì như thấy Đế Nghiêu ở bát canh, lúc đứng như thấy Đế Nghiêu ở bức tường.5) như thấy ; rồng Hiên Viên bay ngất, cung kiếm khó vin. Tôi đòi cảm nhớ chốn miếu đường ; dân chúng đau thương nơi rừng núi. Ơn trời cao vòi vọi, sao chút đích báo đền ; đức vua khó hình dung, mong phô bày muôn vật. Kính cẩn đem bầy tôi, xin mệnh ở trời đất tôn miếu, kính dâng sách vàng, tiến tôn thuỵ là Khai Thiên Hoằng Đạo Lập Kỷ Thuỳ Thống Thần Văn Thánh Võ Tuấn Đức Long Công Chí Nhân Đại Hiếu Cao hoàng đế, miếu hiệu là Thế tổ. Kính mong thông minh như trước, lên xuống ở đây ; nhận hiệu tốt này, ban phước lành mãi. ở trên soi xuống, cùng mặt trời mặt trăng sáng tỏ từng không ; như trời sáng cao, đặt núi to sông lớn vững bền muôn thuở”.

    Lễ xong, bá cáo cho trong ngoài đều biết.

    Chiếu rằng : “Nêu tên rạng rỡ để tôn đạo hiếu ; trau dồi cuối cùng để trọn luân thường. Cho nên có đức lớn tất được danh hay, mà tôn sùng gọi là điển lớn. Nay Đại hành hoàng đế vội bỏ nước nhà. Xét trong điển lễ, nên dâng hiệu hay. Tháng này, trước đã sai các quan kính cáo Trời Đất và Tôn Miếu Xã Tắc. Ngày mồng 10 thân đem bầy tôi dâng sách cung tiến tôn thuỵ và miếu hiệu. Xin ngài nhận lấy tên hay, mãi ban nhiều phước. Ôi ! bàn soạn báo đền không hết, đã thể một lòng hiếu của thánh nhân mở rộng ra ; nghi ngút để mãi không cùng, mong đến hàng ức năm nơi tông xã giữ hưởng mãi”.

    Trước kia Thế tổ Cao hoàng đế se mình, bọn Cai bạ hầu thuốc Trần Văn Đại và y chánh Nguyễn Tiến Hậu, y phó Đoàn Quang Hoảng đều phải tội giam ở ngục, đến bấy giờ các đại thần hết sức xin, được tha cho về làng. Sau vua thường bảo thị thần rằng : “Nghề làm thuốc khó tinh. Khi Tiên đế ốm, bọn Văn Đại hầu thuốc thang, hỏi thì lúc nào cũng nói là tất khỏi, sau cùng không có hiệu nghiệm gì, khiến trẫm đến nay còn giận”.

    Lưu thủ Quảng Ngãi hưu trí là Nguyễn Văn Toản vào chầu. Cho 5 tấm lụa,

    20 lạng bạc. Tham tri Hộ bộ hưu trí là Trần Hữu Thiện, Chánh thống đồn Hậu quân hưu trí là Lê Văn Ký đều được cho 50 quan tiền.

    Cho Trần Công Lại mỗi tháng 10 quan tiền, 10 phương gạo, Lại trước là Đô thống chế lãnh Trấn thủ Thanh Hoa, phải tội giam ở ngục, đến nay được tha về, vào hầu. Vua nghĩ Lại đã tuổi già, vả có công lao trước, nên đặc cách hậu cấp cho.

    Cho năm con của Chưởng cơ Hồ Văn Bôi là công thần Vọng Các hằng tháng được cấp tiền gạo (con trai tiền 3 quan gạo 3 phương, con gái tiền 2 quan gạo 2 phương).

    Định hạn cho kẻ cướp trốn ra thú. Đình thần tâu nói : “Trước đã có ân chiếu chuẩn cho ra thú, mà những kẻ phạm trốn còn nhiều kẻ trù trờ quanh co để ngóng xem, chưa ra thú hết. Xin lấy cuối tháng 6 năm nay làm hạn, trộm cướp không kể nặng nhẹ, ai hay đúng hạn đầu thú thì tha. Nếu quá hạn, xin theo luật mà phân biệt cho thú hay không cho thú, để cho người ta biết điều đáng sợ”. Vua nghe theo.

    Định lệ lễ đền Thai Dương phu nhân((1) Thai Dương phu nhân : đền ở xã Thai Dương, huyện Hương Trà, tương truyền có một người đánh cá ở cửa biển, một hôm mưa gió, đến nửa đêm tạnh, thấy ở bờ biển có một hòn đá lạ, sờ mó xem, chợt ngủ đi, mộng thấy một người đàn bà đẹp nói : “Ta là Thai Dương phu nhân, ngươi không được khinh nhờn, phải lui đi ngay”. Người đánh cá thức dậy, biết là đá thần, khấn rằng : “Nếu là thần thì phù hộ cho tôi đánh được nhiều cá”. Quả nhiên đánh được nhiều, mới lập đền tranh để thờ. Sau nhà nước đảo vũ linh nghiệm, đời Gia Long lập đền ngói, cho quốc tế. Đến đầu thời Minh Mệnh sửa lại đền. Lại thờ chung ở miếu Hội đồng. 1). Phu nhân trước thờ chung ở miếu Hội đồng. Vua thấy có nhiều linh ứng, sai dinh thần Quảng Đức lập đền riêng để thờ ở xã Thai Dương, hằng năm mùa xuân mùa thu đến tế.

    Triệu Vệ uý vệ Nghiêm uy Tả dinh quân Thần sách lĩnh Trấn thủ Kinh Bắc là Lê Viết Quý về Kinh, lấy Trấn thủ Hưng Hoá là Đoàn Đức Luận làm Chưởng cơ lĩnh Trấn thủ Kinh Bắc, Khâm sai chưởng cơ phó thống thập cơ Uy thắng thuộc Hậu quân là Hồ Văn Uẩn lĩnh Trấn thủ Hưng Hoá.

    Lấy Vệ uý vệ Tiền nhất quân Thị trung là Nguyễn Văn Tính tạm coi ấn vụ Hữu thống chế quân Thị trung, Vệ uý vệ Hữu nhị là Hoàng Văn Tại làm Vệ uý vệ Tiền nhất, Phó vệ uý là Lê Văn Hiếu làm Vệ uý vệ Hữu nhị, Phó vệ uý vệ Ban trực tả Tả dinh quân Thần sách là Nguyễn Văn Quyền làm Vệ uý vệ Tiền nhị, Vệ uý vệ Kỳ võ quân Thị nội là Nguyễn Văn Trọng làm Vệ uý vệ Tả nhị, Kiêu kỵ đô uý Tôn Thất Trinh làm Vệ uý vệ Hậu nhất, Vệ uý vệ Toàn võ Trung dinh quân Thần sách là Đoàn Văn Trường làm Vệ uý vệ Hậu nhị, Cai đội Trần Văn Lộc làm Phó vệ uý vệ Tiền nhị, Phan Văn Tạo làm Phó vệ uý vệ Hậu nhất, Nguyễn Văn Lễ làm Phó vệ uý vệ Võ oai Trung dinh quân Thần sách, Cai cơ Hoàng Văn Tín làm Phó vệ uý vệ Ban trực tả Tả dinh.

    Người Man ở các động Thâm Nguyên, Yến Sơn và Mộng Sơn thuộc trấn Nghệ An đến cống.

    Lấy Thiêm sự Lễ bộ Phan Huy Thực làm Tham hiệp Lạng Sơn.

    Ngày Quý dậu, vua yết lăng liệt thánh, cho các quân đi theo 3.000 quan tiền. Vua yêu nuôi quân lính, mỗi lần xa giá đi ra là thưởng cho quân lính đi theo, từ đấy về sau lấy làm lệ thường.

    Cho lính đội Thủ lăng 40 lạng bạc.

    Hoãn công việc đào sông Vĩnh Tế.

    Vua mới lên ngôi, thấy việc đào sông từ mùa đông năm ngoái đến nay, người nước Chân Lạp đều phục dịch nhọc mệt khổ sở, xuống dụ cho thành thần Gia Định thường để ý hỏi han luôn, người ốm thì cấp thuốc, người chết thì cấp tiền vải. ốc Nha và Bồn Nha theo làm việc ở nơi công trường hơn 100 người đều thưởng cho gươm đeo, súng tay và áo mặc.

    Lại dụ vua phiên là Chăn và các quan phiên rằng : “Tiên đế lấy việc đào sông làm lợi muôn đời cho các ngươi, vua tôi nhà ngươi nên cùng lòng hợp sức, sửa sang công việc, trước để xứng ý Tiên đế yên vỗ nước ngươi. Chớ tưởng rằng Triều đình muôn dặm, xét soi không tới. Cũng không thể đổ cho là phận sự của Đồng Phù (tên người quan phiên) mà lòng nghĩ sai đi, sức làm lười biếng. Sau khi thành sông rồi, sẽ có trọng thưởng. Phải cố gắng đi”. Đến nay công việc chưa xong, (đã thành sông được 3.224 trượng, chưa thành sông 9.992 trượng), vua không nỡ để cho nhọc sức dân mãi, nên hoãn lại. Những chỗ chưa kịp đào thì ra lệnh cho tạm mở lạch nhỏ, có thể cho thuyền nhỏ đi lại thông được mà thôi. Thưởng cho quan lại coi việc súng tay, áo quần và bạc theo thứ bậc khác nhau.

    Từ Nghệ An ra Bắc đã lâu không mưa, sai trung sứ chia nhau đi các địa phương xem xét việc làm ruộng. Nhân dụ cho quan sở tại trai giới để cầu đảo.

    Lấy Trấn thủ Bình Thuận là Trương Văn Chính làm Lưu thủ Quảng Đức.

    Bọn con cháu nhà Lê là Lê Duy Tự, Lê Duy Cảo, con cháu chúa Trịnh là Trịnh Hiệu, Trịnh Cương đến Kinh chầu bái. Sai hữu ty hằng tháng cấp cho tiền gạo. Bọn Duy Tự xin dâng 70 lạng bạc làm lễ mừng, vua dụ sai trả lại.

    Cai cơ Trần Hữu Khách quản thuyền hiệu Bạch Yến đi chở vật công ở Quảng Nam bị mắc cạn ở cửa biển Thuận An. Khách bị giáng làm Chánh đội trưởng. Nhân chuẩn y lời bộ Lại bàn định : Phàm thuyền vận tải ra vào cửa biển, những chỗ nông sâu đều do thủ ngự cắm tiêu chỉ bảo. Nếu lấy chỗ nông làm chỗ sâu, nhân thế mà sai hỏng thì bắt tội người thủ ngự. Nếu theo ý riêng mình mà đi bừa thì bắt tội người quản vận. Đều xét bởi tại đâu, và theo nhẹ nặng mà trị tội.

    Triệu đại sứ cục Bảo tuyền ở Bắc Thành là Trương Văn Minh về Kinh, lấy Thiêm sự Hộ bộ là Trần Chính Đức làm Biện lý cục Bảo tuyền.

    Có người dâng đồng tiền cổ, mặt khắc tám chữ Quốc thái dân an phong điều vũ thuận((1) Nước thịnh dân yên, gió đều mưa thuận.1). Vua đưa cho bầy tôi xem và hỏi đúc vào đời nào năm nào, đều không biết cả. Vua nói : “Đồng tiền ấy tuy năm và đời không thể khảo được, chữ đó cũng là lời xưng tụng cầu đảo thôi, song trị thiên hạ mà được thực như tám chữ ấy thì cũng đủ đấy”.

    Bọn Thống lĩnh thượng đạo Thanh Hoa là Hà Công Thái, Chưởng cơ chánh trấn Thuận Thành là Nguyễn Văn Chấn, Chưởng cơ thượng đạo An Tây là Nguyễn Văn Tứ vào yết kiến. Vua cho tiền, gạo, áo mặc, gươm đeo, súng tay. Vua từng hỏi Nguyễn Văn Tứ về việc An Tây. Tứ tâu nói : “Người Man núi cướp bóc, không giết thì không răn trị được”. Vua hỏi về mưu chước. Đáp rằng : “Người Man bắn cung nỏ giỏi. Xin được 100 cái áo bông thì có thể đánh phá được”. Vua bảo rằng : “Đó chỉ là người Man nhỏ ngu xuẩn, nên cẩn thận, chớ có dùng nhảm oai thế mà gây hấn là được”. Rồi cho con Tứ là Nguyễn Văn Chẩn làm Cai đội. Lại trích 50 người lính khoẻ thuộc trấn quê ở An Tây cho theo Tứ để phòng giữ bảo nguồn Kiều Bông.

    Sai Bắc Thành, Thanh Bình, Thanh Hoa, Nghệ An may áo quần thường để cấp cho thú binh các vệ. Nghệ An xin cấp cho tiền công để thú binh tự may lấy. Vua y cho.

    Cấm các vệ đội Thị trung và Thị nội không được lấy binh khí và nhung phục của công để dùng riêng và cho người khác mượn.

    Sai Hữu tham tri Lại bộ là Trần Văn Tuân ở lại làm việc Binh tào ở Gia Định.

    Lấy Tri bạ thành Gia Định là Lê Đăng Doanh làm Tham hiệp Hà Tiên. Thành thần dâng sớ nói : “Hiệp trấn Hà Tiên là Phạm Nhữ Đằng vì có bệnh cáo về, Trấn thủ là Mạc Công Du không hiểu việc văn, xin lấy Đăng Doanh tạm làm Tham hiệp”. Vua nhân thế bổ Doanh.

    Lấy Tri phủ Anh Đô là Nguyễn Hữu Thị làm Tham hiệp Yên Quảng.

    Dựng đền thờ trưởng công chúa Ngọc Bích.

    Chúa là con bà mỹ nhân họ Trần ở triều trước, mất sớm, không con, vua thương, sai dinh Quảng Đức đặt ruộng thờ mua đồ thờ, dựng đền ở nhà cũ của Trần mỹ nhân để thờ cúng.

    Bộ Lễ bàn dâng nghi chú lễ Ninh lăng và các lễ tiết. (Tháng 4 ngày Tân mão, sai quan kính cáo ở Giao Miếu Xã Tắc và điện Minh Thành, rồi khai huyệt. Ngày Giáp ngọ, cáo ngày an táng. Ngày ất mùi, cáo các tôn lăng đi qua. Ngày Bính thân, rước thánh vị Cao hoàng hậu để ở gian bên hữu điện Minh Thành. Ngày Đinh dậu, tế khải điện và tế tổ điện. Ngày Mậu tuất, tế khiển điện. Long giá((1) Long giá : kiệu rồng rước quan tài tiên đế.1) ra ngoài hoàng thành, vua đi bộ theo. Trên kỳ đài treo cờ trắng, phóng chín tiếng ống lệnh. Long giá đến điện lợp tranh ở bến sông Hương, lên thuyền rồng. Tế điện buổi sáng, thượng thực, và điện buổi chiều, như nghi thức thường. Những chỗ đi qua, thì hương thân kỳ lão đều đặt hương án ở bờ sông để chiêm bái. Ngày Canh tý thuyền đến bến lăng Thiên Thụ. Ngày Tân sửu rước thánh vị để ở điện Minh Thành ; rước long giá để ở chính giữa điện tranh trước Hoàng đường. Giờ dậu rước tử cung((2) Tử cung : quan tài của nhà vua.2) đặt vào huyệt. Vua im khóc, đi thăm nom. Các hoàng đệ, hoàng tử, hoàng điệt, đại thần xoay tử cung để ngay ngắn theo hướng mộ, đặt áo tử cung, trải minh tinh. Vua đem bầy tôi tiến lụa dâng. Quan chấp sự bưng hòm sách hương, hòm sách lụa, hòm ấn hương, sách biên đồ minh khí((3) Minh khí : đồ mã chôn theo ở trong mộ hay đốt đi.3). Hữu ty khiêng linh dư, đồ minh khí và đồ lỗ bộ nghi trượng, cờ đạo trắng, phủ phất, các quạt và các vật thường dùng đến núi bên tả lăng mà đốt đi, rồi bỏ vào trong hố mà chôn. Sơn lăng sứ ở lại chỗ lăng coi việc xây lăng cho đến lúc xong. Ngày Nhâm dần, đề thần chủ ở điện Minh Thành, làm lễ sơ ngu. Vua thân hành bưng thần chủ lên xe, theo đường thuyền đến bến Kinh thành, lại bưng lên xe, vua theo ở trong xe, thân hành bưng đến cửa Tả Đoan. Trên kỳ đài treo cờ vàng, phóng chín tiếng ống lệnh. Đến cửa điện Hoàng Nhân, xuống xe, bưng thần chủ để ở chính giữa điện, làm lễ an vị. Ngày hôm sau, đem việc lễ Ninh lăng xong, kính ở cáo Giao Miếu Xã Tắc, và bố cáo cho trong ngoài biết. Ngày Kỷ dậu tế ngu lần thứ hai ; ngày Canh tuất, tế ngu lần thứ ba ; ngày Quý sửu tế ngu lần thứ tư ; tháng 5 ngày Bính thìn, tế ngu lần thứ năm ; ngày Kỷ mùi, tế ngu lần thứ sáu ; ngày Nhâm tuất, tế ngu lần thứ bảy ; ngày ất sửu, tế ngu lần thứ tám ; ngày Mậu thìn, tế ngu lần thứ chín ; ngày Giáp tuất lễ tốt khốc. Từ tế tổ điện đến tế đàm, những cung tần triều trước và cung tần tại nội, thái trưởng công chúa, các tước công, hoàng đệ, hoàng tử, hoàng nữ, phủ Tôn nhân, quan viên văn võ ở Kinh và ở ngoài, người quý hương, công tính, thích lý, và con cháu họ Lê, họ Trịnh, đều phụ tiến lễ phẩm).

    Vua xem tờ tâu, bảo Nguyễn Văn Nhân, Lê Chất, Nguyễn Đức Xuyên rằng : “Lễ tang lễ táng là việc lớn, nhiều nghi tiết lắm, ta đương lúc đau thương trong lòng rối loạn, các khanh nên xét kỹ, chớ để sai lễ”.

    Mùa hạ, tháng 4, sai các quan đem ngày Ninh lăng kính cáo ở Giao Miếu Xã Tắc. Lại sắc cho các nơi trong ngoài, từ trước tế khải điện 2 ngày, đến lễ tốt khốc, cấm mặc sắc đỏ tía và ca nhạc ; từ khải điện đến tế sơ ngu, cấm chợ phố làm thịt.

    Lấy Lê Văn Duyệt làm Tổng hộ sứ, Lê Chất làm phó, Nguyễn Văn Nhân, Nguyễn Đức Xuyên làm Phù liễn sứ, Tôn Thất Bính, Tôn Thất Dịch làm phó, Tống Phước Lương làm Sơn lăng sứ, Nguyễn Xuân Thục làm phó, Trương Tiến Bửu, Nguyễn Văn Vân, Nguyễn Văn Trí, Mai Văn Thành, chia đốc các quân tả hữu, Trương Phước Đặng thủ hộ hoàng thành, Trần Văn Năng thủ hộ kinh thành. Hoàng thân, hoàng tử, các văn võ từ ngũ phẩm trở lên và các quân có việc ở hoàng đường đều cấp cho thẻ bài để đeo. (Hoàng thân thì thẻ rồng vàng, hoàng tử thì bài vàng, võ ban nhất phẩm thì thẻ rồng bạc, mặc áo chiến, từ nhị phẩm đến ngũ phẩm văn võ đều bài ngà ; quân đều đeo bài thắt lưng).

    Sai Lê Văn Duyệt và Lê Chất đem phép đi đứng đường thuỷ đường bộ huấn luyện cho các quân.

    Ngày Đinh dậu, tế điện cáo ở điện Hoàng Nhân. Ngày Tân sửu, an táng ở lăng Thiên Thụ. Trước ba ngày Mậu tuất, linh giá tiến phát, vua đi bộ theo đến điện tranh ở bến sông Hương, rước linh giá lên thuyền. Ngày hôm ấy linh giá đến điện tranh ở trước hoàng đường. Giờ dậu, an táng vào huyệt. Ngày Nhâm dần, đề thần chủ ở điện Minh Thành, rồi rước về yên vị ở điện Hoàng Nhân, Ngày hôm sau đem việc làm lễ xong kính cáo ở Giao Miếu Xã Tắc. Bố cáo cho trong ngoài. Thưởng cho các quân thuỷ bộ đi theo 14.000 quan tiền, cho biền binh thủ hộ 1.400 quan.

    Trước là vua thấy sức chung ((1) Sức chung : tô điểm lúc cuối cùng.1) là việc lớn, ra lệnh cho lễ quan cứu xét lễ tang tế, thứ đệ rõ ràng, lớn nhỏ đều nêu hết. Đến như tang nghi và minh khí thì đều có hữu ty trông coi. Phàm lâu đài đền miếu, kho tàng thuyền xe, tất cả các vật ngự dụng, không cái gì là không tươm tất đầy đủ. Kể từ lúc khởi công là tháng giêng đến tháng này xong, phí tổn có bao nhiêu vạn, nghi tiết lễ vật đầy đủ, từ trước đến giờ chưa nghe như thế bao giờ.

    Sai bộ Lễ bàn về tế điện ở bàn thờ.

    Bộ thần tâu nói : “Xét ngũ lễ thì sau khi đã tế ngu vẫn sớm hôm khóc chứ không tế điện”. Chú rằng : “Ngày ấy lấy tế ngu đổi cho tế điện”. Sách Gia lễ của Chu Văn công nói : “Sau khi tế sơ ngu thì thôi tế điện buổi sớm buổi chiều”. Nghi thức phát dẫn đời Minh Vĩnh Lạc thì sau lễ tốt khốc, thôi tế điện buổi sáng buổi chiều. Theo Minh điển thì ở điện Phụng Tiên cũng chỉ sáng chiều đốt hương, ngày mồng một và ngày rằm chiêm bái, cứ tuần tiết dâng vật mới, chỉ ngày sinh ngày kỵ là tế thôi. Duy theo miếu chế của nhà Hán thì trong vườn có nhà tẩm, ngày tế thì một ngày bốn lần dâng đồ ăn ở nhà tẩm. Năm Gia Tĩnh triều Minh ở miếu Duệ tông mọc ra cỏ chi, đổi tên là cung Ngọc chi, mỗi ngày đều dâng đồ ăn. Xưa kia lễ đại tang của Hiếu Khang hoàng hậu, và Cao hoàng hậu, Thế tổ ta đều thôi tế điện buổi sớm buổi chiều ở sau khi tế sơ ngu. Nay Hoàng thượng ta hiếu tâm rất mực, tình dẫu không cùng, nhưng lễ quý có tiết, vậy xin theo phép cũ, sau khi đã tế ngu thì chỉ ngày sóc ngày vọng là tế điện lớn, sau tế đàm thì thôi.

    Vua theo lời bàn, dụ rằng từ tế sơ ngu đến lễ tốt khốc, điện Hoàng Nhân và điện Minh Thành mỗi ngày ba lần dâng đồ ăn.

    Diên Khánh công là Tấn từng nhân việc thiện tiện lấy roi đánh Cai đội Thị trung là Lê Văn Hương. Tôn Thất Dịch đem việc tâu lên.

    Vua đương ngự ở Tiện điện, các tước công đều ở đấy. Vua quay lại nhìn Diên Khánh công, nhỏ nước mắt khóc, trách rằng : “Hương kia cũng là phẩm quan của triều đình, có tội nên tâu lên, sao lại tự lấy roi đánh người ta ? Vả lại phép của Tiên đế lập ra là của chung của thiên hạ, chứ có phải riêng của anh em ta đâu ! Em không thấy Tiên đế thiết trách Định Viễn công Bính à ? Bấy giờ Định Viễn công có lỗi nhỏ, mà anh vì Bính hai ba lần xin tha, Tiên đế vẫn không tha. Như thế là vì nghĩ rằng các hoàng thân sinh trưởng ở chỗ giàu sang, cậy mình được yêu thương đặc biệt, nên coi nhẹ mà phạm hiến chương, cho nên không thể không nghiêm ngặt để răn người sau. Nay anh lấy lòng Tiên đế làm lòng mình mà yêu em, em cũng nên lấy lòng anh làm lòng mình mà yêu anh, cùng nhau cẩn thận giữ phép sẵn, để giữ tiếng lành mãi không cùng. Chớ nên lại làm thế nữa”.

    Diên Khánh công cúi đầu tạ lỗi.

    Vua vời các văn võ đại thần dụ rằng : “Việc Diên Khánh công đã làm có trái với phép, các khanh hãy vì trẫm tha thứ cho, từ nay về sau có kẻ nào bắt chước lỗi ấy thì không rộng tha nữa”.

    Dựng đình “Trần tĩnh ba thanh” ((1) Nghĩa là bụi sạch nước trong.1).

    Lấy Cai cơ quản vệ Kỳ võ là Nguyễn Hữu Hựu làm Vệ uý Hữu vệ dinh Long võ quân Thị nội, Phó vệ uý vệ Toàn võ quân Thần sách là Ngô Khánh Thái làm Vệ uý, Cai đội Lê Văn Quảng làm Phó vệ uý, Hoàng Văn Tâm làm Phó vệ uý vệ Quảng võ, Nguyễn Lộc làm Phó vệ uý vệ Tráng võ.

    Sai trấn Bình Định chiếu lệ tiền thóc về tự dân tự điền của Lễ bộ Ngô Tòng Chu cho lấy tiền thóc trong kho trấn cấp cho như số để dùng vào việc thờ cúng (năm này ân xá, tự dân tự điền đều ở lệ tha miễn, nên cấp riêng cho).

    Sơn Nam thượng và Kinh Bắc thiếu ăn. Phó tổng trấn Bắc Thành là Lê Văn Phong và Tham tri Hộ tào Nguyễn Tường Vân tuỳ tiện phát thóc kho cho dân nghèo vay.Việc đến tai vua. Vua dụ quở rằng : "Ta từ khi nối ngôi đến giờ, ăn muộn dậy sớm, cầu chữa được bệnh khổ của dân, những tiền thóc tha miễn có đến mấy trăm vạn ; khi dân Kinh kỳ, Quảng Nam, Quảng Trị, Quảng Bình thiếu ăn lại giảm giá thóc phát cho vay cũng gần mười vạn, để cứu giúp dân ; phàm những việc yêu nuôi dân chúng, trẫm đều không tiếc gì cả. Nay nếu dân hạt ngươi có thiếu ăn thì cũng không phải là khẩn lắm, nên làm sớ chạy tâu ngay, chỉ trong khoảng tuần nhật là có chỉ xuống thi hành cũng không phải chậm, há nên tự chuyên làm như thế ru ?”. Rồi vẫn hạ lệnh cho hai trấn đều lấy 30.000 hộc thóc cho vay.

    Sứ bộ sang Thanh là bọn Cần Chính điện học sĩ Nguyễn Xuân Tình, Đông các học sĩ Đinh Phiên, Hàn lâm Thị độc Nguyễn Hữu Bình trở về, đem dâng hai con cừu (một con đực một con cái, lông nhỏ mềm, sạch trắng như bông, đuôi to mà ngắn, con đực thì hai sừng cuốn vòng lại đối với nhau, gọi là dương dốc tức là đấy), sai đem nuôi ở Thanh Phong đường.

    Tiết Thánh đản ((1) Ngày sinh nhật của vua.1)(ngày 23 tháng này). Trước một ngày vua mặc lễ phục (mũ Xuân thu, không trang sức, áo tràng vạt đen, xiêm màu lam), kính cáo ở điện Hoàng Nhân. Rồi đổi mặc thường phục đến cung Hoàng mẫu làm lễ người nhà. Đến ngày, Hữu ty đặt đại triều nghi ở điện Thái Hoà, hoàng thân và các quan đều mặc triều phục xin làm lễ mừng. Sắc miễn cho.

    Lấy Tri phủ Lỵ Nhân là Nguyễn Hựu Vinh làm Thiêm sự Công bộ quản lý việc nội tạo, sinh đồ ở Bắc Thành là Nguyễn Danh Giáp làm Hàn lâm viện Kiểm thảo kiêm biện việc nội tạo. Hai người này có xảo tứ nên đặc cách dùng.

    Sai Phó vệ uý Trung vệ dinh Hổ oai là Nguyễn Xuân đem lính vệ đi thú ở Bình Định.

    Sai Vệ uý Trung vệ dinh Tiền phong là Lê Phước Hậu, Vệ uý Trung vệ dinh Long võ là Mai Văn Thành, đều lấy chức mình mà biện lý việc dinh.

    Ngày Canh tuất, yết lăng Thiên Thụ.

    Vua đến chơi phủ Kiến An công, Thiệu Hoá công, Định Viễn công và Diên Khánh công. Vua rất yêu quý anh em, tự khi lên ngôi trở đi, cứ 5 ngày một lần sai người đến các phủ hỏi thăm, khi rỗi việc triều chính thỉnh thoảng đến chơi.

    Sai Tôn Thất Dịch truyền dụ cho các hoàng thân, hoàng tử đều chọn một người thuần cẩn, tâu xin cho quan chức để quản suất các thuộc hạ trong phủ.

    Vua nghe nói đầy tớ nhà Thái trưởng công chúa Ngọc Du cậy thế lấn người, mà chúa không cấm, mới vời con bà ấy là Khinh xa đô uý Võ Khánh đến trách rằng : “Nước có điển hình, sao mày không khuyên mẹ mày đi”. Khánh thưa rằng : “Không thể khuyên can được”. Vua bảo rằng : “Làm con thờ cha mẹ phải nên lấy lời nói dịu dàng can ngăn ở lúc việc chớm phát, để cha mẹ đừng mắc vào điều phi nghĩa, không thế thì trách nhiệm ở mày”.

    Dựng cục đúc tiền ở Vũ Khố. Vua nhiều lần đến xem. Sai hằng tháng cấp cho thợ mỗi người tiền 2 quan gạo 2 phương.

    Sai đình thần liệt kê các quan dinh trấn chưa vào chầu để lần lượt gọi về Kinh hỏi han cho rõ tình kẻ dưới. Rồi từ nay về sau, các quan dinh trấn vào chầu thì cho được cùng đình thần hội bàn, để xem uẩn súc của họ thế nào, và để tỏ ý trong ngoài nhất thể.

    Lấy Hữu Tham tri Binh bộ là Nguyễn Xuân Thục lĩnh Công tào Hộ tào Gia Định, Cai án Nghệ An là Trần Hữu Châu làm Thiêm sự Hình bộ biện lý Hình tào Công tào, Thiêm sự Hộ bộ là Ngô Quang Đức biện lý Hộ tào kiêm biện Binh tào. Khi Thục sắp đi, vua vời vào dụ rằng : “Công việc ở Gia Định không ít, khanh đến thành phải nên siêng năng cẩn thận để giúp việc nước”. Thục nhân nói từ trước đến nay các thành các trấn làm sổ binh phần nhiều chậm trễ. Vua bèn sai đình thần truyền dụ các địa phương từ nay về sau làm sổ binh ngạch kỳ tháng 4 thì hạn trong tháng 4 làm xong sổ để bộ Binh tâu xin chuẩn theo, rồi tức thì chép sao lại, nếu để chậm thì có tội”.

    Lấy Hữu tham tri Hình bộ là Trần Minh Nghĩa làm Hữu Tham tri Binh bộ.

    Làm xe ngọc kính((1) Xe lồng kính.1). Sai Vũ Khố làm theo cách thức của Tây dương ; thưởng cho thợ 100 quan tiền.

    Sai bộ Hộ hằng tháng cấp tiền gạo cho các thợ bách công. Ai làm đồ dùng tinh xảo thì hậu thưởng.

    Chuẩn cho các đạo Côn Lôn và Long Xuyên thành Gia Định, thay nộp thuế yến sào bằng tiền. (1 cân yến sào nộp tiền 50 quan).

    Triệu Hữu Tham tri Hộ bộ lĩnh Hộ tào Bắc Thành là Nguyễn Tường Vân về Kinh, lấy Tả Tham tri Hộ bộ là Đoàn Viết Nguyên thay.

    Sai biền binh các quân Thị trung Thị nội đóng 30 chiếc thuyền lê, cấp cho tiền làm xưởng thuyền (xưởng lớn 15 quan, xưởng trung 10 quan).

    Ngày ất mão, bàn dâng thêm tôn thụy Cao hoàng hậu. Sai Hữu ty đúc sách vàng (5 tờ, mỗi tờ dài 6 tấc 3 phân 4 ly, ngang 3 tấc 5 phân 1 ly).

    Triệu Hiệp trấn Cao Bằng là Lê Đình Khuê về Kinh để dùng.:rose:
  • Chia sẻ trang này