0060.0003

21/12/15
0060.0003
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose:

    9. Phàm việc treo cờ bắn súng ở trên đài, nếu có sai lầm, người biền binh chuyên biện phải chịu tội, viên án thủ cũng phải giao nghị”.


    Bộ Lại bàn xin từ nay phàm quan viên có tang kế mẫu, mình là con trưởng mà nhà không có em thứ hoặc có mà chưa thành đinh, thì cho chiếu lệ năm Gia Long đã định quan ngũ phẩm trở lên, gặp tang cha mẹ về quê trị tang, giảm đi một tháng, để cho mẹ đích mẹ kế có phân biệt mà thêm bớt phải lẽ. Nếu có em thứ đã thành đinh có thể lo việc thay anh thì không được viện lệ xin nghỉ.


    Vua theo lời bàn.


    Thổ huyện thừa, huyện Văn Chấn trấn Hưng Hoá là Hà Đình Thông, thổ lại mục là Cầm Nhân Tài tự tiện giết người tố cáo, đánh người công sai, cướp kẻ can phạm. Tham hiệp Nguyễn Văn Hoá phái người bắt. Tài trốn, Thông chưa cung xong đã chết. Quan Bắc Thành đem việc ấy tâu hặc. Vua hạ lệnh cho Hoá thôi việc trấn, ở ngoài bắt phạm. Đến lúc kẻ phạm đã bắt được, Hoá cũng ốm chết. Đặc cách cho chiếu nguyên hàm cấp tuất cho Nguyễn Văn Hoá.


    Thanh Nghệ giá gạo hơi đắt. Vua sai bộ Công tư hỏi, khắp dân trong hạt trấn, ai lấy được gỗ lim đem nộp quan thì theo giá gỗ tính giảm giá thóc mà cấp cho dân.










    Chính biên



    đệ nhị kỷ - quyển lxV



    thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế



    Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11 [1830], mùa xuân tháng 3, sửa đàn Xã Tắc.


    Đội trưởng thư lại Thuỷ quân có người nhũng lạm, bị lính kiện. Vua sai xiềng, giao bộ Hình tra xét trị tội, nhân xuống dụ nghiêm cấm.


    Dụ rằng : “Binh là việc lớn của nhà nước đặt ra binh là để giữ dân. Tự trước đến nay, xã dân các địa phương lưu tán phần nhiều là do binh lính bỏ trốn. Bởi vì binh là ở dân mà ra, binh không chịu nổi thì dân tất bị khốn. Thế thì binh với dân cùng ràng buộc nhau, vận mệnh của nhà nước quan hệ ở đấy. Trẫm tự lên ngôi đến nay, yêu thương binh lính, vẫn để ý luôn. Sợ bọn cai quản quấy nhiễu thì tuỳ việc răn bảo ; nói không ngại phiền. Gặp có công trình gặp việc sai phái thì thưởng cấp hậu, không tiếc tiền của. Vốn muốn cho binh lính yên ở hàng ngũ, không phải trốn tránh mà làm khổ cho dân. Nhưng bọn đội trưởng thư lại vẫn quen thói thông đồng nhau, coi thường pháp luật, chỉ cầu lợi riêng. Như động khi có việc, thì cho là cần kinh phí việc công, bắt lính đóng góp. Đến kỳ phát lương thì bày đặt chuyện chi phí, về đơn bằng, thông đồng trừ bớt. Thậm chí có người được tiền ân thưởng cũng vẽ chuyện chiết trừ. Binh lính không bao giờ được hưởng ơn huệ thực. Ngoài ra còn nhiều cách lừa bịp, sách nhiễu, chia tay với nhau, mối tệ nảy ra không kể xiết được. Nếu không lấp được nguồn tệ, thì dòng tệ chảy tràn ra không biết đâu cho hết. Cho nên tự trước mỗi khi gặp án vỡ ra, Trẫm đều trừng trị rất nặng, không một chút nhân nhượng gì. Tưởng phép nước nghiêm minh kẻ gian cũng biết khép nép thì phải. Thế mà đội trưởng thư lại Thuỷ quân còn dám làm tệ. Đã giao bộ tra xét. Nay không thể không hiểu dụ nghiêm khắc để cho biết đường mà tránh, mong mỏi khỏi tội lệ. Bọn các ngươi từ cai quản đến đội trưởng thư lại, biện sai, dịch mục, đều nên bảo nhau, có thì bỏ đi, không thì cố gắng, cốt sao gột rửa thói cũ, giữ lấy mình lấy nhà. Nếu coi là lời văn chiếu lệ, cứ giữ thói cũ, một khi phát giác hoặc nếu tự Trẫm xét được sự thực, thì không kể tang số nhiều ít, tất đem kẻ phạm trừng trị rất nặng. Quản quan không biết kiềm thúc, hoặc tri tình dung túng thì cũng phải nghiêm nghị, chớ kêu là không răn bảo sớm”.


    Thành thần Gia Định tâu : “Nhân dân trong hạt thành đều tránh nặng cầu nhẹ, lâu thành thói quen. Có nhà ông cha con cháu chia ở làng khác nhau để cầu khỏi binh dao, trước đã có nghị và được chuẩn cho xét quả thế thì rút về, ai có ông thì theo quê ông, không có ông thì theo quê cha. Nay xét ra thôn dân nhiều nơi trước không đầy 8 suất đinh, trung gian được 1, 2 lậu đinh đến ngụ, đăng vào hộ tịch, đến kỳ kén lính là cho đinh số đã đủ, bắt chịu một binh. Đến nay đã hơn 10 năm binh ngạch đã thành, hộ tịch đã định, nếu nhất nhất rút về nguyên quán, không những sổ sách rối bời, khó lòng bỏ bớt ghi thêm những làng ngày trước đã chịu lính nay lại thành không đủ đinh số. Vậy xin châm chước cho được thoả đáng phàm ai đã được duyệt tuyển thành sổ từ năm Minh Mệnh thứ 9 về trước thì không cần truy cứu, còn từ năm Minh Mệnh thứ 10 thì theo nghị mà bỏ bớt ghi thêm. Từ năm thứ 11 về sau, có người đến tuổi vào sổ đinh, đều cho con theo quê cha, bất tất rút về quê ông. Đến như lính mộ, những dân biệt tính biệt nạp cũng đều theo lệ này”.


    Vua y theo lời tâu.


    Sai bộ Binh truyền chỉ cho các cơ vệ tượng quân ở trong và ngoài, từ nay hằng năm đến đầu xuân, các viên sở quản đều phải đo lại thân voi, ngà voi, kê thành sách báo lên bộ, để phòng tra xét.


    Định lại lệ cấp tiền và vải cho những tù phạm sung làm nô. (Ngày phát vãng người 15 tuổi trở lên cấp cho một tấm vải 2 quan tiền, người 14 tuổi trở xuống cấp cho nửa tấm vải 2 quan tiền, đến phối sở 15 tuổi trở lên cho 1 quan tiền, 14 tuổi trở xuống cho 5 tiền. Khẩu lương thì theo lệ cũ mà phát).


    Vua dụ bộ Hộ rằng : “Các hạt Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Hoà, Bình Thuận, đất cấy lúa không bằng Gia Định, nhân dân ăn nhờ vào gạo miền Nam. Tự trước đến nay cứ đến lúc giáp hạt hoặc lúc lụt hạn tầm thường, thuyền Nam chưa tiện gió thì bọn nhà giàu đánh cao giá để được lợi nhiều, nên giá gạo ngày càng cao. Nếu không chuyên chở chỗ có đến chỗ không, thì nông dân Gia Định đã bị cái nạn thóc rẻ, mà nhà giàu các nơi lại được đầu cơ kiếm lợi, nhân dân lại càng thiếu hụt. Tự nay, phàm hạt nào bị gạo đắt, như gặp mùa xuân mùa hạ thuyền Nam tiện gió thì cho tư ngay cho thành Gia Định thông sức cho các nhà buôn trong hạt, sắm cho nhiều thuyền chở gạo đến bán, để chỗ thiếu gạo khỏi phải đói kém mà lợi cho sự sinh lý của nhà buôn”.


    Lấy Cai đội vệ Thành võ là Tô Văn Trực làm Phó vệ uý vệ Hữu bảo nhất, vẫn đeo ấn hàm Kỵ đô uý.


    Sai các quan hiệu chính luật lệ.


    Trước đây bộ Hình tâu rằng : “Năm đầu Gia Long soạn định luật lệ, đã được ban hành. Nhưng lúc mới lập pháp sự biến thông châm chước, hoặc có chỗ chưa chu đáo. Xin nêu một phen đính chính, để rõ phép tốt của đời thái bình”. Vua cho là phải. Dụ rằng : “Hình là đồ dùng để giúp việc chính trị, mà luật là sách để xử hình, trong đó cân nhắc nảy mực, có chỗ chiết trung, quan hệ đến phép nước rất lớn. Đức hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta lúc mới đại định, lấy khoan nhân thay tàn ngược, mà việc hình lại càng lưu ý hơn. Khoảng năm Gia Long, đã sắc cho hữu ty biên soạn luật lệ để ban hành, thực là sự chế tác của thần thánh đặt sự giáo hoá ở trong việc hình, khiến quan dùng mà xét đoán, dân biết mà không phạm, để đón lấy cái Phước trung chính. Nhưng thừa biện lúc bấy giờ là Nguyễn Văn Thành không biết thể tất ý tốt thương xót của vua chỉ theo ý riêng của mình, lại viện dẫn lũ bọn Vũ Trinh, Trần Hựu cùng nhau phụ hội, cho nên trong chỗ nhân cũ hay đổi mới, thêm vào hay bớt đi, còn chưa đúng với công luận. Lại đem họ tên mình nêu lên đầu quyển càng là càn bậy. Sau khi bọn ấy bị tội, đã sai xoá bỏ tên họ trong quyển luật. Hiện nay sách luật lệ cũng nên hiệu chính lại, để cho quan lại xét hình có chỗ noi theo. Duy sự xét định hình pháp rất quan hệ đến chính trị lớn của triều đình, trong ấy châm trước thêm bớt cần phải rộng lấy lời bàn của công chúng, cho hợp thời nghi, rồi mới có thể lập thành phép tắc để lại cho đời sau. Vậy hạ lệnh cho đình thần đem các điều hình luật, hết lòng bàn bạc, nên làm bắt chước đời trước, thi hành đời nay như thế nào cho được tốt. Cùng là mở quán họp làm, chia đặt các chức tổng tài, toản tu trở xuống để phụng hành hiệu chính, đều bàn kỹ cả mà tâu lên”.


    Đình thần tâu rằng : “Danh loại trong luật có nhiều, kể tuần kể ngày không thể làm xong được. Tất phải có người chuyên trách, để họp chúng kiến mà thành. Chức tổng tài và phó tổng tài thì tự nhà vua đặc biệt kén chọn ; chức toản tu trở xuống thì xin lấy quan viên trong ngoài ai làm được việc thì sung bổ. (Toản tu 6 người dùng quan tam phẩm, biên tu 11 người, dùng quan tứ ngũ lục phẩm, khảo hiệu, hiệu san 10 người dùng quan thất bát cửu phẩm, đằng lục 24 người dùng vị nhập lưu thư lại ở lục bộ cùng những thư thủ ở Kinh và các hạt. Thu chưởng thì dùng bọn thu chưởng ở Sử quán). Lấy Quốc sử quán làm chỗ hội làm. Lại đem sách luật cũ chước nghị cho kỹ, so với điển cố nên thêm bớt, tham đính so sánh, điều khoản rõ ràng, làm xong thì hội đồng duyệt lại cho kỹ, rồi mới tiến trình”. Vua theo lời tâu.


    Đến bấy giờ sai Thượng thư Hình bộ là Hoàng Kim Xán sung tổng tài, Hữu tham tri Binh bộ là Nguyễn Đăng Tuân sung Phó tổng tài, Tả thị lang Hộ bộ là Hoàng Quýnh, Hữu thị lang Lại bộ là Phan Bá Đạt, Hữu thị lang Lễ bộ là Nguyễn Tú, thự Hữu thị lang là Nguyễn Danh Giáp, Hiệp trấn Hưng Hoá là Đào Đức Lung, thự Hiệp trấn Quảng Ngãi là Trần Danh Bưu đều sung Toản tu, bọn Lang trung Hộ bộ là Lê Nguyên Trung, Tham hiệp Quảng Yên là Trương Hảo Hợp cộng 12 người sung Biên tu. Tự tổng tài đến thu chưởng đều cấp lương tháng (Tổng tài lương tháng 10 quan tiền, toản tu 7 quan, biên tu 5 quan, khảo hiệu, hiệu san, đằng lục, thu chưởng đều 3 quan). Sau đổi phái Thượng thư Hộ bộ là Lương Tiến Tường sung Phó tổng tài, thự Hữu tham tri Binh bộ là Bùi Phổ sung Toản tu, Nguyễn Đăng Tuân Hoàng Quýnh về bộ làm việc.


    Quản phủ Thiên Phước ((1) Thiên Phước : nay là Đa Phước (Hà Nội).) (Bắc Ninh) là Nguyễn Văn Trung đem lính đi bắt giặc, cướp bóc của dân. Sợ việc phát giác, nói với Tri phủ Dương Thế Thịnh bảo bọn phạm bị bắt xưng người dân trong phủ làm đồng đảng. Thịnh không nghe, Trung vu cáo cho Thịnh tha người có tội buộc người không tội. Phó tổng trấn Phan Văn Thuý tin, tâu xin cách chức xét hỏi. Thịnh sai người vào kêu tại Kinh. Vua sai Lang trung Lại bộ là Nguyễn Đăng Ngạn đi hội với hai tào Binh bộ tra xét. Trung phải thú nhận, bèn giết đi. Phục chức cho Thịnh. Thuý phải giáng 2 cấp.


    Xây đắp đài An Hải ở Quảng Nam (đối ngạn với đài Điện Hải). Sai Phó đô thống chế Trung dinh quân Thần sách là Đoàn Văn Trường đem biền binh Bắc Thành, Thanh Nghệ đương thao diễn ở Kinh hơn 3.000 người đi làm việc ấy. Thưởng trước cho một tháng tiền lương.




    Vua lại thấy gần đến tiết hè nóng nực, phái y sinh Thái y viện đến công sở, người ốm thì điều trị, người chết thì cho thêm một tấm vải.


    Sai Hữu thị lang Công bộ là Lê Vạn Công lĩnh việc Nội vụ phủ, thự Tả tham tri Hình bộ là Trương Minh Giảng về bộ làm việc.


    Tổng trấn Gia Định là Lê Văn Duyệt tâu rằng 3 vệ Tả bảo nhất, Tả bảo nhị và Minh nghĩa làm 5 đội Tả sai trong bộ thuộc của mình đều là lính biệt hạt đến thú đã lâu năm, ngày nay bốn cõi bình yên, việc thành cũng ít, xin theo số hiện tại chia làm hai ban, cứ 6 tháng đổi một lần, để cho binh lính nhờ được nghỉ ngơi.


    Vua y cho.


    Lấy nguyên Tả thị lang Hộ bộ lĩnh Hộ tào Bắc Thành là Ngô Phước Hội làm thự Hữu tham tri Hộ bộ, thự Hữu thị lang Hình bộ là Nguyễn Danh Giáp đổi làm thự Hữu thị lang bộ Hộ, Hữu thị lang Hộ bộ là Hoàng Công Tài cải bổ làm Tả thị lang Binh bộ.


    Vua nghĩ đến bản in sách nhà nước chứa ở Quốc tử giám, muốn gia ơn cho học trò, sai Tế tửu, Tư nghiệp sức các sinh viên ở nhà Giám xét kỹ lại xem có chữ nào bị sứt mất thì chải chuốt viết lại, đưa sang Vũ khố cho thợ khắc lại.


    Ngày Tân sửu, tiết Thanh minh. Vua rước Từ giá đến lăng Thiên Thụ. Những biền binh đi theo hầu nhiều người rộn ràng, không được chỉnh tề, mà Thuỷ quân càng tệ lắm. Vua dụ bộ Binh rằng : “Từ trước đến nay, khi xe ngự giá ra ngoài hiệu cờ hành dinh thế nào thì đã ban hành, thế mà các quản quân nhân tuần lười biếng không chịu đôn đốc, đến nỗi lúc ra đi thì rộn ràng lộn xộn. Nay cho lại thông dụ rằng về sau phàm gặp lúc xa giá ra ngoài, những quan binh thuỷ bộ theo hầu, đi đứng đều tuân theo hiệu lệnh. Nếu có chậm trễ sai lầm, thì đem kẻ phạm tội trừng trị nặng, mà các viên quản suất lớn nhỏ đều phải nghiêm nghị”.


    Truy phong Cai đội Nguyễn Ngọc Huyên làm An Ninh bá, lập đền thờ.


    Vua dụ bộ Lễ rằng : “Trong lúc giặc Tây Sơn làm phản bạo ngược đầy trời, phạm đến lăng tẩm, thì có người xã Cư Chính là Nguyễn Ngọc Huyên, mắt trông lòng xót đem lòng nghĩa phẫn trân trọng, giấu cất. Đến lúc Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta lấy được Kinh sư, Ngọc Huyên đem việc thực tâu lên. Hoàng khảo được thoả lòng hiếu vô cùng, xây dựng lại lăng Cơ Thánh cũng đã yên chốn bảo trạch rồi ((1) Bảo trạch : mả gọi là âm trạch, mả vua gọi là Bảo trạch.). Nay nhân tiết Thanh minh đến yết lăng, thấy tùng bách rườm rà, nghĩ lại chuyện cũ, biết bao đau lòng gạt nước mắt, thì công của Ngọc Huyên thực không phải nhỏ, nhà nước nên báo đền ưu hậu. Năm đầu Gia Long, tuy đã được thưởng cai đội và con cũng được thưởng thứ đội trưởng, đến cháu là Ngọc Đạt, Trẫm cũng thưởng cho chức đội trưởng, tưởng còn chưa thoả được lòng nghĩa cử. Vậy nên gia ân truy phong Ngọc Huyên làm An Ninh bá, thăng thụ Ngọc Đạt làm Hiệu uý vệ Cẩm y, về sau cháu chắt tập ấm làm Thiên hộ vệ Cẩm y, đời đời không mất”.


    Lại sai hữu ty chọn đất dựng đền thờ ở bên cạnh thần từ núi Hưng Nghiệp để thờ An Ninh bá, mùa xuân mùa thu, tiết Thanh minh, tiết tháng Chạp dùng bò để tế. Rồi lại truy thụ Ngọc Huyên làm Vệ uý vệ Hộ lăng hàm Tòng tam phẩm ; Ngọc Đạt vẫn giữ lăng Cơ Thánh, được miễn không phải theo ban lên trực.


    Lấy Tham hiệp Phiên An là Nguyễn Công Thiện làm thự Hiệp trấn Hưng Hoá.


    Sứ bộ đi nướcThanh là Nguyễn Trọng Vũ, Nguyễn Đình Tân, Đặng Văn Khải đều bị cách chức. Trước bọn Vũ vâng mệnh đi sứ. Khi sắp đi, vua dụ rằng : “Ngày đến Yên Kinh nên nói với Lễ bộ nước Thanh rằng nước ta vốn ít nhân sâm, xin cứ chiếu lệ các vật hạng thưởng cấp thì chiết giá mà cấp thay cho bằng nhân sâm Quan Đông, cũng là mua các thứ ngọc thương bích, hoàng tông, hoàng khuê, thanh khuê, khi về phải đi gấp để kịp ngày tế Giao”. Bọn Vũ đến Yên Kinh, nói với bộ Lễ lại nói là : vì sự hiếu dưỡng cần phải dùng nhân sâm, làm hại quốc thể, còn những đồ ngọc mua về đều là đồ pha lê cả, mà khi về lại chậm không kịp việc.


    Vua quở trách dữ, rồi giao cho bộ bàn, bèn bị cách chức. Vũ trước đây ở Sơn Tây lại can về án vỡ đê bị trượng đồ, bộ Hình bàn nên theo luật nặng kết án. Đặc cách đổi làm cách chức đuổi về.


    Vua thấy các sở lâu bằng rất nhiều, sai Thống chế Vũ lâm là Nguyễn Văn Trọng hiệp đồng với Tống Phước Lương, Hoàng Kim Xán coi làm, Thị lang Nội các là Trương Đăng Quế giúp việc. Làm xong, thưởng gấm đoạn và tiền lương cho từ đổng lý đến binh lính theo thứ bậc.


    Phủ thần Thừa Thiên tâu rằng kỳ mục ba huyện thuộc phủ hạt đều xin đến ngày khánh tiết tề tập ở phía nam Kinh thành đặt hương án, còn các đường phố thì đều theo sở tại mà trần thiết để chúc thọ. Vua khen lòng thành. Hạ lệnh cho làm hai cái thể bằng ở trước sân thể lâu để tới kỳ thì đến chiêm bái ; còn ở các đường phố thì chỉ theo lệ treo đèn không phải đặt hương án.


    Bộ Lễ bàn định nghi chú tiết đại khánh. Xin lấy trước ngày đại khánh 10 ngày (ngày 13 tháng 4) làm ngày bắt đầu khánh tiết, tự ngày ấy đến ngày chính lễ, cứ ngày lẻ các quan văn võ mặc triều phục vào hầu, ngày chẵn thì mặc áo đẹp làm việc ở công sở. Các hoàng tử thì mỗi ngày buổi sáng sớm cắt lượt nhau mặc triều phục đến tả vu điện Cần Chính chờ gọi vào nội thăm sức khoẻ và hầu cơm. Lại từ ngày ấy đến sau ngày đại khánh 4 ngày, cộng 15 ngày, cấm xét xử việc hình. Trước đại khánh 3 ngày và sau ngày chính 1 ngày cấm chợ búa không được sát sinh. Ngày đại khánh ngự điện Thái Hoà nhận lễ mừng, tấu 7 khúc nhạc (khi rước vua lên ngự ngai vàng thì tấu khúc Nguyên thọ, khi các quan vào lạy thì tấu khúc Trinh thọ ; đọc ân chiếu xong làm lễ tạ thì tấu khúc Vĩnh thọ ; các quan làm lễ khánh hạ dâng biểu mừng đọc xong thì tấu khúc Gia thọ ; các quan thành trấn dâng biểu mừng làm lễ tạ ân thì tấu khúc Hy thọ ; cống man các nước dâng biểu mừng làm lễ tạ ân thì tấu khúc Hiển thọ ; lễ xong thì tấu khúc Tuy thọ). Cho yến ở điện Cần Chính thì tấu 5 khúc nhạc (khi vua ngự ngai vàng, nhạc vũ sinh đều mặc mũ áo múa võ để múa khiên búa, thì tấu khúc Cảnh Phước, làm lễ dâng thọ, lần thứ nhất, nhạc vũ sinh mặc áo hoa múa cành hoa xanh, tấu khúc Hoằng Phước, lần thứ hai nhạc vũ sinh múa cành hoa đỏ, tấu khúc Thuần Phước, lần thứ ba, nhạc vũ sinh múa cành hoa vàng, tấu khúc Sùng Phước ; lễ xong tấu khúc Diễn Phước).


    Vua y lời bàn.


    Bộ Binh tâu rằng : “Lệ cũ, tiết Vạn thọ, ở trước nam đài chỉ bắn 9 tiếng súng mừng, ở ngoài không có lệ bắn súng. Duy năm nay gặp tiết tứ tuần chính thọ đại khánh của Hoàng thượng, điển lễ long trọng, nếu bắn súng mừng chỉ theo lệ thường thì không đủ để tỏ là lễ lớn. Vả lại việc bắn súng mừng, tuy sách xưa chưa có bằng chứng mà nhà vua gặp lúc vui mừng, bắn súng để phát động khí vui, cũng là việc hay ở trong lúc vui mừng. Xin đến ngày khánh tiết, ở Kinh bắn súng mừng 5 lần 9 là 45 tiếng. Bởi vì 5 là tôn vị mà 9 là dương số không thay đổi được, cho nên cửu trù của Hồng phạm ((1) Hồng phạm : một thiên trong Kinh thư.) tóm ở số 5 mà thành ở số 9, cái số 5 lần 9 lấy nghĩa ở đấy. Ngày ấy, trước mặt kinh thành, 5 đài Nam chính, Nam thắng, Nam xương, Nam hưng, Nam hanh, đợi điện Thái Hoà làm lễ khánh hạ xong thì đều bắn 9 tiếng súng mừng. Đài Trấn Hải cũng đặt án bái vọng nghe tiếng súng ở Kinh thành xong, thì bắn tiếp 9 tiếng súng mừng. Các địa phương thì sau khi lễ khánh hạ ở Hành cung thành trấn xong, cũng bắn 9 tiếng súng mừng. Các thành phủ huyện, và thành Vinh Ninh, đồn Châu Đốc, các pháo đài Điện Hải, An Hải, Tĩnh Hải, Biện Sơn cũng đều đặt án bái vọng và bắn 7 tiếng súng mừng. Như thế thì tiếng chúc mừng thọ hang núi đều vang, từ trong đến ngoài, đều nhờ thế mà phát động cả khoảng trời đất.


    Lại Kinh sư là bộ mặt tốt đẹp, so với các nơi là tôn trọng nhất, điển lễ cũng nên long trọng hơn. Năm nay tiết Tứ tuần đại khánh, súng mừng đã dùng 5 lần 9, từ sau cứ 10 năm làm một tiết, tiết Ngũ tuần đại khánh xin dùng 6 lần 9 là 54 tiếng, Lục tuần đại khánh xin dùng 7 lần 9 là 63 tiếng, Thất tuần đại khánh xin dùng 8 lần 9 là 72 tiếng, Bát tuần đại khánh xin dùng 9 lần 9 là 81 tiếng, Cửu tuần đại khánh cùng tiết Kỳ di 100 tuổi, cho đến nghìn muôn năm vô cùng, đều dùng 100 tiếng để tỏ lệ thường. Đến như các thành trấn cùng phủ huyện đồn bảo thì đều lấy lệ khánh tiết năm nay làm chuẩn, không cần gia thêm”.


    Vua theo lời tâu.


    Đổi dựng đền thờ nguyên phi là Hồ thị (tức là Nhân hoàng hậu) và tu nghi là Phạm thị (đều thờ ở ấp Xuân Gia ngoài kinh thành).


    Dựng nhà Quảng Thiện (ở phường Trung Thuận trong Kinh thành, bên hữu nhà ấy làm một kho nhỏ, để chứa lương hằng năm của các Hoàng tử). Sửa chùa Thiên Mụ.


    Sai Quảng Bình trích các đội của vệ Tuần thành thuộc trấn lấy một suất đội và 50 lính, sung việc coi giữ trấn thương, cứ đến khoá thanh tra thì theo thứ tự mà thay đổi. Còn thương binh cũ thì đồn bổ làm đội thứ tư của trấn binh.


    Định lệ thuế người Thanh ở Quảng Bình. (Theo lệ người Thanh mới phụ ở Gia Định mỗi người mỗi năm nộp 6 quan 5 tiền).


    Sai Thống chế Tả dực Võ lâm là Nguyễn Văn Trọng kiêm quản Thương bạc, Phó đô thống chế Trung dinh quân Thần sách là Đoàn Văn Trường kiêm quản Tào chính.


    Tướng giặc Sơn Nam là Thái Bá Nẫm tụ đảng cướp bóc ở huyện hạt Chương Đức, Trấn thủ là Hồ Bôi thân đem quân và voi đi bắt không được. Tri huyện là Nguyên Bật Lượng đuổi theo, bị đánh bị thương. Giặc chạy đến huyện Mỹ Lương (thuộc tỉnh Sơn Tây), Tri huyện là Vũ Quyền đem lại dân trong huyện đón đường bắt, chém được Bá Nẫm, bắt được đảng giặc 8 tên. Quan Bắc Thành đem việc tâu lên. Vua ngợi khen. Dụ cho đưa Vũ Quyền đến bộ để dẫn vào yết kiến, đợi chỉ chọn dùng. Thưởng tiền bạc cho những lại dân đi bắt giặc theo thứ bậc. Nguyễn Bật Lượng vì đã đuổi theo giặc được thưởng kỷ lục một thứ. Hồ Bôi bị cách lưu.


    Cho những thư lại thực thụ ở các dinh vệ cơ, các quân ở Kinh và ở ngoài từ nay về sau, đều chiếu phẩm mà chi lương.


    Kiến An công là Đài có đứa ở trốn đến làm con hát ở nhà Thống chế Kinh tượng là Phạm Văn Điển. Công sai bọn hầu chè là Lê Đình Nhượng đến bắt. Điển cùng con là Thân đánh bị thương. Việc ấy đến tai vua, giao cho bộ bàn xử. Bộ thần xét ra bọn Đình Nhượng đều là dân lậu sổ, nghĩ xử Điển vì chứa nuôi người trốn. Không có sổ giáng 3 cấp đổi đi, con là Thân đánh 80 trượng, trưởng sử ở công phủ là Phan Đình Thuỵ phạt lương 3 tháng. Vua dụ rằng : “Phạm Văn Điển thân làm đình thần không biết giữ gìn cẩn thận, mà lại dung nạp kẻ vô lại, chứa nuôi người trốn, thực là tự ý làm bậy, bộ nghĩ giáng điệu, tội cũng đáng rồi, nhưng nghĩ lại vì nghe lời con là Phạm Văn Thân, Thân đã bị đánh trượng đã đáng tội rồi. Điển đổi làm giáng 3 cấp lưu. Không cần xét nữa. Kiến An công Đài nuôi đứa lậu đinh, cũng là không phải, tạm truyền quở trách. Vả lũ tiểu nhân mang lòng không tốt, tất đến rủ nhau làm bậy, phải nên phòng trước. Vậy thông sức cho các hoàng tử tước công cùng trưởng công chúa, từ nay về sau, dưới cửa phủ đệ không được dung chứa người không sổ. Nếu đã qua lần nghiêm dụ này mà còn chứa nuôi những đứa hèn mọn để cho nó ra ngoài sinh sự và gây việc hiềm thù thì tất giao Tôn Nhân phủ hội đồng với bộ Hình nghị xử. Trưởng sử và phò mã các phủ cũng phải nghiêm xử”.


    Đặt hộ trầm hương ở Phú Yên, sai mộ dân ngoại tịch sung vào (Lấy 30 người làm định ngạch, mỗi người hằng năm nộp thuế 1 cân trầm hương). Phàm lấy được kỳ nam phải đem nộp hết vào quan, tính trừ vào thuế. Ai giấu hay bớt thì có tội.


    Đặt thêm bậc cung phụng ở Hàn lâm viện, trật Tòng cửu phẩm.


    Cửa biển An Dụ ở Bình Định có đền Tứ Dương có tiếng linh thiêng, gặp kỳ vận tải cửa biển bị cát bồi, rồi lại thông, thuyền vận tải qua được. Tỉnh thần cho là có thần phù hộ, xin sửa lễ tam sinh để tạ. Vua y cho. Hạ lệnh hằng năm quan thuyền vận tải đi qua chỗ ấy mà toàn bang thanh thoả, thì chiếu lệ ấy mà làm.


    Cho các tôn sinh viên tử học ở Giám mỗi người một bộ Tứ thư cùng giấy bút mực để giúp việc học.


    Mùa hạ, tháng 4 ngày mồng một, lễ Hạ hưởng.


    Ban yến cho các thân công, trưởng công chúa, hoàng tử, hoàng tôn trai gái, và công tử công nữ ở Nội đình, thưởng cho theo thứ bậc. (Thân công mỗi người sa màu 3 tấm, nhiễu hoa 1 tấm, trưởng công chúa mỗi người sa vân màu 3 tấm, hoàng tử công sa màu 3 tấm, nhiễu hoa 1 tấm, hoàng tôn công tử sa màu 2 tấm, trừu hoa đỏ 1 tấm, hoàng nữ tôn, công nữ, trừu màu 2 tấm).


    Chơi bè ở hồ sau, triệu các hoàng tử trước công cùng các quan văn võ tam phẩm trở lên vào chầu, ban cho các thứ quạt bạch đàn, kính mắt thuỷ tinh, hào bao gấm.


    Sơn Nam mưa đá.


    Quảng Ngãi có dịch.


    Khai mỏ đồng Thạch Bi trấn Hưng Hoá (mỗi năm thu thuế đồng 400 cân).


    Sai hơn 90 biền binh ở các vệ Kinh tượng cùng các cơ Nam tượng Bình tượng đi đến Gia Định thay phiên thứ.


    Cho các thân công hoàng tử mộ lập thuộc binh.


    Vua dụ rằng : “Trước đã có chỉ sức khắp cho các công hoàng tử không được dung chứa những người không có sổ. Đó là ngăn ngừa từ khi chớm nở, lập pháp thực là chu đáo. Nhưng nay nghĩ dưới cửa các phủ không thể không có tôi đòi để sai khiến. Vậy gia ơn cho các công hoàng tử mộ dân ngoại tịch đặt làm thuộc binh, mỗi phủ 1 đội, hạn 50 người, biên rõ thành sổ ngạch. Các ngươi nên tâu theo lời dạy, nếu dám cố ý trái lời nghiêm dụ mà dung nuôi những đồ vô lại ở ngoài lệ đến nỗi sinh việc, thì tất phải nghiêm trị không tha”.


    ấm thụ cho Ngô Văn Khánh làm Phó thiên hộ vệ Cẩm y, trật Tòng thất phẩm, cho chiếu phẩm chi lương theo ban lên trực. Khánh là con Vệ uý tặng Chưởng cơ Ngô Văn Thành. Thành năm trước đánh giặc chết trận ở sông Cổ Trai, Hải Dương, đến bây giờ vua nghĩ đến cho nên dùng con.


    Phát bạc ở kho Kinh, chở đến Quảng Bình 1.000 lạng, đến Thanh Hoa 1.000 lạng.


    Triệu Chưởng cơ lĩnh vệ Hổ oai tiền theo thú ở Bắc Thành là Phạm Văn Tín về Kinh.


    Dồn hai đội Tòng hầu, Bả lệnh thuộc thành Gia Định làm đội Gia bình.


    Quan Đê chính Bắc Thành là bọn Lê Đại Cương, Nguyễn Văn Khoa tâu rằng năm nay nước sông lên sớm, tự tháng 2 đến nay (tháng 4) lên xuống đã 3 lần. Nay cây đo nước ở bờ sông so với mức nước đầu xuân cao hơn trên một thước, những đoạn đê mới đắp thêm, đều được vững vàng, liệu đến vụ nước mùa thu sẽ không lo ngại.
  • Chia sẻ trang này