0060.0006

21/12/15
0060.0006
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose:

    đem binh thuyền chia nhau đi tìm bắt. Lại truyền dụ cho từ Quảng Nam trở về Nam đến Phú Yên, từ Quảng Trị trở về Bắc đến Bắc Thành, các địa phương ven biển đều đem binh thuyền theo địa hạt mà tuần phòng dò xét. Hơn một tháng không bắt được gì, hạ lệnh rút quân về hết. Các trấn thần cùng các quan võ kinh phái trấn phái đều bị giáng phạt.


    Vua bảo bộ Binh rằng : "Gần đây giặc biển quất rối phần nhiều là tự cuối xuân đến đầu thu, quãng ấy chúng dựa vào các đảo ngoài biển làm sào huyệt. Nên truyền chỉ cho các địa phương ven biển tự Quảng Bình trở về Bắc, từ nay về sau, hằng năm cứ bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 7 thì phải 2 lần lượng phái binh thuyền đến các hòn đảo mà thuyền giặc có thể đỗ được để tìm xét. Nếu thấy thuyền người Thanh dị dạng ẩn nấp, tình trạng khả nghi, thì bắt giải cho quan địa phương tra xét. Lại thông dụ cho các thành trấn chuyển sức cho lái buôn người Thanh bảo lẫn nhau phàm đến buôn bán ở các hạt phải có hàng hoá mới cho vào cửa biển, không cho nói thác là thuyền không chiêu khách để ngăn sự gian trá. Làm trái thì phải tội.


    Đài An Hải ở Quảng Nam xây xong. Đổng lý là Đoàn Văn Trường về Kinh phục mệnh. Vua bảo rằng : "Xây đắp ở bờ biển, công trình nặng lớn, biền binh chẳng nhọc lắm à ?". Trường tâu : "Đến đầu mùa hè tiết trời bắt đầu nóng, những người ứng dịch mỗi ngày cho nghỉ 5, 6 giờ cũng không đến nỗi nhọc quá". Bèn dụ thưởng cho Văn Trường cùng biền binh dịch, gia cấp và kỷ lục cùng sa đoạn bạc tiền theo thứ bậc. Đặt Thành thủ uý ở 2 đài Điện Hải và An Hải. Đổi bổ Hiệu uý Cẩm y là Nguyễn Văn Lượng làm Thành thủ uý đài Điện Hải, kiêm quản pháo đài Định Hải. Cai đội cơ Thiệu võ Trung quân là Tống Văn Nghĩa làm Thành thủ uý đài An Hải. Rồi sai trích lấy một vệ lính quê ở Quảng Nam trong 5 vệ Trực ban quân Thần sách sung làm lính thủ hộ ở hai đài, mỗi năm đổi một lượt. Lại ty hộ 1 người, cảnh tất 2 người chuyên giữ súng, đạn thuốc, 6 tháng đổi một lượt. Lại trích 2 thuyền ô và 2 thuyền sam bản ở Kinh, cho làm thuyền định ngạch của đài Điện Hải. Sắc tự nay về sau, những viên đương lượt án thủ phải cứ những nơi cần phải phòng hộ ở một dải cửa lạch bờ biển ở vụng Trà Sơn gần đài cùng những thuyền quan hải vận đi về đậu ở cửa biển Đà Nẵng, mà phân phái lính đi tuần phòng. Cùng là thuyền lớn bọc đồng, năm thường đỗ ở cửa biển thì phải cùng với biền binh trong thuyền mà trông coi giữ gìn. Nếu làm sai sót thì theo nặng nhẹ mà xử trị. Ghi làm lệ mãi mãi.


    Đổi bổ Phó vệ uý Ban trực tiền quân Thần sách vệ là Nguyễn Văn Kỳ làm Phó vệ uý vệ Tuyển phong tiền, Phó vệ úy vệ Tuyển phong tiền là Trần Văn Duy làm Phó vệ uý vệ Ban trực tiền quân Thần sách.


    Thống chế Kinh tượng là Phạm Văn Điển vì ăn hối lộ mưu lợi riêng, bị lính các vệ kiện. Hạ lệnh cách chức trước, tịch gia sản, giao bộ Hình tra nghĩ. Đến lúc án thành, bị tội đồ.


    Vua bảo Nội các rằng : "Phạm Văn Điển mình làm quan cao, không biết lo giữ mình trong sạch, vâng theo phép công, lại tham tang trái phép, lẽ ra phải trị nặng nhưng ta nghĩ Điển năm xưa đánh giặc cũng có chút khó nhọc, vậy gia ơn miễn tội đồ, phát đi hiệu lực ở đài Trấn Hải. Gia sản đáng giá hơn 8.600 quan tiền, lấy một nửa sung công còn một nửa trả lại để nuôi tuổi già.


    Bọn cai đội, chánh đội trưởng các vệ Kinh tượng can liên bị giáng điệu, bộ Binh cho rằng chăn voi cưỡi ngựa đã quen, xin cho đổi ở trong ba vệ Kinh tượng. Vua y cho.


    Sai Chưởng dinh Trần Văn Năng kiêm quản ấn triện Kinh tượng.


    Những tù giam ở trấn Sơn Nam phá ngục. Đầu là Trấn thủ Hồ Bôi, Tham hiệp Vũ Huy Quýnh đều nhân có việc ra ngoài, số lính ở trấn có ít, ngục tốt phòng bị cũng lơ là, bọn tù giam hơn 60 người, bèn cởi gông cho nhau. Chém giết viên thủ ngục, nhắm chạy về phía trước trấn thành mà chạy. Hiệp trấn là Trương Phước Cương thảng thốt đem lính đuổi bắt, chém được 27 tên, còn thì chạy thoát. Bắc Thành đem việc tâu lên. Vua dụ bộ Hình : "Cứ tình hình ấy thì bọn ấy ngầm mưu không phải một ngày, trấn thần ngày thường không để ý đến, cũng không ngăn ngừa, để cho chúng thừa cơ làm bậy, đến lúc sự đã phát ra, lại không bắt được tất cả, để cho trốn thoát, như là ở chỗ không người, lơ là đến thế thì còn làm chính trị thế nào ? Trừ Hồ Bôi trước đã bị cách lưu không bàn đến nữa, còn Vũ Huy Quýnh thì giáng 4 cấp lưu ; coi việc ngày ấy là Trương Phước Cương thì cho cách ly. Đều bắt phải tìm cách bắt bọn phạm ấy, hạn trong 3 tháng phải bắt bằng hết. Bọn Quản cơ Trần Đức Thủ, Đỗ Văn Dụng, Thành thủ uý Hoàng Văn Thái đều cách chức theo trấn hiệu lực. Phó tổng trấn Phan Văn Thuý tạm miễn nghị". Nhưng truyền chỉ cho phái gấp biền binh tìm cách tra bắt. Lại treo giải thưởng cho các địa phương ai tố cáo bắt được và ra sức bắt sống được thì mỗi tên phạm thưởng 20 lạng bạc, chém được thì mỗi thủ cấp thưởng 5 lạng bạc, ai che giấu dung chứa thì phải tội như kẻ phạm”.


    Đương lúc tù phá ngục thì Quýnh vừa về đến bến sông ngoài trấn thành, đỗ thuyền không vào thành. Biền binh trong thuyền nhiều lần xin lên bờ chặn bắt giặc. Quýnh không cho. Cương biết được sự trạng ấy mới tố cáo với thành. Thành thần bèn chỉ tên tâu lên. Vua ghét Quýnh có lòng trốn việc, hạ lệnh cách chức, giao cho thành tào tra nghĩ. Quýnh phải tội đánh 100 trượng, phát đi đạo Cam Lộ hiệu lực chuộc tội.


    Bọn tù chạy trốn đến huyện Mỹ Lương bị dân sở tại bắt được 13 tên đều đem giết cả. Thưởng cho những người dân ấy 260 lạng bạc. Cách viên Trương Phước Cương cho triệt về Kinh đợi chỉ.


    Lấy thự Hiệp trấn Tuyên Quang là Nguyễn Khắc Biểu đổi làm thự Hiệp trấn Sơn Nam.


    Sai Bắc Thành xét sửa lại ngạch thuế biệt nạp. Vua dụ bộ Hộ rằng : "Cống thổ sản là phép đời xưa. Buổi quốc sơ định làm ngạch thuế biệt nạp, cũng là theo thổ sản có thứ gì thì nộp thứ ấy, chứ không bắt nộp thứ không có. Thế mà nghe nói các hộ biệt nạp ở Bắc Thành, vốn là cùng với lý trưởng hương hào tìm cách trốn tránh binh dao, chọn những thứ gì giá rẻ trước mắt thì bảo nhau mua để nộp. Như nhà không có khung cửi mà xin nộp vải lụa và sại nam, đời đời cày cấy mà xin nộp sắt hay diêm tiêu. Cho nên ở thị trường vật giá càng ngày càng đắt, mà bọn ấy lại chấm mút vào đấy, đến nỗi thuế không có gì mà nộp, mà dân nghèo phải xiêu tán. Há chẳng phải vì danh với thực không đúng mà đến thế ư ? Tệ ấy cần phải sửa chữa. Vậy hạ lệnh cho thành trấn Phan Văn Thuý hội đồng với tào thần sức cho các trấn xét kê xem trong hạt những sản vật biệt nạp trước, hạng nào thổ sản có thì cho nộp như cũ, hoặc nghề nghiệp có quan hệ đến việc quốc dụng mà thứ nộp không phải do nghề nghiệp làm ra thì đều cho cải chính. Nguyên không có sản vật mà nộp đậy thì tước bỏ ngạch thuế đi bắt về cùng chịu binh dao với dân huyện. Hoặc không phải là dân biệt nạp mà có thổ sản cung dụng được thì cũng cho đổi làm hạng biệt nạp".


    Đến lúc sớ tâu lên, chuẩn cho bắt về chịu binh 98 xã cải chính 41 xã, còn các xã khác thì nộp như cũ. Các xã cải chính thì sai định lại ngạch thuế mà thu. Lệ nộp thuế the tráng hạng mỗi người một năm 3 tấm, mỗi tấm dài 14 thước quan phùng ((1) Thước quan phùng : thước may của nhà nước định.) ngang 6 tấc ; thuế sa các màu mỗi người 1 tấm sa là nam trơn, 2 tấm sa lụa nam hoa lớn, đều dài 14 thước ngang 7 tấc ; thuế vải trắng, mỗi người 3 tấm, đều dài 30 thước ngang 6 tấc ; thuế phiến gang, mỗi người 200 cân ; thuế sơn sống mỗi người 5 uyển ; thuế chiếu, mỗi người 1 đôi khổ đại, 1 đôi khổ trung, 7 đôi khổ dài. Già tật thì nộp một nửa.


    Đề đốc kinh thành là Nguyễn Văn Phượng đem lính Võng thành vây bắt con bò đen, con bò chạy ra, Phượng cầm súng bắn, bắn lầm phải một người lính bị thương.


    Vua nghe biết. Dụ bộ Hình : Pháp luật nghiêm ngặt có cho bậy bạ như thế đâu! Hơn nữa, Phượng là quan võ chức to đánh gươm bắn súng vốn là nghề nghiệp của mình, nay con bò to như thế mà không bắn trúng được, lại bắn lầm phải lính. Thử nghĩ xem, quan võ bất tài như thế, còn dùng làm việc gì được. Vậy cách chức giao bộ bàn. Người lính bị thương thì bắt bảo cô" ((2) Bảo cô : theo hình luật, đánh người bị thương, trong kỳ hạn nhất định mà người bị thương chết thì xử tội nặng, trong kỳ hạn không chết thì xử tội nhẹ mà phải nuôi người bị thương cho đến khi lành, nuôi như thế gọi là bảo cô.). Đến lúc án lên, xin tuân chỉ trước bắt tội cách. Gia ân giáng bổ Thành thủ uý đài Trấn Hải, bắt bồi 10 lạng bạc cho người lính bị thương.


    Sai Vệ uý Vũ lâm lĩnh Thượng tứ viện sứ là Nguyễn Xuân Quyền lĩnh Đề đốc kinh thành kiêm quản việc phủ Thừa Thiên, Phó vệ uý vệ Phi kỵ là Vũ Văn Giải quyền lĩnh việc Thượng tứ viện.










    Chính biên



    đệ nhị kỷ - quyển lxvii



    thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế



    Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11 [1830], mùa hạ, tháng 5, chuẩn định lương hằng năm của hoàng tử hoàng nữ, từ nay về sau, chiếu lệ toàn chi bằng tiền và gạo, không được chiết cấp bằng bạc lạng như trước. (Lệ trước hoàng tử mỗi năm chi tiền 300 quan, gạo 300 phương, chiết cấp 100 lạng bạc, thực tiền 228 quan, gạo trắng 12 phương, gạo lương 60 phương ; hoàng nữ tiền 200 quan, gạo 200 phương, chiết cấp 60 lạng bạc thực tiền 148 quan, gạo trắng 12 phương, gạo lương 60 phương).


    Vua thấy mùa hạ trời nóng quá, làm một bài văn gọi là "Phép ngày nắng làm mát" đưa cho bầy tôi. Đọc đến câu "há chẳng biết trách người, chỉ biết thứ cho mình" vua dụ rằng : "Trẫm trước vì nóng nực, nằm không ngủ được, lặng nghĩ cách giải nhiệt, lâu chưa nghĩ được, nhân nghĩ đến quân dân làm việc chạy vạy ở ngoài đường, cả ngày phơi nắng, chịu sao cho được. Nghĩ đến việc ấy, tự nhiên thấy toàn thân mát mẻ. Vả lại, thường tình người ta chỉ biết đầy đủ một mình, còn người khác vui buồn thì không quan tâm đến chút nào. Thế cho nên tự quên lỗi của mình mà chỉ chăm chăm trách người. Phàm người làm vua giàu có 4 biển, nếu chỉ cầu cái thích của mình thì lo gì chả được, nhưng nghĩ đến nhân dân cùng túng và người goá bụa sống không được thoả thuê chỉ cốt thoả thích ý muốn của mình, chẳng qua chỉ làm luỵ cho mình mà làm đau đớn cho thiên hạ, nào có ích gì ! Trẫm sở dĩ suy bụng ta ra bụng người, mà không dám phóng túng, là chính vì thế đấy. Bọn ngươi nên thể ý Trẫm, phàm mình ở cảnh yên vui nên nghĩ đến người ta khó nhọc, mà biết điều vui không nên cùng cực, lòng muốn không nên phóng túng, thì có thể khiến người ta không oán mà mình được hưởng yên vui lâu dài".


    Vua dụ bộ Công rằng : "Gần đây các công việc kiến trúc, đều là việc không đừng được mà phải làm chứ không phải lấy những việc không gấp mà làm phiền sức dân. Nay đến tiết mùa hè, nóng bức tuy vốn không làm gấp, lúc làm lúc nghỉ có giờ, nhưng tình đối với đồng bào, không lúc nào không nghĩ đến. Vậy hạ lệnh cho các người giám tu chuyên biện xem xét công trình mà khiến cho khó nhọc và nghỉ ngơi đều nhau. Phàm lúc đang trưa nóng nực, thì tạm cho người ứng dịch nghỉ ngơi, khỏi đến nỗi mệt mỏi, để vừa lòng Trẫm".


    Làm thêm công tác về ty Tiết thận, sở xuất nạp của Nội vụ phủ.


    Quảng Bình, Quảng Trị lúa chiêm mất mùa, cho thóc thuế năm nay dân được nộp bằng tiền. ở Thanh Hoa gạo đắt, thóc thuế vụ hạ cũng cho dân nộp bằng tiền. Lại sai trấn thần phát thóc kho 45.000 hộc cho dân vay.


    Học trò hạt thành Gia Định có người trải tám khoá mà không đủ văn thể tứ tường, thành thần tạm kế khoá để miễn binh dao, lại tâu xin gia ân cho biên vào sổ khoá sinh.


    Vua dụ rằng : "Phép học tập đã có lệ định. Muốn cho học trò biết đủ văn nghệ tứ trường để đợi khoa thi đó là ý Trẫm lo giáo dục nhân tài. Nay thành trấn không biết đốc sức các học thần có chức trách cũng không biết lấy đó mà đào tạo nhiều học trò, đến nỗi 4 năm 8 khoá mà vẫn còn chưa đủ văn thể, như thế thì ngày thường dạy bảo không nghiêm, tập rèn không chăm, lỗi ấy quy về ai được ? Nhưng còn nghĩ hạt thành văn phong mới mở, học trò chưa có mấy người, tạm gia ân cho như lời xin. Về sau không được phá cách cầu ơn như thế nữa".


    Trấn thần Ninh Bình xin trích biền binh Hữu cơ Ninh Bình mà quê ở ở Quảng Bình trở về phía Nam, đặt làm đội pháo thủ. Lại 91 người lính kho thuộc trấn xin đặt làm 2 đội Ninh nhất, Ninh nhị.


    Vua đều y cho.


    Thành thần Gia Định tâu rằng "Đô đốc trấn Hà Tiên là Mạc Thiên Tứ lúc đầu trung hưng sang Xiêm cầu viện. Người Xiêm ngờ mà giết đi, 53 người thuộc hạ thoát nạn về được, khoảng năm Gia Long đều cho miễn dung dịch, sung làm mộ phu của Thiên Tứ. Về sau có thiếu số ấy thì quan sở tại cứ nhân tuần mộ thêm cho đủ số, như thế thực là phi lệ".


    Vua bảo bộ Binh rằng : "Mạc Thiên Tứ ở lúc mới mở mang có chút công khó nhọc ; thuộc hạ 53 người cho làm mộ phu cũng là thương bọn họ cùng chung hoạn nạn với Thiên Tứ mà thôi, chứ không phải lấy đấy làm định ngạch.


    Vậy hạ lệnh từ nay lấy 5 người làm định ngạch, ai là người ngạch cũ còn lại thì cứ để nguyên, còn những người mộ thêm đều tước ngạch về làng”.


    Tặng Quản cơ Trương Văn Minh làm Vệ uý Thần sách hàm Chánh tam phẩm. Minh trước quyền Chưởng ấn Tổng trấn Bắc Thành, có lỗi phải cách, rồi được ơn khởi phục, sau ốm chết.


    Vua bảo Nội các rằng : "Minh theo đòi lâu ngày, có chút cần lao, tuy làm quan không biết liêm cẩn giữ mình, nhiều điều trái phép. Nay nghe tin chết, thực cũng xót thương. Vậy hạ lệnh tặng cho".


    Định ngạch hái sâm cho Quảng Bình (mỗi năm lấy 15 cân làm hạn, giao cho 10 tên lính tấn Quảng Tuần đi hái, hạn 3 tháng, mỗi tháng cấp cho mỗi người 1 quan tiền, 1 phương gạo).


    Binh mã phó sứ Hộ thành binh mã ty là Đỗ Phước Thịnh làm việc lâu năm, rất được vua vừa lòng, đến bấy giờ ốm chết, vua nghe tin thương xót, tặng Binh mã sứ Hộ thành binh mã ty, thưởng thêm 100 quan tiền.


    Chuẩn định từ nay về sau, phàm gặp các khánh tiết, hai bộ Lại, Binh, cứ các quan chức văn võ hiện đương làm việc được dự yến ban thưởng thì trước 5 ngày hội đồng kê danh sách tiến lên vua xem. Sau hoặc có nhân viên nào đi việc công trở về, hết hạn nghỉ, ốm mới khỏi, tang mới mãn, án kiện vừa xong, đều không được theo như trước kê thêm danh sách tâu xin.


    Trước tết Đoan dương một ngày, sắc cho những công tác thổ mộc ở Kinh nghỉ việc 2 ngày (mồng 4 mồng 5) những công sở Nội tạo, Nội vụ, Vũ khố nghỉ việc 1 ngày (ngày mồng 5). Ghi làm lệ.


    Ban cho các hoàng tử tước công, trưởng công chúa, công tử, công nữ, mỗi người một cái áo mát bằng sa nam. Tự đấy năm nào cũng thế.


    Duyệt tuyển ở ba trấn Nghệ An, Thanh Hoa và Ninh Bình. Sai Vệ uý vệ Tiền nhị dinh Hữu dực quân là Hoàng Đăng Thận, Hữu tham tri Lại bộ là Vũ Xuân Cẩn, Vệ uý vệ Tả nhất dinh Tả dực quân Vũ lâm là Hồ Văn Khuê, Tả tham tri Lại bộ là Nguyễn Đăng Tuân, Vệ uý vệ Tiền phong hữu là Nguyễn Lương Huy, Hữu thị lang Công bộ là Đặng Chương, chia đi làm việc (4 huyện ở Ninh Bình là Phụng Hoá, An Hoá, Lạc Thổ, Kim Sơn được miễn tuyển).


    Đến lúc tổng sách dâng lên, hộ khẩu đều thắng số. Thưởng kỷ lục và tiền bổng theo thứ bậc.


    Phó tổng trấn Bắc Thành là Phan Văn Thuý lấy tuổi đã 70, viện lệ xin hưu trí. Vua không cho, dụ rằng : "Ngươi tuổi dẫu già mà sức vóc còn khoẻ. Hơn nữa, việc trách nhiệm nặng nề chuyên coi trong khi trách nhiệm chuyên giữ địa phương ấy đang cần ngươi, ngươi hãy nên cố gắng làm việc, chớ vội viện cớ tuổi già mà phụ lòng Trẫm yêu mến chú trọng".


    Bộ Hình dâng án ăn trộm. Người phạm ấy giữa ngày khánh tiết ăn trộm ở trước thể lâu. Vua ghét quá, sai cắm tên nỏ vào hai tai dắt đi dong phố cho mọi người biết. Lại đánh 100 côn hồng, xử tội trảm giam hậu.


    Người nước Thanh là bọn Phan Huy Ký đến làm môn hạ Định Viễn công Bính, mượn thuyền của công đi buôn mong được trốn thuế. Bộ Hình đem án dâng lên. Vua nói rằng : "Định Viễn công là bậc họ thân của nhà nước, đáng nên giữ mình ngay thẳng cẩn thận để giữ tiếng tốt, thế mà lại nhẹ dạ cả tin người bậy, lời xằng, cho làm môn thuộc, để nó cậy thế làm gian, cũng không phải là không có lỗi. Vậy phạt bổng thân công 6 tháng. Bọn Phan Huy Ký đều bị tội đồ.


    Quyền nhiếp châu vụ châu Chiêu Tấn thuộc Hưng Hoá là Đèo Vĩnh Điển, quyền thủ đồn Phong Thu là Đèo Chính Định bị lính huyện Kiến Thuỷ nước Thanh bắt đi. Hai động Phong Thu, Bình Lư châu Chiêu Tấn tiếp giáp với trại Mãnh Thích nước Thanh (nguyên là đất Lai Châu, Hưng Hoá, bị mất vào nước Thanh đã lâu, tự đời Lê trước bị người nước Thanh ngầm chiếm, gọi là trại Mãnh Thoa, thuộc vào huyện Kiến Thuỷ, cấp cho thổ ty họ Đèo làm Chưởng trại thu thuế bằng bạc. Đầu năm Gia Long, thổ ty là Đèo Quốc Thuyên được trao chức Phòng ngự sứ, coi làm, việc châu. Quốc Thuyên lại nhận chức Chưởng trại của nước Thanh, nộp riêng thuế hai động mỗi năm 50 lạng bạc. Quốc Thuyên chết, con là Đèo Doãn Lượng nối chức. Doãn Lượng chết, con là Doãn An còn bé trấn thần phái chi thứ họ Đèo là Đèo Vĩnh Điển quyền nhiếp việc châu, và người Lai Châu là Đèo Chính Định quyền giữ đồn Phong Thu. Đến bấy giờ Doãn An sang nước Thanh cầu làm Chưởng trại, và nói tình tệ bọn Vĩnh Điển bá chiếm, rồi cùng đảng là Đèo Doãn Kiên, Đèo Doãn Võ nhờ 300 lính nước Thanh vây bắt bọn Vĩnh Điển đưa sang huyện Kiến Thuỷ. Trấn thần đem việc báo thành để chuyển tâu. Vua sai bộ Hình bàn, cho rằng : "Giới hạn 2 bên đã định rõ ràng, nếu có người đất khác phạm pháp thì phải xét cho đích xác và phải tư giấy cho sở tại bắt để giao sang. Thế mà huyện Kiến Thuỷ, trước đã thiên bắt tận Đèo Quốc Lân đem đi, sau lại đến bắt Cầm Nhân Cẩm, nhưng Nhân Cẩm kháng cự, bắt được đảng của họ là bọn Mã Tiểu Nhị. Nay lại qua địa giới mà sinh sự. Nếu để đấy không hỏi thì bọn ấy quen thói làm bậy, nhân dân giáp cõi bị nó chèn ép. Xin sắc cho bộ Lễ đem sự trạng mấy lần huyện Kiến Thuỷ đã gây ra, tư cho Đốc phủ Vân Quý ((1) Vân Quý : Vân Nam, Quý Châu.) tra biện, khiến từ sau không được tự tiện vượt cõi làm bậy. Như thế thì quốc thể và bang giao ổn cả".


    Vua cho lời tâu là phải.


    Lại thấy lính trấn có ít, sắc cho thành thần phái 200 thú binh Thần cơ đến giữ trấn sở, lại lượng phái sáu bảy mươi người trấn binh chỉnh bị khí giới, đi hội với thổ binh theo địa giới mà tuần phòng dò xét. Sau đó người Thanh thả bọn Vĩnh Điển về, quân ta đều triệt về đội ngũ. Tư văn của Đốc phủ Vân Quý cũng đệ đến. Thành thần tâu lên.


    Vua bảo bộ Lễ rằng : "Xem tờ tư của họ bày tỏ theo tầng thứ chẳng qua là lời thể diện đó thôi. Vả lại, nhà Thanh coi việc phân xử biên phòng rất trọng cho nên không thể không miễn cưỡng dùng lời văn sức để che đậy thuộc viên mà tránh việc lại nghị ((1) Lại nghị : quan lại có lỗi, triều đình bàn xử, gọi là lại nghị.). Như nói "Huyện Kiến Thuỷ tra sức cho bọn Đèo Vĩnh Điển không được nhiễu nữa và phải cam kết xin thôi, cùng là những người nước Thanh bị bắt lần trước họ cũng không dám nói đến để đòi, như thế đủ thấy lời lẽ của họ đã yếu lắm rồi. Trẫm tưởng họ tốt thân sức cho bọn huyện thuộc nhát không dám gây hấn càn bậy, ta cũng chẳng cần biện chiết nhiều làm gì cho phí văn thư đi lại. Nên truyền dụ cho thành thần chuyển sức cho Hưng Hoá tha ngay bọn Mã Tiểu Nhị ra, đương đường hiểu bảo cho biết đại ý của triều đình có lượng khoan hồng, không cần trách móc tỷ mỉ, và thông sức cho thổ mục các châu biên giới, chỉ nên giữ gìn bờ cõi không được vượt sang địa giới của họ như Kim Tử Hà, Bắc Khuyên Bản là các cứ tiếp giáp. Lại truyền bảo cho họ Đèo rằng nếu Đèo Doãn An biết hối lỗi xin về đất cũ cũng cho đầu thú, khi nó về lập tức đưa đến thành, tâu lên đợi chỉ".


    Cho Nguyễn Văn Quế làm Thống chế Hậu dinh quân Thần sách.


    Đổi bổ Hữu thị lang Công bộ là Đặng Chương làm Tả thị lang, Lang trung Hộ bộ là Nguyễn Trung Mậu làm thự Hữu thị lang Công bộ, Hữu thị lang Lễ bộ sung biện Các vụ là Phan Thanh Giản làm Hiệp trấn Ninh Bình, thự Hữu tham tri Công bộ là Hà Quyền lui về nguyên hàm Hữu thị lang sung biện công việc Nội các, Lang trung Nội vụ phủ là Nguyễn Văn Biểu làm Lang trung Công bộ kiêm đốc công công sở Nội vụ phủ, Lang trung Công bộ Trần Công Thượng làm Lang trung Nội vụ phủ.


    Sai Thượng thư Hình bộ là Hoàng Kim Xán kiêm quản Quang lộc tự, Tả tham tri Lễ bộ là Nguyễn Đăng Tuân kiêm quản Thái thường tự, Hữu tham tri là Phan Huy Thực kiêm quản Hàn lâm viện.


    Ngày Mậu thìn, vua cày ruộng tịch điền, dụ rằng : từ nay về sau hằng năm từ lúc vua cày ruộng gieo giống đến lúc lúa chín, đường quan sai bộ phải cắt lượt nhau mỗi tháng 2 lần, mỗi lần 1 viên thân đến xem cho kỳ làm phiếu tâu lên, rồi tuỳ việc thân sức cho nông dân để ý vun bón và tát nước, lại chuyên giao cho Kinh doãn thường đi trông coi, lấy tháng 6 năm nay bắt đầu.


    Vua ra cửa biển Thuận An, lên đài Trấn Hải xem hết hình thế quay bảo thị thần rằng : "Cửa biển ở Thừa Thiên, chỉ có chỗ này cùng cửa biển Tư Dung thôi. Nhưng cửa Tư Dung trước bị cát bồi nông, Trẫm đã nhiều lần cho đào sâu xuống, mà đào rồi lại lấp không thành công được, ý giả trời muốn lấy chỗ ấy làm nơi xung yếu của đường thuỷ chăng ? Đến như cửa biển này thì vài năm nay mỗi ngày một sâu thêm, độn cát hai bên tả hữu ôm lại, cửa biển khác không thể ví được. Ví như đột nhiên có việc gấp thì pháo đài bắn ra, dẫu có thuyền ghe trăm vạn cũng không làm gì ta được. Thực là cái thành vàng hào sôi của kinh sư vậy.


    Tiết Hạ chí, Khâm thiên giám suy nghiệm độ cao của mặt trời ở kinh sư để tiến lên.


    Vua dem bản vẽ chỉ bảo cho, mới biết là sai. Dụ rằng : “Bọn ngươi chức vụ là việc xem xét khí tượng mà không có kiến thức đích xác như thế, đáng lẽ giao nghị tội, nhưng còn nghĩ trước đây suy toán phép lịch biết được giây phút nguyệt thực lại tròn và trích ra được chỗ lầm của người Thanh cũng là đáng khen, nay hãy miễn cho. Sau này phải cho tinh tường hơn, không có một chút sai lầm mới được”.


    Đặt thêm các đội thuộc thự Thanh bình.


    Vua bảo Nội các rằng : "Trẫm kính nối Phước trước, sáng mở văn trị, tựu trung hoặc soi sáng thêm, hoặc chế cái mới, như các thứ lễ nhạc nghi chương dùng ở Giao Xã Tôn Miếu, đều đã thứ tự đặt bày, duy còn một việc múa nhạc, thì số vũ sinh Thanh bình thự ở Kinh còn ít, dùng vào hàng múa không đủ. Vậy hạ lệnh cho sở quản mộ dân ngoại tịch cho đủ số 150 người, đặt làm đội một, đội hai, đội ba, thự Thanh bình. Lại sai Quảng Nam, Quảng Ngãi, Nghệ An mỗi trấn mộ 50 người. Thanh Hoa mộ 20 người cùng với ngạch ca công cũ 50 người cộng 70 người, đặt làm bốn đội bốn, năm, sáu, bảy, rồi chọn mỗi đội một người giỏi giang để quản suất. Đều được miễn thuế thân và binh dao. Cho dẫn cả đến Kinh diễn tập, sau này cứ theo kỳ đòi đến làm lễ, lễ xong cho về. Đợi sau này bộ Lễ chước nghĩ tâu xin thi hành. (Ca công ở Thanh Hoa có lệ đến Nguyên miếu làm lễ cho nên số nhiều hơn).


    Đúc súng bắn liền 4 phát mẫu tử liên châu. Vua khen tinh xảo, thưởng cho các thợ áo quần và bạc lạng theo thứ bậc.


    Đổi bổ Hữu thị lang Công bộ là Hà Quyền làm Tả thị lang Hình bộ, Tả thị lang Công bộ là Trương Đăng Quế làm Tả thị lang Lễ bộ đều vẫn sung làm công việc Nội các.


    Dùng Thượng thư Lễ bộ là Nguyễn Khoa Minh làm Thượng thư Lại bộ, vẫn quản Khâm thiên giám. Thự Thượng thư Lại bộ là Lê Đăng Doanh làm Thượng thư Binh bộ, Hữu tham tri Lễ bộ là Phan Huy Thực làm thự Thượng thư Lễ bộ, Hữu thị lang Công bộ là Lê Vạn Công làm Hữu thị lang Binh bộ quyền biện công việc Công bộ, thự Hữu tham tri Hộ bộ là Ngô Phước Hội lĩnh việc Nội vụ phủ, thự Phủ doãn Thừa Thiên Hà Duy Phiên làm Hữu thị lang Hình bộ quyền làm công việc Hộ bộ. Trao cho Trương Minh Giảng làm Tả tham tri Hình bộ, Hoàng Văn Quyền làm Hiệp trấn Bình Định, Trịnh Đường làm Lang trung Lại bộ, Trần Lê Hoàn làm Lang trung Hộ bộ.


    Triệu thự Hữu thị lang Hộ bộ lĩnh Hộ tào Bắc Thành là Nguyễn Hữu Gia về Kinh. Lấy thự Tả tham tri Binh bộ là Đặng Văn Thiêm làm Hữu tham tri Hộ bộ lĩnh Hộ tào Bắc Thành, thự Hàn lâm Thị độc học sĩ Nguyễn Văn Mưu làm Lang trung Hộ bộ hiệp lý Hộ tào, Lang trung hiệp lý Hộ tào là Trần Thiên Tải làm thự Hữu thị lang Binh bộ lĩnh Binh tào, Hữu tham tri Hình bộ là Lê Đại Cương lĩnh Hình tào và kiêm Đê chính. Gia chưa lên đường về Kinh, thì vì việc đê rất khẩn lại giữ lại quyền làm Hình tào cho Đại Cương được nghỉ việc tào mà chuyên biện Đê chính.


    Tham hiệp Vĩnh Thanh là Phạm Đình Học chết. Dùng Viên ngoại lang Binh bộ là Vũ Đức Khuê làm thự Tham hiệp Vĩnh Thanh, Hiệp trấn Vĩnh Thanh là Vũ Quýnh đổi bổ làm Hiệp trấn Biên Hoà.


    Đặt thêm chức Hiệp thủ Hải Vân quan.


    Định lại lệ thưởng tiền hồi trang cho con gái vua và con gái hoàng thái tử. (Con gái trưởng của hoàng hậu theo như cũ thưởng 5 vạn quan tiền ; con gái thứ đổi định là 4 vạn quan tiền. Con gái trưởng của vua vẫn theo cũ thưởng 3 vạn quan tiền; con gái thứ đổi định là 2 vạn quan tiền. Con gái trưởng của vợ hoàng thái tử, vẫn theo cũ thưởng 8 nghìn quan tiền ; con gái thứ đổi định là 6 nghìn quan tiền ; con gái trưởng do vợ thứ thưởng 5 nghìn quan tiền, con gái thứ 4 nghìn quan tiền).


    Bộ Hình tuân theo ân chiếu, dâng danh sách tù phạm về tội quân và lưu ở các địa phương hơn 1.160 người.


    Vua muốn lượng đất để an trí cho họ họp ở làm ăn. Sai đình thần bàn cách khu xử. Khi đình thần dâng lời bàn lên thì cho là bọn tù phạm ấy đều là tội nặng phỏng được cởi mở chưa chắc đã biết hối quá nếu để cho tụ vào một hai chỗ, thì số người đã nhiều, hoặc đến sinh việc, chẳng khỏi lại mắc vào pháp luật, sợ không phải là cái ý nhân yêu thương xót. Chẳng bằng cứ để ở chỗ phát phối trước mà dồn bổ làm binh tháng cấp tiền gạo (gạo 1 phương tiền 5 tiền). Như đồn bảo thuộc hạt có ruộng đất bỏ không cày cấy được thu giao dao cuốc nông cụ cho họ khai khẩn.


    Đợi ba năm cứ số ruộng khai khẩn được phụ biên vào sổ điền của dân sở tại, mà cho miễn thuế, lại ba năm nữa thì theo ruộng tốt xấu mà chước định lệ thuế mà thu. Lại khi đã dồn bổ làm binh rồi, ai biết hối lỗi đổi mới thì do quan địa phương xét thực tâu rõ cho bỏ chữ đi để khuyến khích kẻ khác. Nếu tên nào lại phạm vào tội ăn cướp nữa hoặc là tự tiện bỏ trốn đi, thì trừng phạt nặng. Như thế thì tội nhân
  • Chia sẻ trang này