0060.0002

12/8/17
0060.0002
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose:

    Trấn Ninh làm binh. Các lính trốn năm nay thì xin tư ngay cho các quan địa phương tìm bắt. Những tên bắt được thì xin theo nghiêm chỉ năm ấy tâu rõ để trừng phạt. Vua y theo”.


    Lấy Tư nghiệp Quốc tử giám là Phan Hữu Tính làm Lang trung Binh bộ theo Binh tào Bắc Thành làm việc, thự Lang trung Lễ bộ là Nguyễn Sỹ Bảng làm Lang trung Hình bộ theo Hình tào Bắc Thành làm việc, nguyên Đốc học Định Tường là Nguyễn Huy Hựu làm Tư nghiệp Quốc tử giám.


    Tả thị lang Hộ bộ Hoàng Quýnh đem việc thành thần Gia Định tư rằng vật giá đắt vọt lên, nhà nước mua không đủ, vào chầu tâu trước vua, nhân nói việc đặt mua rất không tiện: “Thần trước hiệu lực ở Quảng Bình, tự mình thấy rõ tệ ấy. Tức như da trâu và lưới rách, để đấy là đồ bỏ đi, bán cho quan thì được giá tốt, thế mà trong dân đến nỗi có kẻ giết trâu xé lưới để cầu khỏi việc đòi bắt. Phàm triều đình lập pháp là vốn muốn nhân việc gia ân để giúp dân, mà một khi quan lại không thể đức ý ấy thì da trâu lưới rách còn sinh ra tệ, huống là có món lại quá thế nữa”.


    Vua nói rằng: “Những vật nhà nước cần dùng không thể thiếu được. Những sản vật các địa phương sản xuất, không mua ở dân thì lấy đâu cho đủ dùng. Chỉ sợ hữu ty không biết giữ lòng công theo pháp luật mà thôi. Như năm trước mua đậu khấu mỗi 100 cân trả đến trên dưới 150 lạng bạc, thế mà bảo hộ Chân Lạp là Nguyễn Văn Thuỵ cùng phạm viên là Trần Nhật Vĩnh chỉ trả 50, 60 lạng, lại còn nói tự xuất của nhà để cấp thêm. Bọn ấy đã mưu gian cho đầy túi, lại đổ lỗi cho bề trên, thì dân mọn ở biên thuỳ còn trông mong gì nữa. Trẫm đã từng mạt sát mối tệ, đinh ninh răn bảo, không biết Hộ tào ngày nay là Ngô Bá Nhân đã biết soi gương ấy hay chưa !”. Quýnh vốn là người ngay thẳng, gặp việc dám nói, vua cũng dung nạp.


    Vua thường xem quốc sử, bảo Hà Quyền và Trương Đăng Quế rằng: “Các vua đời trước nước ta, như Lê Thánh Tông cũng có thể gọi là vua hiền, Trẫm vẫn hâm mộ. Văn chương cũng hay, tiếc rằng văn quá sự thực”.


    Lại nói: “Lê Thái Tổ oai võ giỏi, mưu lược lớn, khai sáng trước, Thánh Tông nối sau, lập ra pháp chế, việc gì cũng có thể lưu mãi về sau, thực không thể bàn ai hơn ai kém được. Tiếc đời sau, không biết noi giữ phép nhà, cho nên đến nỗi suy hèn. Nếu biết giữ phép cũ mà không để mất, thì ngôi vua nhà Lê còn dài, chẳng những có thế thôi”.


    Trấn thủ Sơn Nam là Nguyễn Đăng Khánh vì nhiều lỗi, phải giáng mãi, giáng đến Phó quản cơ hàm Tòng tứ phẩm bắt về hưu trí. Lấy Thống quản thập cơ Hùng dũng thuộc Hữu quân là Hồ Bôi làm Trấn thủ Sơn Nam.


    Vét cửa sông Thiên Đức thuộc Bắc Thành.


    Trước đây việc vét sông đã theo lời đình nghị mà cho thôi. Vua lại bảo bộ Công rằng: “Cửa sông ấy tuy lấp đã lâu, hãy theo dòng cũ thử đào cho thông cũng không hại. Vậy hạ lệnh cho thành thần chước lượng đào xẻ rộng chừng 5 trượng, sâu đủ dẫn nước thường 2 thước, dài hơn 100 trượng. Tựu chung thước tấc sâu rộng dần dần rút bớt đi, đợi đến lúc nước lên to, thế nước chảy vào, thế tất càng sâu càng rộng thêm ra, như thế há chẳng phải là việc làm một nửa mà công hiệu gấp đôi sao. Đây là việc cốt yếu để củng cố đê điều vậy”. Đến bấy giờ, Phó tổng trấn Phan Văn Thuý xin phái Thống quản Trung quân Lê Văn Quý đốc 1.000 người biền binh thuộc thành làm việc, hơn một tháng thì xong. Thưởng cho biền binh 1.300 quan tiền.


    Vua nhân rỗi theo hầu Hoàng thái hậu câu cá ở hồ sau Ngự viên. Vua vừa buông câu, câu được liền 5, 6 con cá. Hoàng thái hậu thích lắm, khen ngợi mãi. Vua bèn làm thơ ghi việc ấy, đưa cho bầy tôi xem và nói rằng: “Đấy có thể thấy triều đình nhàn hạ, Hoàng thái hậu mạnh khoẻ, cho nên khiến các khanh xem để biết việc vui trong gia đình nhà vua, lòng thần tử tưởng cũng vui vẻ. Còn lời văn khéo vụng thì không cần tính đến”.


    Ngày Bính thìn, phong Hoàng trưởng tử làm Trường Khánh công, Hoàng tử Miên Định làm Thọ Xuân công, Miên Nghi làm Đức Thọ công, Miên Hoành làm Vĩnh Tường công, Miên An làm Phú Bình công, cho sách ấn và ấn quan phòng (sách ấn đều làm bằng bạc mạ vàng, ấn quan phòng dùng bạc), chi tuế bổng hằng năm mỗi người 1.000 quan tiền, 1.000 phương gạo.


    Trước đây vua dụ bộ Lễ: “Thánh đế minh vương đời xưa đặt nhiều phiên thần thân thích, để dây dưa rườm rà, để cho vương thất phồn vinh, phúc trời truyền mãi. Đức Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta đặt ra phép tắc, sâu nghĩ đến kế vun trồng, các hoàng tử đều phong tước công, bắt chước đời xưa, lấy thái ấp mà đặt tên, lại vẫn khiến chầu hầu ở Kinh để cho phên giậu được vững như bàn thạch, quy mô thật là to lớn. Trẫm kính vâng mối lớn, lo mưu giữ nước. Hiện nay các hoàng tử ra ở riêng đã hơi trưởng thành cũng nên phong thêm để cho danh mệnh rỡ ràng, ngày thêm tiến tới, đều hưởng phúc chung. Vậy tấn phong Hoàng tử Miên Tông làm Trường Khánh công, Miên Định làm Thọ Xuân công, Miên Nghi làm Đức Thọ công, Miên Hoành làm Vĩnh Tường công, Miên An làm Phú Bình công. Những sách ấn ban cho và công việc nên làm, đều do bộ làm thế nào cho ổn thoả để tâu xin thi hành. Từ nay về sau, phàm hoàng tử tuổi đến 15, thì bộ Lễ tâu xin sách phong, Trẫm xét nếu quả đức với tuổi cùng tiến, kính và nghĩa ngày thêm thì phong cho tước công. Nếu chưa hay sáng tỏ đức nghiệp làm đúng khuôn phép, thì tạm đình phong một lần đợi 5 năm sau sẽ đề xin lại. Ghi làm lệnh”.


    Đến bấy giờ hữu ty chọn ngày tốt tiến trình. Vua sai Chưởng dinh thự Tiền quân ấn vụ là Trần Văn Năng sung chánh sứ, Thượng thư Hình bộ là Hoàng Kim Xán sung phó sứ vâng đem sách ấn đến phủ đệ Hoàng trưởng tử làm lễ tuyên phong, Chưởng dinh thự Trung quân ấn vụ là Tống Phước Lương, Thống chế Hữu dực dinh Võ lâm gia hàm Đô thống là Trần Văn Cường, Phó tướng Hữu quân gia hàm Đô thống là Nguyễn Văn Xuân, Thống chế Tả dực dinh Võ lâm là Nguyễn Văn Trọng, Thượng thư Lễ bộ là Nguyễn Khoa Minh, Thượng thư Hộ bộ là Lương Tiến Tường, Thượng thư Công bộ là Nguyễn Kim Bảng, thự Thượng thư Lại bộ là Lê Đăng Doanh, đều sung làm chánh phó sứ, chia nhau đi đến phủ các hoàng tử, làm lễ tuyên phong. Lễ xong, Hoàng trưởng tử và các tước công đều dâng biểu tạ.


    Chuẩn định sự nghi về ấn triện ở phủ các tước công. Ấn triện đặt ở nhà trước của phủ, các viên trưởng sử và trực giảng hội đồng đóng hòm ghi chữ, giao cho biền binh thuộc phủ coi giữ ; chìa khoá hòm ấn do ở các ông hoàng thu giữ. Phàm hết thảy việc trong phủ, trưởng sử bẩm cho biết, rồi xin ý, sai tư vụ thư lại khởi thảo, trưởng sử và trực giảng phúc duyệt, rồi do tán thiện và bạn độc kiểm tra lại xác đáng, cùng ký tên, bẩm xin chữ của ông hoàng, rồi mới viết tinh đóng ấn thi hành. Nếu việc không nên làm mà quan thuộc ở phủ không đắn đo sự lý, thương lượng nên chăng, vội xin thi hành để đến nỗi hại việc, việc phát giác thì trừng trị nặng. Có việc liên quan đến các nha ở Kinh thì dùng chiếu hội ((1) Chiếu hội : tư cho các nha ngang hàng gọi là chiếu hội. ), tự xưng là bản phiên và gọi các nha ấy là quý nha. Các thân công đều theo lệ ấy mà làm.


    Sai quan soạn ngọc điệp. Lấy Thượng thư Lễ bộ là Nguyễn Khoa Minh sung Tổng tài, Vệ uý vệ Hậu nhất Tả dực dinh Võ lâm là Tôn Thất Bằng sung Phó tổng tài, Nội các Thị độc là Nguyễn Huy Chiểu, Thừa chỉ là Tôn Thất Thận sung Toản tu. Đến lúc làm xong thưởng bạc và lụa cho Tổng tài trở xuống theo thứ bậc.


    Thưởng phẩm vật cho quan và binh trú phòng ở phủ Trấn Ninh.


    Vua dụ: “Từ khi phái bọn Tạ Quang Cự và Tống Văn Uyển đến trú phòng Trấn Ninh, xông pha lam chướng, tự mùa đông đến mùa xuân, lòng ta vẫn nghĩ đến, chẳng biết bọn ngươi gần đây có khoẻ mạnh không ? Và biền binh tướng sĩ có được mạnh khoẻ không ? Cho Quang Cự làm sớ tâu lên cho ta yên lòng. Trước đây, ngươi làm việc bắt Chiêu Nội rất tốt, chưa biết từ năm ngoái đến nay đầu mục thổ dân hạt ấy có được yên ổn không ? Cũng tâu lên một thể. Từ nay về sau bất cứ có việc hay không, mỗi tháng phải hai lần báo tin bình yên cho trấn Nghệ An để được thông tin tức. Nay thưởng cho Tạ Quang Cự một thanh gươm Tây dương đầu sư tử mạ vàng, áo quần, chăn, khăn, quạt cộng 10 cái, thưởng cho Tống Văn Uyển, Cao Khả Tuyên mỗi người 5 cái cũng như nhau, cùng thưởng cho bọn quan binh các thứ thuốc, để tỏ ý Trẫm thương nhớ quan binh lớn nhỏ khó nhọc ở chỗ biên thuỳ”.


    Lại nghĩ bọn thổ mục Chiêu Huống và Khâm Quyết làm việc đắc lực, thưởng cho Chiêu Huống làm Thổ tri huyện sung bang biện, Khâm Quyết làm Thổ huyện thừa sung phó bang biện. Sai hữu ty chế ấn quan phòng Bang biện Trấn Ninh phủ sự cấp cho. Lại lấy 3 hòn ngọc trắng của Chiêu Nội hiến trước thưởng cho Chiêu Huống 2, Khâm Quyết 1. Dụ rằng: “Bọn ngươi trước sau một tiết, cố gắng kính thành, thì ta vun trồng, cho thấm thía ơn sâu mãi mãi. Nếu không như thế, thì gương trước chẳng xa, phép nước rất công, không thể khoan dung được”.


    Nội các tâu rằng: “Tự trước đến nay các địa phương thu nộp hạng, lệ có phái thuộc viên Nội các hội đồng với ty viên Hộ bộ Nội vụ để xem cân, rồi giao cho Nội vụ phụng giữ ; cùng Nội vụ chế tạo vật kiện, cùng phái thuộc viên Nội các và thị vệ hội đồng với viên giám lâm xem nghiệm mà đề vào sổ chi tiêu. Nay Nội vụ đã đặt đốc công cùng ty Tiết thận chuyên làm việc ấy, thì những phái viên các thuộc và thị vệ nên triệt về. Lại những sổ sách tiêu thủ của các nha các đội Nội vụ, Vũ khố, Nội tạo, Thượng trà, Thượng thiện, Tài hoa, Kim thương, từ trước đều do Nội các xét thực, phụng phê lời chỉ, mà năm ngoái đình nghị chức trưởng của Nội các thì lại không nói đến. Vua sai hai bộ Hộ, Công thoả bàn, xin phàm chế tạo đồ ngự dụng thuộc các vật trân quý như vàng, bạc, châu, báu, gấm, đoạn thì vẫn theo như trước hội đồng xem xét. Còn những việc chế tạo tầm thường thì đều do đốc công chiếu biện, cho có chuyên trách. Đến như việc hội đồng xem cân vật hạng do các địa phương thu nộp và việc xét thực, phê chỉ sổ sách tiêu thủ của nha từ Nội tạo đến Kim thương đều là phận sự của những người dự chức cơ yếu, xin theo lệ trước”. Vua nghe theo.


    Chuẩn định từ nay về sau phàm hằng năm sau ngày phong ấn, Lục bộ, Nội các và các nha, gặp có dụ chỉ cùng chương sớ, tất cả những việc cần làm, thì cứ theo lệ tâu lên kính dùng ấn vàng mà thi hành, đến ngày khai ấn thì truy dùng ấn triện quan phòng, chua rõ các chữ năm tháng ngày nào truy dùng để làm bằng chiếu. Lấy năm nay bắt đầu.


    Tháng 2, lấy nguyên Hiệp trấn Hải Dương là Hoàng Công Tài làm Hữu thị lang Hộ bộ.


    Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt dâng sớ khẩn xin về Kinh chúc thọ vua.


    Vua dụ: “Xem lời trong sớ, đủ thấy một tấm lòng thành. Nhưng nghĩ khanh nay tuổi đã già yếu, lại ốm vừa khỏi, chính nên tĩnh để điều dưỡng. Vả lại Gia Định là trọng trấn một phương, khanh nên lưu lại làm việc, phàm mọi công việc, gia tâm trù biện, để Trẫm khỏi phải lo nghĩ về miền Nam, như thế hơn việc chúc thọ ở khuyết đình nhiều lắm”.


    Phó tổng trấn Bắc Thành Phan Văn Thuý cũng dâng sớ xin về Kinh. Dụ miễn cho.


    Sửa điện Quang Minh và điện Dưỡng Tâm. Sai Thống chế Nguyễn Văn Trọng, Trần Văn Cường chia nhau coi công việc.


    Chuẩn định từ nay các sắc giản binh ở Kinh tại ngũ mà trốn. Nếu trong hạn 100 ngày hay ngoài hạn mà ra thú thì theo lệ năm Minh Mệnh thứ 4 mà làm. Ngoài ra bắt được, trốn lần đầu thì đánh 100 trượng và sung ngũ, trốn lần thứ hai, đóng gông lớn 2 tháng, ngày mãn hạn đánh 100 côn hồng và sung ngũ, trốn đến lần thứ ba thì bộ Binh tâu xin chỉ trừng trị.


    Trong kinh kỳ mưa.


    Vua dụ bộ Lễ rằng: “Một tuần nay ở Kinh dẫu được vài lần mưa, nhưng chưa được mười phần thấm thía. Gần đây nghe Quảng Trị cũng chưa mưa đầy đủ. Ngày nay tự giờ Sửu đến giờ Mão mưa lúc lớn lúc nhỏ, đến giờ Thìn thì tạnh, xét ra mưa cũng chưa được phân tấc. Trẫm lo đến việc nông càng mong mưa lắm, đã hình ra ở trong các bài thơ. Đến giờ Tỵ thì được trận mưa to thấm thía tràn trề, đến đêm chưa tạnh. Trẫm xiết bao mừng rỡ, cùng vui với nông dân, mà trông lên trời thì mây đen nghịt, thế tất ở nam bắc xa gần đều mưa. Bộ ngươi nên tư gấp cho Quảng Nam trở về Nam đến Phú Yên, Quảng Trị trở ra Bắc đến Bắc Thành, hỏi tình hình các hạt gần đây đã được mưa hay chưa, đều cứ thực mà tâu ngay cho Trẫm yên lòng”.


    Trấn thần Ninh Bình tâu rằng: “Các ấp lý mới lập ở huyện Kim Sơn, tự Hướng Đạo, Tự Tân đến Tuy Lộc, đất còn chua mặn, đợi cho nước ngọt thấm thía mới thành ruộng cấy lúa được, xin cho miễn thuế 5 năm, đến năm Minh Mệnh thứ 16 mới bắt đầu thu thuế, để cho dân nghèo được nhờ”.


    Vua theo lời xin.


    Đặt thêm viên ngạch cho hai tự Thái thường và Quang lộc. Lệ trước mỗi tự Lang trung 1 người, Chủ sự tư vụ mỗi chức 2 người, Bát cửu phẩm thư lại mỗi chức 3 người, Vị nhập lưu thư lại mỗi chức 14 người. Đến bấy giờ bộ Lễ thấy rằng triều đình lễ nhạc nghi chương ngày một thêm nhiều, chức chưởng hai tự rất là quan hệ, tâu xin thêm người làm việc. Vua hạ lệnh cho mỗi tự thêm bát cửu phẩm thư lại đều 1 người, vị nhập lưu thư lại 6 người.


    Bắc Thành tâu dâng sách thu thuế quan của kinh phái.


    Vua dụ bộ Hộ rằng: “Thuế cửa quan bến đò đặt ra cốt để ức kẻ làm nghề hớt ngọn. Trước đã phái kinh viên ngồi thu thuế quan năm Minh Mệnh thứ 10 ở ba sở Trình Xá, Quán Tư, Bảo Thắng. Đấy là muốn bỏ cái tệ lái buôn giảo hoạt lũng đoạn mưu lợi chứ có phải là so kè từng phân từng hào đâu. Nay xem sách thu thuế dâng lên, theo giả khâm định thì trong ấy chỗ dôi chỗ hụt không giống nhau. Nhân nghĩ nhà nước đặt phép cốt lợi cho dân, mà thưởng phạt cũng là phép thường. Bọn phái viên nếu một niềm công trung, giữ theo pháp luật, không đua nhau lấy lợi nhỏ, mà sách nhiễu ngoại lệ, khiến người ta vui vẻ đi lại mà thuế nhà nước được thêm thì cũng nên khen thưởng để khuyến khích. Nếu có thể khoe khoang thanh thế, ráo riết lạm thu, lái buôn lớn thì sợ đi lại, dân buôn nhỏ thì phải nộp đến kiệt quệ đến nỗi thuế khoá vì thế mà tăng giảm, những vết xấu ấy cần phải nghiêm trị để nêu điều trung chính mà răn kẻ tham ô. Vậy hạ lệnh cho Phó tổng trấn Phan Văn Thuý xét nghiệm thực trạng, tâu lên đợi chỉ”.


    Đến lúc sớ tâu lên, đều chiếu ngạch thuế dôi hụt mà thưởng phạt theo thứ bậc.


    Đặt lại đội pháo thủ ở các thành trấn.


    Các đội Thần oai Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, các đội Chấn oai Quảng Bình, Quảng Trị, các đội Oai chấn ở Nghệ An, Thanh Hoa, Nam Định, Hải Dương, các đội An bính ở Phiên An, Hoà bính ở Biên Hoà, Thanh bính ở Vĩnh Thanh, Tường bính ở Định Tường, đều đổi làm đội pháo thủ ; 10 đội Ngũ bính ở Gia Định, 4 đội Oai chấn ở Bắc Thành, đều xếp theo thứ tự đội mà đổi làm các đội pháo thủ, vẫn thuộc vào các thành trấn để làm việc công.


    Hữu thị lang Hộ bộ là Lê Công Tường có tội phải cách chức. Trước đây chủ thuyền nước Phú Lãng Sa là Miêu Tế đến buôn ở Đà Nẵng, xin mua đường cát, Tường phụng mệnh đi bán đường, nhẹ dạ nhận của đút, đem các đường hạng nhất làm hạng nhì. Việc phát giác, phải cách chức phát đi hiệu lực ở sở Nội tạo.


    Định lệ cấp kiên binh cho đường quan Nội các (phàm quan Tam, Tứ phẩm sung biện Các vụ, nếu mượn hàm Thị lang các bộ thì theo lệ Thị lang lục bộ mà cấp; mượn hàm Hàn lâm viện thì Tam phẩm cấp cho 5 người, Tứ phẩm cấp cho 4 người).


    Ngày Canh ngọ, tế Trời Đất ở đàn Nam Giao. Trước sai bộ Lễ xét cổ điển, chước định lễ nhạc văn vật đầy đủ. Ngày hôm ấy vua thân hành làm lễ. Từ trước canh năm phát ống lệnh đến tang tảng sáng lễ xong.


    Vua bảo bộ Lễ rằng: “Vương giả phải có lòng chí thành thì mới có thể cảm cách trời được. Nay lễ tế Giao, lễ số dẫu nhiều, mà Trẫm một lòng thành không biết mỏi mệt. Ngày sau tuổi già cũng phải cố gắng không dám trễ nải”.


    Tháng ấy thượng tuần mưa mãi không tạnh, vua mật đảo ở trong cung. Đến lúc xa giá đến Trai cung, trời quang tạnh, thần dân đều mừng, cho là lòng thành của vua đã cảm đến trời.


    Khi xa giá về cung, thưởng cho đường quan Lễ bộ là Nguyễn Khoa Minh, Phan Huy Trực đều gia một cấp, các ty viên đều thưởng kỷ lục một thứ ; thư lại, nhạc sinh, ca sinh, Thanh bình thự thì thưởng tiền theo thứ bậc.


    Dựng hành cung ở trấn Định Tường.


    Năm trước trấn thần nhiều lần khoán mua gỗ, nhưng gỗ nhiều ngắn nhỏ không dùng được. Đến bấy giờ mới cho theo ra cách thức của bộ Công gửi cho mà phái biền binh đi lấy gỗ, gọi thợ mà làm.


    Bắc Thành có đám giặc 500 người đánh úp phủ Tiên Hưng, giết và đánh bị thương biền binh mà cướp lấy tù. Quản phủ Nguyễn Văn Hảo, Phủ đồng tri Nguyễn Văn Thái vì sơ phòng đều bị cách chức. Vua hạ lệnh cho thành thần nghiêm sức cho trấn thần Sơn Nam tìm cách đuổi bắt. Liền bắt được đầu đảng là Đỗ Đình Vy giết đi.


    ở sơn phận huyện Duy Xuyên trấn Quảng Nam (ở 2 xã Thạch Kiều, Đức Bố) có đá khối có thể nấu thành đồng. Hạ lệnh bắt 500 dân phu sở tại, lấy đá nấu một tháng được đồng không mấy (đá 50 cân thành đồng đỏ hơn 5 lạng) bèn thôi không làm nữa.


    Sai Thị lang Vũ khố Hồ Hữu Thẩm, Quản thị vệ là Vũ Văn Giải đem mía trắng Quảng Nam ép nấu thành đường, sổ biên nhân công vật liệu trình lên, tính toán sai lầm đều dâng sớ xin chịu tội.


    Vua phê bảo rằng: “Đấy dẫu việc nhỏ, song Trẫm muốn biết cách sinh lý của dân gian ; xem thanh đơn của các ngươi chỗ này chỗ khác khác nhau, đã hai ba lần xét hỏi, các ngươi cứ một mực múa mép biện cãi. Bây giờ nước cạn đá trơ ra, còn nói gì nữa ! Nói với ai cũng nên thận trọng, nói với vua cha mà lại khinh rẻ thế à !”. Bèn sai trói ở vệ Cẩm y. Rồi lại tha.


    Sai chở 5 vạn hộc thóc ở kho Bình Định đến Quảng Ngãi để chứa.


    Thổ tri châu châu Mường Bổng trấn Quảng Trị phủ Cam Lộ là Cốc Uân bị em họ là Thao Bôn Ta giết chết, thổ lại mục là bọn Chiêu Lặc Cầm Quyết Xuy Mang cùng với nhân dân châu ấy lập Thao Bôn Ta quyền làm châu trưởng. Trấn thần nghe tin, tâu lên. Giao xuống đình thần bàn đều nói: “Mường Bổng thuộc về đất kỳ phụ((1) Miền phụ thuộc vào Kinh kỳ.), vốn đã thấm nhuần thanh giáo, vô cố giết chết trưởng quan, cùng nhau bầu đặt riêng. Như thế là chuyên quyền không kính sợ gì cả. Nếu không chỉ rõ tội danh thì kẻ khác bắt chước, lại phải mất nhiều công xử trí. Xin hạ lệnh cho trấn thần tra rõ mà hỏi tội. Lại xét thổ mục các châu, ai là người nhân dân tín phục thì tâu cử để bổ thụ”. Vua cho là phải. Trước đấy bộ Lễ tâu rằng: “Năm nay gặp tiết đại khánh, xin trước kỳ sức cho thổ ty 9 châu Cam Lộ sắm nghi phẩm đến Kinh chúc mừng. Sau đó phát giác việc Cốc Uân. Vua dụ rằng: “Bọn lại dân Mường Bổng rất khả ố, nếu lại cho nó cùng với các châu đến dự hội của nhà vua thì sao cho xứng tình thực lễ mà phân biệt kẻ hay người dở. Vậy lễ khánh tiết này, thổ lại mục và bộ lạc Mường Bổng đều không cho dự. Đến lúc án của trấn dâng lên, xử Thao Bôn Ta bị chém, đem đầu đến địa phương phạm tội bêu lên, thổ lại mục Chiêu Lặc Cầm đã chết, Quyết Xuy Mang bị tội giảo. Lại cho cháu Cốc Uân là Cốc Thi làm thổ tri châu.


    Thưởng bạc lạng và quần áo theo thứ bậc cho các quan hưu trí tuổi đã 80 trở lên. (Thừa Thiên 3 người, Bình Định 2 người, Quảng Bình, Hải Dương đều 1 người).


    Nêu thưởng cho những người dân thọ 100 tuổi ở các địa phương (Thừa Thiên, Quảng Nam - đàn ông đều 4 người, đàn bà đều 2 người ; Quảng Trị - đàn ông 13 người; Quảng Bình, Thanh Hoa - đàn ông đều 1 người ; Phú Yên, Ninh Bình - đàn ông đều 1 người, đàn bà đều 1 người ; Bình Hoà, Sơn Nam - đàn ông đều 2 người ; Vĩnh Thanh, Định Tường - đàn ông đều 2 người, đàn bà đều 2 người ; Nghệ An - đàn ông và đàn bà đều 3 người ; Hải Dương - đàn bà 1 người).


    Biên Hoà có quản trị dân Man ở sách Làng Giao tên là Nhiên, trước kia khi Thế tổ Cao hoàng đế lấy lại thành Gia Định, đem các dân Man dâng gạo lại sai hơn 1.000 người tinh tráng tòng quân, sau khi đại định, cho làm quản trị các man lệ vào thủ Phúc Khánh, Biên Hoà. Đến bấy giờ tuổi đã 100, trấn thành tâu lên. Vua thưởng cho 20 lạng bạc.


    Lại có Lê Thị Liên xã An Tôn (thuộc huyện Ngọc Sơn), Thanh Hoa, Nguyễn Thị Yên xã Cù Sơn (thuộc huyện Chí Linh) Hải Dương, đều tuổi 80, ngũ đại đồng đường (Thị Liên có 1 con, 2 cháu, 2 chắt, 1 chiu ; Thị Yên có 1 con, 2 cháu, 1 chắt, 1 chiu). Sai bộ Lễ chiếu lệ bàn nêu khen.


    Thự Hữu tham tri Hình bộ lĩnh Hình tào Bắc Thành là Nguyễn Hựu Nghi chết. Cho 1 cây gấm Tống, vải lụa mỗi thứ 5 tấm và 50 lạng bạc.


    Thự Thượng thư Lại bộ là Lê Đăng Doanh dâng sớ đề cử người học trò là Nguyễn Văn Anh có thể làm Huấn đạo. Đến lúc sát hạch chỉ dự hạng thứ. Vua nói rằng: “Chức Huấn đạo dẫu nhỏ, nhưng quan hệ đến phong hoá. Anh, văn học tầm thường đương sao được chức ấy”. Bèn không cho. Nhân bảo bầy tôi rằng: “Trẫm tự lúc lên ngôi đến nay, vẫn chấn hưng văn giáo, mà nhân tài sao ít ỏi thế ?”. Thị lang Lại bộ Phạm Bá Đạt tâu rằng: “Hoàng thượng ta lưu ý đào tạo nhân tài, ai chả phấn khởi. Nhưng giáo chức đều do đề cử, học vấn thấp kém không đủ làm mô phạm. Nếu lấy khoa mục mà dùng thì nhân tài sẽ ngày càng thịnh”. Nội các Trương Đăng Quế nhân tâu rằng: “Nhân viên bị truất cách có người nào là khoa mục, nên cho khởi phục làm giáo chức, thì sẽ không thiếu người”. Vua nói: “Trẫm cũng muốn làm như thế. Nhưng lại nghĩ kỷ cương của nhà nước duy thưởng cùng phạt, bọn ấy vừa có tội bị truất, lại vội dùng ngay, thời những người may mắn đỗ đạt sẽ bảo rằng mình đã có tư cách, ngày nay dẫu bãi, cũng vẫn có đường trở lại, rồi sẽ theo nhau làm bậy không sợ hãi gì thì làm sao gạn lọc được quan trường”.


    Sai Thượng thư Lễ bộ Nguyễn Khoa Minh kiêm quản Khâm thiên giám.


    Ngày Mậu dần, lễ Xuân tế ở đàn Xã Tắc, vua thân đến làm lễ.


    Trước đấy, vua dụ bộ Lễ: “Năm nay gặp khánh tiết tứ tuần của ta, nhờ ơn trời đất, nhờ Phước tổ tôn, nên tế tự long trọng để tỏ lòng thành. Các sở tự đàn miếu nên lần lượt làm lễ trọng thể, để đáp phúc thần. Cho sau khi tế Giao, ngày Mậu, Trẫm sẽ thân tế đàn Xã Tắc. Còn miếu Lịch đại đế vương và Văn miếu thì đợi tháng trọng thu, Trẫm sẽ thân đến làm lễ. Vậy dụ cho các nha đều biết”.


    Các biền binh ở Bắc Thành và Thanh - Nghệ theo lời triệu đến Kinh, hạ lệnh cho thao diễn ở ngoài quách phía nam kinh thành. Vua ngự đến xem, thưởng cho mỗi người 1 quan tiền.


    Vua làm 10 bài thơ vịnh sử, đem cho bầy tôi đọc. Đến bài thơ vịnh Minh hoàng có câu:


    “Kỷ sấu sơ duyên cần vạn cơ [ky] ;


    Vãn niên hà độc Thái Chân phì”.


    [Dịch: Năm đầu gầy bởi chăm muôn việc ; Năm cuối béo sao chỉ Thái Chân ?((1) Thái Chân : Dương Quý phi.)], nhân bảo bầy tôi rằng: “Trẫm xem Minh hoàng năm mới làm vua, lời nói việc làm và chính sự đều có chỗ đáng khen. Đến năm già đắm yêu Dương phi, chính sự trễ nải cho nên không giữ được tốt đến cùng. Trẫm tự lúc lên ngôi đến nay một lòng chăm chắm, chăm lo mọi việc, chỉ vui cùng các khanh xét đoán công việc, không dám yên rỗi, chẳng biết ngày sau có giữ được mãi thế không ? Đức của người làm vua là ở chỗ không nhàn rỗi. Trẫm về sau mỏi mệt hoặc không chăm được như trước, các khanh nên đọc thơ này để châm biếm, Trẫm hẳn là biết răn đấy”.


    Tổng trấn Gia Định là Lê Văn Duyệt tâu xin dỡ 4 kho quản thảo cũ, chọn lấy những gỗ còn dùng được để làm thêm một kho Gia hoà và nhà trại của cục Tạo tác. Vua y cho.


    Năm đội nhất nhị tam tứ ngũ của cơ Thanh Hoa thuộc trấn Thanh Hoa, lính bỏ trốn nhiều, chỉ còn hơn 60 người, hạ lệnh dồn làm đội Thanh Hoa.


    Định lệ treo cờ và bắn súng ở đài Trấn Hải ((2) Đài Trấn Hải : ở phía Bắc cửa biển Thuận An, xây năm Gia Long thứ 12.):


    “1. Thuyền lớn bọc đồng hoặc thuyền lớn hai cột buồm ở Kinh đi ra biển làm việc công mỗi thuyền có treo cờ vàng và bắn 3 tiếng súng lớn, cả bang thuyền tuy nhiều tiếng súng, trên đài vẫn treo cờ vàng và chỉ bắn 3 tiếng súng thôi. Còn thuyền ô, thuyền lê thì chỉ treo cờ không bắn súng.


    2. Thuyền lớn đi công cán ngoại quốc trở về đến ngoài cửa biển, trên đài trông thấy rõ ràng, thì treo cờ đỏ khánh hỷ ở trên cờ vàng rồi bắn 3 tiếng súng lớn. Như thuyền lớn có 2, 3 chiếc hoặc 4, 5 chiếc cùng đến một lúc, cũng chỉ bắn 3 tiếng súng thôi.


    3. Thuyền ở Kinh đi tuần bắt hoặc chở vật hạng công, trở về đến ngoài cửa biển, trên đài treo cờ đỏ khánh hỷ ((1) Khánh hỷ : cờ đỏ chào mừng.), bắn 3 tiếng súng lớn. Trong bang thuyền hoặc có thuyền lớn bọc đồng từ 2 chiếc trở lên cùng đến một lúc, mỗi thuyền có treo cờ vàng và bắn 3 tiếng súng, trên đài cũng chỉ bắn 3 tiếng súng mà thôi. Còn thuyền ô, thuyền lê thì chỉ treo cờ không bắn súng.


    4. Thuyền các bang nam bắc tào mới đến ngoài cửa biển, trấn đài trông thấy như có thuyền bọc đồng hoặc thuyền hai cột buồm hoặc thuyền ô lê do Kinh phái đi quản vận, một lúc cùng đến, có treo cờ vàng và bắn 3 tiếng súng, thì trên đài treo cờ đỏ khánh hỷ và bắn 3 tiếng súng. Dẫu chỉ có tào thuyền cũng thế. Nếu thuyền trong bang lục tục đến sau, mà là thuyền lớn bọc đồng có treo cờ bắn súng hiệu ấy, thì trên đài cũng cứ treo cờ bắn súng, ngoài ra thì thôi. Lại tào thuyền nam bắc vào cửa biển rồi, không cứ là bao nhiêu ngày, như toàn bang thanh thoả, thì lại bắn súng lớn 3 tiếng nữa.


    5. Bè gỗ Gia Định sắp đến ngoài cửa biển, trên đài cũng treo cờ đỏ và bắn 3 tiếng súng nhỏ, và sau khi vào cửa biển rồi đều được thanh thoả, cũng bắn súng nhỏ 3 tiếng.


    6. Các hạm thuyền công sai ở Kinh và ở ngoài, gặp sóng gió không tiện mà vào cửa biển thì trên đài treo cờ vuông sắc lam, để cho họ biết tuỳ tiện ra đi cho khỏi trở ngại.


    7. Các hạng thuyền ghe công sai vận tải tầm thường như Nam Kỳ tự Quảng Nam đến Bình Thuận, Bắc Kỳ ((2) Nam Kỳ, Bắc Kỳ : ở đây nghĩa là đất kỳ phụ (gần kinh kỳ) ở phía Nam và ở phía Bắc.) tự Quảng Trị đến Ninh Bình, bang thuyền đi lại đều không phải treo cờ bắn súng.


    8. Thuyền tàu ngoại quốc đến đỗ ở bên ngoài cửa biển, lúc thả neo nhổ neo có treo cờ bắn súng thì không cứ hiệu thuyền nào, tiếng súng nhiều hay ít, trên đài chỉ bắn trả lời ở tiếng súng lớn.
  • Chia sẻ trang này