0060.0005

21/12/15
0060.0005
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose:

    nhỏ âm dương 20 tấm, sa là nam đại hoa 20 tấm ; thưởng chánh phó sứ mỗi người 10 lạng bạc, sa là nam các sắc 2 tấm, lụa cao bộ 3 tấm ; thông ngôn 5 lạng bạc, sa là nam bảo lam 1 tấm, lụa cao bộ hoa cà 1 tấm, quân đi theo mỗi người 1 lạng bạc, 1 tấm vải mộc hồng. Thưởng chín châu Cam Lộ, Mường Bổng không dự, còn các châu khác đầu mục mỗi người 5 lạng bạc, đoạn gấm Tống mộc hồng xen hoa kim phượng mẫu đơn 1 cây, sa là nam đại hoa các sắc 3 tấm, lụa cao bộ 3 tấm, đầu mục đi thay mỗi người 3 lạng bạc, trừu hoa nam màu cánh kiến 1 tấm ; man thuộc mỗi người 2 lạng bạc, lụa cao bộ màu cánh kiến 1 tấm ; lính Man mỗi người 1 lạng bạc, sai nam màu cánh kiến 1 tấm. Thưởng Tuyên uý Đồng tri phủ Lạc Biên gấm Tống các sắc hoa mẫu đơn xen kim phượng 1 cây, đoạn vũ hồng 1 tấm, nhiễu trơn ngọc lam 1 tấm, trừu hoa nam các sắc 10 tấm, sa là nam đại hoa các sắc 10 tấm; bộ lạc mỗi người 6 lạng bạc đoạn ngũ ty bông đôi tròn bảo lam 1 cuốn nhỏ, trừu hoa nam màu cánh kiến 1 tấm ; thông ngôn 3 lạng bạc, sa màu cánh kiến một tấm, áo trừu trơn thuần tơ màu bả lam lót vải vàng, mổ bụng một cái ; lính Man mỗi người 2 lạng bạc, 1 tấm vải đen. Thưởng Tuyên uý Đồng tri phủ Trấn Tĩnh cũng như phủ Lạc Biên ; Thổ tri châu đoạn vũ hồng 1 tấm, nhiễu trơn ngọc lam một tấm, trừu hoa nam 10 tấm ; thổ Tri huyện, Huyện thừa, mỗi người 8 lạng bạc, đoạn cống phẩm bảo lam bông rồng đôi tròn 1 cuốn nhỏ, trừu hoa nam màu cánh kiến 1 tấm, lính Man mỗi người 2 lạng bạc, 1 tấm vải đen. Thưởng thổ Tri huyện, Huyện thừa cùng lính Man 7 huyện phủ Trấn Ninh, 4 huyện phủ Trấn Biên, 3 huyện phủ Trấn Man, 3 huyện phủ Trấn Định, cũng như phủ Trấn Tĩnh. Thưởng Man trưởng Mục Đa Hán cũng như Tuyên uý Đồng tri Trấn Biên Trấn Tĩnh ; chánh phó sứ cũng như thổ Tri huyện, thổ Huyện thừa ; bồi hành mỗi người 1 lạng bạc, 1 tấm trừu hoa nam màu cánh kiến ; lính Man mỗi người 2 lạng bạc, 1 tấm vải đen).


    Có người Minh Linh Quảng Trị là Trịnh Quang Diệu, Lê Văn Lễ, người Lệ Thuỷ Quảng Bình là Nguyễn Đình Ân quỳ ở trước lầu dâng biểu và thơ mừng. Bộ Lễ xem văn từ quê mùa, không dám tiến lên. Nhân tâu rằng : “Nay gặp khánh tiết, trong ngoài vui mừng. Bọn họ may được thấy văn vật rực rỡ, bất giác phấn khởi thốt thành bài văn, cũng là tình thực hướng mộ, không nên quở trách. Xin bảo ban mà cho về”.


    Vua cho là phải.


    Cho quan kinh văn từ Tứ phẩm võ từ Tam phẩm trở lên, xem hát tuồng ở nhà Duyệt thị.


    Thưởng tiền cho hoàng tử 8.000 quan, cho hoàng nữ 6.000 quan, cho thân công và trưởng công chúa mỗi người 4.000 quan, cho hoàng tôn tử nữ 1.000 quan, cho công tử nữ 2.000 quan, cho đàn ông đàn bà tôn thất 5.000 quan.


    Bầy tôi nhiều người hay hát tuồng ở sảnh thự làm vui. Vua nghe biết, triệu bộ Lễ là Nguyễn Khoa Minh bảo rằng : “Bọn khanh lấy thế làm chúc mừng sao ?”. Nguyễn Khoa Minh tâu : “Năm nay gặp Tứ tuần đại khánh của hoàng thượng, bọn chúng thần vui mừng khôn xiết, cho nên cùng nhau diễn tuồng một cuộc, để thoả lòng chúc hỗ”. Vua mỉm cười nói rằng : “Phận tôi con như thế cũng nên. Nhưng tự Trẫm cho là chỉ thêm tốn tiền thôi”.


    Chưởng vệ vệ Cẩm y quyền lĩnh việc phủ Trấn Ninh là Tự Quang Cự tâu rằng: “Phủ hạt có hơn 100 người dân Mường Cai, năm trước xiêu tán đến ở Nam Chưởng, vẫn chưa về.


    Vua sai bộ Lễ truyền chỉ cho sứ thần Nam Chưởng rằng sau khi về nước, nói với quốc vương, phàm dân Mường Cai xiêu giạt đều thả cho về đất cũ, không được dung chứa. Lại ghi cả vào sắc thư, khiến cho họ phải tuân theo. Lại thấy quan liêu nước ấy có biếu phẩm vật cho Nghệ An (tê giác 3 toà, trống đồng 3 cái, vải màn 6 tấm), dụ trấn thần đợi đến ngày sứ bộ về đến trấn, trả lại đủ số và khéo vỗ về yên ủi khiến họ biết nghĩa nhân thần không được ngoại giao, phép triều đình rất nghiêm.


    Lấy Tham hiệp Thái Nguyên là Vũ Phan đổi bổ Tham hiệp Lạng Sơn, Hộ tào Bắc Thành thự Lang trung là Lê Văn Lễ đổi bổ thự Tham hiệp Thái Nguyên.


    Xây lại cửa thuỷ quan Đông thành.














    Chính biên



    đệ nhị kỷ - quyển lxvi



    thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế



    Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11 [1830], mùa hạ, tháng 4 nhuận, bọn sung luật lệ Tổng tài Hoàng Kim Xán, Phó tổng tài là Lương Tiến Tường và Toản tu là Bùi Phổ, Biên tu là Lê Nguyên Trung đều tạm nghỉ việc bộ để chuyên làm việc hiệu chính luật lệ, sai thự Hữu tham tri Hộ bộ là Ngô Phước Hội, Tả thị lang Hoàng Quýnh quyền giữ ấn triện Hộ bộ, Thự tả tham tri Hình bộ là Trương Minh Giảng, thự Hữu tham tri là Nguyễn Công Trứ quyền giữ ấn triện Hình bộ, phàm việc thường thì cho được tự làm, như có việc quan yếu thì phải nói với Kim Xán và Tiến Tường rồi mới được làm. Bọn Kim Xán thấy công việc luật lệ điều khoản nhiều lắm, tâu xin cho rộng thêm kỳ hạn.


    Vua nói rằng : “Luật lệ là phép lớn để ngăn cấm của nhà nước. Nếu có điều gì chưa đúng thì lưu tệ vô cùng tất phải họp cả trí khôn của nhiều người, cân nhắc lấy bỏ cho được thoả đáng, mới có thể để mãi về sau mà không thay đổi, tuy có chậm hằng năm tháng cũng không ngại gì”. Rồi bọn Kim Xán tâu rằng các điều luật lệ trong đó có điều nên sửa gồm lại, có điều nên dời đổi đi, cũng có điều nên bỏ đi và soạn thêm vào. Vua sai đình thần duyệt tâu để thi hành.


    Hai thuyền hiệu là An Ba và Tĩnh Lãng chở của kho ở Bắc Thành, bị bão vỡ chìm ở dương phận núi Hang Dơi cửa biển Hải Vân. Sai Thượng thư Công bộ là Nguyễn Kim Bảng và Đề đốc Kinh thành là Nguyễn Văn Phượng đến đốc quân dân lặn vớt vật hạng của nhà nước. Kịp đến lúc đưa về Nội vụ thì nhiều thứ bị thấm nước nát hỏng.


    Vua dụ Nội các rằng : “Thuyền bị vỡ thì không đáng nói, còn như thuyền mắc đá đều là có hòm bao, không động đến, sao không tìm cách phơi phóng mà để ngâm đến hằng tuần mới đệ nộp, để đến nỗi lâu ngày nát hỏng. Phàm một sợi tơ, một hạt gạo đều là máu mỡ của dân. Đã bị nạn bão may mà vớt lên được, thế mà bọn ấy coi thường cho là đồ bỏ thì thực là bụng dạ làm sao ?” Giao cho bộ Hình bàn, đều phải giáng chức.


    Hai chiếc thuyền hải vận của nhà nước cũng bị gió chìm ở dương phận Nghệ An, quản vận là Chưởng cơ Nguyễn Văn Phong bị giáng làm Quản cơ, vẫn lĩnh cơ Tứ dực Thuỷ quân ở Bắc Thành. Biền binh bị chết đuối thì cấp tuất thêm mỗi người 3 quan tiền, 1 tấm vải. Tù đinh cùng vợ con xin đi theo thuyền bị chết thì cấp tuất cho mỗi người 2 quan tiền, nửa tấm vải.


    Phó tổng trấn Bắc Thành là Phan Văn Thuý tâu rằng : “Thuế khoá ở Cao Bằng trước đã cho dân nộp bằng tiền Đạo Quang, nhưng tiền ấy phần nhiều là do người nước Thanh đúc riêng, nguyên không phải là chất đồng tốt. Tiền ngày càng nhiều, vật giá càng đắt, làm thiệt hại cho dân buôn. Xin cấm không cho nộp thuế bằng tiền ấy. Còn như chợ búa dân gian thì tạm cho tiêu dùng trong năm nay, đến sang năm thì thôi. Sau này có ai dùng tiền ấy mua bán thì chiếu luật “vi chế” ((1) Vi chế : trái chế độ của nhà nước.) mà bắt tội. Lại số tiền hiện trữ ở kho trấn không nhiều, xin lượng phát cho 2 vạn quan tiền ở kho thành chở đến Cao Bằng để chi phát cho dân được thông dụng”.


    Vua y cho.


    Lại cho Thống chế Nguyễn Văn Hiếu lĩnh trấn thủ Nghệ An. Hiếu trước ở Nghệ An, vì ốm giải chức, đến bấy giờ vào chầu, vua yên ủi hỏi rằng : “Khanh tuổi già, nhân ra cõi ngoài bị ốm. Nay sức lực thế nào ?”. Hiếu tâu rằng : “Bệnh thần dẫu chưa được thực khỏi, mà sức lực còn khoẻ”. Vua nói : “Khanh làm việc không có gì giỏi hơn người, nhưng làm quan liêm cần, đãi người hoà nhã thì không ai kịp. Vả khanh trước ở Sơn Nam vốn có tiếng là tuần lương, quan dân tin yêu. Kịp Trấn thủ Nghệ An bỗng có việc biên, mấy lần ra ngoài không từ khó nhọc. Những điều ấy Trẫm đã biết rõ. Nay các phủ Trấn Ninh, Trấn Tĩnh thuộc hạt Nghệ An đều mới vào bản đồ, dân man còn sợ hãi, mà Nguyễn Văn Quế làm việc mới được ít ngày, Trẫm thực không yên dạ. Khanh nên đi lần nữa, vì triều đình mà ngồi trấn, ngày nào tuổi đến bảy tám mươi, hoặc về Kinh chầu hầu hoặc về quê vui nhàn, muốn thế nào cũng được”. Hiếu cúi đầu tạ, bèn sai đến trấn ngay. Nguyễn Văn Quế thì cho theo nguyên hàm thự Thống chế Hậu dinh quân Thần sách mà lưu Kinh làm việc.


    Sai thự Lang trung Hình bộ là Nhữ Bá Sĩ, Viên ngoại lang Hộ bộ là Phạm Hà Xán đi Quảng Ngãi, tính mua đường cát. Bọn Sĩ đến nơi cùng với nha lại ở trấn thông đồng sách nhiễu, dân khổ lắm. Trấn thần biết rõ sớ trạng tâu lên. Vua dụ : “Việc đặt mua đường nguyên muốn lợi cho dân, nhân nghĩ nha lại ở trong không khí nhũng nhiễu, quan địa phương xem xét không xuể, cho nên chọn phái quan Kinh để phòng tệ ấy. Nay lại vỡ ra cái án này, thực là đáng ghét không thể không nghiêm trị để răn kẻ sau”. Lập tức sai bắt giam ở vệ Cẩm y, giao đình thần nghiêm xét. Bọn Sĩ đều phải tội giảo giam hậu.


    Triệu bọn Chưởng vệ vệ Cẩm y quyền lĩnh việc phủ Trấn Ninh là Tạ Quang Cự và gia hàm Quản cơ là Cao Khả Tuyên về Kinh.


    Trước đấy Chiêu Nội bị giết, dân man đem lòng ngờ sợ, Quang Cự nghiêm luật lệnh cấm cướp bóc, dùng nhiều cách dỗ bảo, dân man mới dần dần trở về. Có 20 người tù phạm trước bị Chiêu Nội giam, Quang Cự đều tha, bởi thế cả vùng được ninh thiếp. Việc ấy tâu lên, vua phê bảo rằng : “Xem tờ tâu rất vui mừng, Trẫm không phải lo về mặt tây nữa. Đấy là công sức của bọn ngươi. Cố gắng đi, Trẫm không phụ người tốt đâu”. Nhân bảo Binh bộ là Lê Văn Đức rằng : “Không ngờ Tạ Quang Cự lại làm việc giỏi như thế. Cái việc tha tù Trẫm vừa ý nhất. Nhớ năm trước Phan Văn Thuý kinh lược Nghệ An về đã đề cử Quang Cự ở trước mặt ta, xem ra thực là người giỏi. Thuý cũng đáng gọi là biết chọn người thờ vua. Vậy phát sa đoạn trong kho mỗi thứ 3 tấm cho con là Phan Văn Cửu, Cai đội Cẩm y, đem đến cho để khuyến khích kẻ tiến được người hiền.


    Đến nay triệu bọn Quang Cự về. Những biền binh trú phòng đều cho rút về tỉnh nghỉ ngơi. Lấy thổ Tri huyện sung bang biện là Chiêu Huống làm Phòng ngự đồng tri, thổ Huyện thừa sung Phó bang biện là Khâm Quyết làm thổ Tri huyện để cùng làm việc phủ Trấn Ninh, quyền giữ ấn phủ, phàm những tù phạm quân lưu bị phát vãng đến phủ làm binh làm nô đều giao cho quản thúc. Thưởng kỷ lục cho từ Quang Cự trở xuống Suất đột theo thứ bậc. Binh lính ốm chết đều được cấp tuất hậu.


    Truy tặng Phó vệ uý vệ Định võ là Nguyễn Văn Hoà làm Vệ uý Thần sách, cho 1 cây gấm Tống, 100 quan tiền. Hoà trước đi thú Trấn Ninh, vì lam chướng ốm chết. Vua nghe tin rất thương cho nên đặc ân tặng tuất hậu cho.


    Vệ uý Lê Hậu đi thú về cũng ốm chết. Cho 1 cây gấm Tống và 100 quan tiền.


    Bãi việc cho người Minh Hương làm phố hộ ở Kinh sư.


    Vua dụ bộ Hộ rằng : "Kinh sư là chỗ đô hội, năm trước đã cho mở chợ đặt phường ở phía tây bắc ngoài hoàng thành, và chọn lấy những người Minh Hương giàu có ở các hạt cho đem gia quyến đến ở sung làm hộ phố. Đó là muốn cho thuyền xe tấp nập, hàng hoá dồi dào, đem chỗ có đến chỗ không, vốn là vì giàu của lợi dân mà làm, lại thương cho họ chuyển đi vất vả, miễn thuế 3 năm. Nay nghe nói bọn họ quyến luyến chỗ cũ, ngại việc di cư, lại thuê người nghèo thay thế, đến nỗi thường thường có người bỏ trốn. Vậy thì bãi đi, đều đuổi về nguyên quán, đánh thuế như cũ". Rồi sai dỡ 18 sở nhà lầu ngói và 4 sở nhà bếp ở bờ sông nam - bắc Ngự hà, chọn lấy tài liệu mà sửa sang làm lại, chia cho thợ các cục trong Kinh đến ở.


    Định điều lệ cho thuỷ sư vận tải đường biển. Bộ Công tâu rằng : "Thuỷ sư và thuyền ghe quan hệ đến đại chính của nhà nước. Từ trước đến nay, vận tải được thanh thoả thì thưởng, chậm trễ nhỡ việc thì phạt đã có lệ thường. Thế mà gần đây các viên coi việc vận tải lơ là theo nhau, không thao diễn trước, đã không biết phòng bị trước việc, lại không biết xem xét mùa gió để biết lúc đi lúc đậu, mà tay lái chân sào phần nhiều là người mới lạ, đến nỗi xảy ra cái nạn mắc cạn đụng đá. Há có thể chỉ đổ cho sóng gió được sao ? Nay xin trước định điều lệ nhắc rõ huấn sắc, để ngày thường dạy bảo nhau đến lúc lâm sự không đến nỗi sơ suất, như thế các thuyền ghe vận tải đường biển mới có thể mong thanh thoả được.


    1. Phàm đến kỳ vận tải, ở Kinh thì một viên Công bộ đến miếu Nam Hải long vương, ở ngoài 2 thành thì một viên ở tào cùng một viên trấn quan của địa phương có thuyền lĩnh tải, đến cửa biển hạt ấy, đều dùng lễ tam sinh mà cầu đảo. Đến lúc cả bang thuyền thanh thoả, lại dùng lễ tam sinh làm lễ tạ.


    2. Những viên biền thuỷ quân ở kinh sư và Bắc Thành, ở Kinh do Thống chế Thuỷ quân sát hạch những người bộ hạ, nếu có người am hiểu thuỷ trình và nhiều lần phái đi đắc lực, không cứ là tướng nhỏ hay binh lính, đều được bầu cử, do Binh bộ tâu lên, lượng cho cất nhắc. Bắc Thành thì do viên quản thuỷ xét thực, chuyển trình thành thần đề tâu thay : "Nếu có người lười kém thì chỉ tên nêu ra, đợi chỉ giáng cách loại bỏ. Nếu dụng tình yêu ghét, cử hay tham không thực thì giao bộ nghị xử.


    3. Hằng năm các địa phương tiếp được nghị tập cần phái chiếc thuyền ghe do bộ gửi đến thì phải chiếu số thuyền cần phái là bao nhiêu mà sửa đóng cho chóng xong và vững chắc, xong rồi lại kiểm nghiệm kỹ càng rồi mới sức cho hạ thuỷ. Nếu sơ suất mà chậm trễ nhỡ việc thì trách vào thượng ty. Người quản điệu và người chia ngồi áp tải thuyền, tất phải chọn người giỏi và đã từng sai phái đi biển. Lại cần chọn người am hiểu đường nước cho làm tay lái chân sào. Đến như lính bộ thì chỉ được cùng ngồi mà thôi, không được dùng quan võ bộ làm quản điệu và lính bộ ngồi thuyền, để khỏi nỗi lâm sự thì rối ren, làm hỏng công việc. Lại những thuyền ở Kinh phái đi đến hai thành để chở của kho, cùng những thuyền do hai thành và Nghệ An phái chở về Kinh, thì ở Kinh do Thống chế Thuỷ quân chọn viên quản bang cùng những người chia ngồi áp tải và tay lái, đem giấy tờ có đóng ấn giao cho bộ để lưu chiếu. ở hai thành và ở Nghệ An thì viên quản bang là do quan thành trấn chọn người phái mà người chia ngồi và tay lái thì do quản bang chọn lấy, đem giấy tờ giao thành trấn lưu chiếu, rồi đều báo cho bộ biết, để sau này xét định công tội.


    4. Hằng năm bộ Hộ tư khai số mục vật hạng năm sau cần phải vận tải, phải giao đến bộ vào quãng hạ tuần tháng 9, hoặc thượng tuần tháng 10, để tiện hội đồng với Tào chính mà chước lượng số thuyền phải phái. Được chỉ rồi, thì lục tống ngay cho thuỷ quân cùng các địa phương kịp sớm chiếu biện. Lại đường thuỷ từ Bắc Thành đến Kinh xa xôi hiểm trở, xin thường năm bàn định thuyền ở Kinh phái ra thành chở quan hạng ở thành và thuyền ở thành chở hạng về Kinh đều hạn một lần. Nếu có hạng gì cần phải phái thuyền chở thêm, hoặc là sau khi chuyên chở mà tiết hậu còn sớm nên lại đi chở đường biển ở các địa phương gần thì do bộ lâm thời chước lượng tâu xin.


    5. Hằng năm đến kỳ chở thì quan thuyền, tào thuyền đến các địa phương lĩnh chở, ngày đến cửa biển, quan sở tại phải báo ngay lên rồi sớm đem các quan hạng bốc lên thuyền cho thanh thoả và sức bảo chở đi. Nếu sau khi lĩnh chở rồi mà chiều gió chưa tiện, hoặc đã ra khơi mà vì gió phải lui lại thì phải trình quan sở tại nghiệm thực tình hình làm tờ tâu đề đạt. Nếu tự tiện để chậm trễ thì viên quản bang sẽ phải chiếu luật kê trình ((1) Kê trình : chậm trễ hành trình.) nghĩ xử.


    6. Tự nay về sau, đến kỳ chở ở Kinh thì Thống chế thủy quân, ở ngoài thì thượng ty địa phương đều phải sức cho những viên quản giải, nếu đường biển gặp gió tất phải chỉnh đốn các hạng vật kiện, cho thuyền ra khơi mà chạy, không được vẫn theo trước nghĩ xoay quay bờ để cầu sống, để thuyền chìm đắm mà tự chuốc lấy tai vạ vào mình. Lại phàm cả bang thuyền thanh thoả, mà có một vài chiếc mắc cạn, vấp đá đến tan vỡ, thì phải bọn áp tải cùng tay lái đều phải giao bộ nghĩ xử nặng. Những thuyền thanh thoả xét ra quả có gặp sóng gió hiểm ác, có tình trạng buồm nghiêng cột gãy, mà vẫn bảo toàn được quan hạng thì do bộ tâu rõ, đợi chỉ ban thưởng để khuyến khích.


    7. Hằng năm việc vận tải đường biển được ổn thoả về việc sai phái tầm thường thì vẫn chiếu lệ cũ đem các viên quản bang kê danh sách đợi thưởng. Đến như các hiệu thuyền chuyên chở quan hạng số mục nhiều và nặng, thì từ nay sau khi chuyên chở thanh thoả, đem cả họ tên những người áp tải và tay lái, kê thanh danh sách để chờ vâng ân thưởng".


    Vua y lời bàn.


    Bộ Hộ tâu rằng : Thuế thiếu của các hạt, từ năm Minh Mệnh thứ 8 về trước đã được tha miễn, mà hai năm thứ 9 thứ 10 vẫn còn thiếu nhiều.


    Vua dụ : "Thuế chính cung của nhân dân, là phép nhất định xưa nay không thay đổi, mà ăn mừng gia ơn là lòng thực của vương giả nuôi giữ nhân dân. Trẫm tự lên ngôi đến nay, thường nhân đầu xuân khánh tiết và khi địa phương xảy ra tai nạn riêng, đã nhiều lần gia ân điển, chính là muốn cho nhân dân được nhờ cậy, mà đóng góp dễ dàng. Thế mà gần nay còn có nhiều người thiếu thuế, hoặc là dân ngoan ngu cố ý để chậm, hoặc là hương hào lý trưởng mưu đồ bỏ túi, cố ý không nộp để đợi được miễn, hoặc do quan lại thúc giục không chăm để cầu tiếng khen hão. Những tệ tập ấy lâu đã thành thói quen. Năm nay gặp chính thọ tứ tuần của Trẫm, ơn ban rộng, Phước hưởng đều, nhân dân các ngươi, cày ruộng làm dân, đều nên tuân theo thể lệ nếu có trưng thu thì nhất thiết các thuế lệ phải đúng hạn nộp quan. Quan sở tại cũng phải chỉ bảo đốc sức để cho nhân dân gột rửa thói tệ, chớ nên mắc vào cái tội sai trái khinh nhờn".


    Làm ba viện Đoan trang, Đoan chính, Đoan tường.


    Tổng trấn Gia Định là Lê Văn Duệt tâu xin dồn 316 người binh Giáo dưỡng, thuộc thành làm 6 đội Giáo dưỡng, mỗi đột đặt 1 Chánh đội trưởng suất đội, 1 Đội trưởng suất thập và 1 Vị nhập lưu thư lại.


    Vua y cho.


    Định hạn ra thú cho các giặc trốn ở Bắc Kỳ. Vua dụ bầy tôi rằng : "Người đời xưa đặt hình pháp là xác thực mà định tội. Lầm lỗi thì tội lớn cũng tha cố phạm thì tội nhỏ cũng xử, cho nên nhân dân ăn ở đều hợp đạo trung. Trẫm từ lên ngôi đến nay, chăm mọi việc, mà việc xử hình lại càng thận trọng lắm. Năm trước Nghệ An, Thanh Hoa trở về phía Bắc, gặp mất mùa nhiều người họp nhau làm giặc. Như những kẻ trốn tránh phạm luật thì không tha được, nhưng còn ngờ rằng trong ấy có kẻ vì đói rét, có kẻ bị hiếp dỗ, cũng có kẻ vì kẻ khác tức giận mà xưng bậy, vừa nghe dính líu đến thì liền trốn xa, không dám đối chất mà thành án trôi. Dẫu muốn quay về nghề cũ, cải quá hoàn lương nhưng không sao được. Những tình hình ấy cũng là đáng thương. Trước đã cho được đến cửa quan đầu thú, theo tình hình nặng nhẹ mà phân biệt chước giảm, đều là muốn khiến họ biết sợ mà hối cải, không đến nỗi là người bỏ ở đời này. Thế mà lại có bọn tham lại, điêu hào mượn cớ yêu sách, được vừa lòng thì cho mạo họ tên phụ vào án nhẹ, nếu không thì trăm cách đe doạ, khiến kẻ phạm không dám ra mặt. Lại có bọn lừa bịp đã dỗ cho ra thú để cầu lợi nhỏ, rồi lại bắt giải để cầu được thưởng. Có kẻ may mà đến được cửa quan thì số tiền xét án, phí tổn bắt giải đều lấy ở kẻ phạm, lấy cái thân bơ vơ không biết về đâu, lăn lóc ở trong tay kẻ điêu hoạt tham lam, không cung cứng nổi đành lại trốn đi, bèn đến ẩn nấp ở rừng rú, rồi cũng lại sa vào lưới pháp luật. Thế thì ra lấy lòng nhân từ của nhà nước xá lỗi miễn tội làm đường lối cho bọn kia mưu lợi riêng mình, thực là khả ố. Nay gặp lễ chính thọ tứ tuần của Trẫm mà gia ơn, còn nghĩ những kẻ phạm tội bỏ trốn, chưa được thấm nhuần, cũng nên gia ơn cho chúng có đường sửa mới. Vậy sai bộ Hình thông dụ rằng phàm những án giặc cướp bỏ trốn, từ tháng 3 năm nay trở về trước, như kẻ chính và thứ yếu phạm bắt giết được chính và thứ yếu phạm mà giải quan, hoặc tố cáo đúng thực thì sẽ chước lượng giảm nhẹ tội. Tòng phạm mà bắt giết được chính thứ yếu phạm hay tòng phạm, hoặc tố cáo đúng thực thì đã cho khỏi tội, lại chiếu lệ người thường mà cấp thưởng. Còn nhất thiết những kẻ phạm khác không phải là kẻ hạ thủ giết người thì đều cho về quê đầu thú vào sổ chịu sai dịch. Đều cho lấy ngày lục tống dụ này đến nơi bắt đầu, đến cuối tháng 9 thì thôi. Quan địa phương phải thể tất ý Trẫm mà trừ bỏ mối tệ. Nếu làm qua loa xong việc, để kẻ điêu hoạt vẫn được quấy rối như trước, tất phải giao bộ nghiêm nghị".


    Bắc Thành mưa lụt, nước sông lên to. Quan Đê chính tâu lên.


    Vua bảo bộ Công rằng : "Nay tiết mới đầu mùa hạ, chưa phải là kỳ nước to, mà mưa lụt đã đầy rẫy như thế. Gần đây các đoạn đê mới đê cũ, đắp cao thêm dày thêm đều đã hoàn thành, càng nên lấy câu "đắp núi còn thiếu một sọt" làm răn. Vậy dụ cho Đê chính cùng thành thần thông sức các trấn phủ huyện đều nên để ý giữ đê. Phàm những chỗ mạo hiểm xung yếu, thì phải theo gấp lời chỉ dụ chước lượng phái binh dân lấy nhiều đất khô chứa sẵn và dự trữ tre gỗ, trù bị sẵn sàng từ lúc chưa mưa, để đến lúc đắp chữa dùng đến cái gì cũng có sẵn. Đó là nhân lực có thể làm được, phải làm cho tốt. Nay nhờ Phước trời Phước thần sóng yên, đê vững, tránh được sự lo ngại thì ta cùng các ngươi cùng vui mừng vậy".


    Trấn thần Ninh Bình tâu rằng : "Trước kia trấn còn là đạo, lệ vào Thanh Hoa, công việc xếp đặt còn hơi giản đơn. Lệ định viên dịch thuộc ty chỉ 50 người. Nay đã đổi làm trấn, sự thể giống như các hạt. Xin chiếu như lệ các trấn Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Biên Hoà thêm lên 24 người nữa, đặt 2 Kinh lịch, 3 Bát phẩm thư lại, 9 Cửu phẩm thư lại, 60 Vị nhập lưu thư lại, chia làm 2 ty tả hữu để làm việc".


    Vua y cho.


    Lấy Cai đội Mạc Công Tài làm Quản thủ Hà Tiên. Rồi đổi thủ Hà Tiên làm thủ Kiên Dữ, đặt thêm 1 Hiệp thủ để giúp công việc.


    Hiệp trấn Vĩnh Thanh là Nguyễn Ngọc Trác chết. Tặng Tham tri, cho 2 cây gấm Tống và 100 quan tiền. Lấy thự Hiệp trấn Biên Hoà là Vũ Quýnh làm Hiệp trấn Vĩnh Thanh.


    Lấy Lang trung Binh bộ hiệp lý Binh tào Gia Định là Nguyễn Hữu Dự làm thự Hiệp trấn Hà Tiên, thự Lang trung Hình tào là Nguyễn Thừa Giảng làm thự Tham hiệp Phiên An.


    Lấy Lang trung Binh bộ là Nguyễn Văn Diễn làm hiệp lý Binh tào Gia Định, thự Lang trung Binh bộ là Lê Phước An làm Lang trung Hộ bộ, theo Hộ tào Bắc Thành làm việc.


    Lấy Hàn lâm Tu soạn là Lê Văn Thạc làm thự Đốc học Thái Nguyên, Kiểm thảo là Lê Duy Thanh làm thự Đốc học Quảng Yên, Chủ sự Lễ bộ là Nguyễn Danh Bích làm thự Đốc học Ninh Bình.


    Vua ngự các Hải Tĩnh niên phong, triệu các hoàng tử tước công và các quan văn võ từ tam phẩm trở lên vào chầu. Nhân ban cho các thứ : chén sọ dừa, dây đeo tơ bạc, giấy kim tiên bạch lộ và bút mực.


    Chuẩn định tự nay về sau phàm Bắc Thành mua đồng đỏ thì mỗi trăm cân trả 8 lạng bạc. Nếu lĩnh vốn công (mà sản xuất) thì mỗi 100 cân chiết trả 7 lạng 5 đồng cân bạc. Làm lệ mãi mãi.


    Cấp tiền làm nhà quân xá cho vệ Tiền bảo nhất Tiền quân mỗi gian nhà 20 quan tiền. Nhân sắc rằng sau này những kinh binh, ai tự sắm vật liệu làm quân xá thì theo lệ ấy mà cấp tiền cho.


    Đặt thêm viên dịch ở Nội vụ và Vũ khố. Nội vụ 10 kho, Vũ khố 8 kho, của trong kho rất nhiều. Năm trước bàn giảm bớt viên dịch, coi giữ không xuể. Bèn chuẩn y lời bàn của ba bộ Lại, Hộ, Công : Nội vụ hiện lưu Chủ sự và Tư vụ mỗi chức 2 người, thêm làm mỗi chức 3 người, lại hợp 10 kho làm 6 kho. (Sa lĩnh hợp với gấm, đoạn, áo diễn tuồng hợp với áo xiêm, đồ sứ hợp với đồ pha lê, dầu sáp hợp với thuốc men. Vàng, bạc và tơ lụa nam vẫn phân biệt như cũ). Mỗi kho có một người chủ thủ, nhiều việc thì lấy chủ sự, ít việc thì lấy Tư vụ sung làm ; Bát, Cửu phẩm thư lại mỗi chức 4 người, thêm làm mỗi chức 6 người ; Vị nhập lưu thư lại 30 người, thêm làm 33 người.


    Vũ khố hiện lưu Bát, Cửu phẩm thư lại mỗi chức 4 người, Vị nhập lưu thư lại 40 người, thêm lên Bát phẩm thư lại 6 người, Cửu phẩm thư lại 8 người, Vị nhập lưu thư lại 50 người.


    Rồi lại thêm cho Nội vụ Viên ngoại lang và Chủ sự mỗi chức một người ở miền biển.


    Quảng Bình và Thanh - Nghệ có giặc người Thanh đến cướp thuyền buôn. Các trấn thấn đem việc báo lên. Vua liền sai Phó vệ uý Long võ tả là Nguyễn Đức Trường, Vệ uý vệ Hữu thuỷ thuỷ quân là Nguyễn Văn Cần, Phó vệ uý là Đoàn Kim
  • Chia sẻ trang này