0060.0007

21/12/15
0060.0007
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose:

    đã khỏi khổ về gông cùm, lại có cái vui làm ăn sinh sống, sẽ hoá thành lương dân cả được.

    Vua cho là phải. Thự Tham tri Hình bộ là Nguyễn Công Trứ tâu rằng : "Từ Vĩnh Thanh trở về Nam đến Hà Tiên, đất rất màu mỡ, mà những ruộng cấy lúa được chưa khai khẩn hết. Xin đem các tù phạm an tháp ở đấy". Vua nói rằng : "Ngươi mới biết được một, chưa biết được hai. Hà Tiên là chỗ biên thuỳ, tiếp giáp nước Xiêm, nếu thả cả bọn tù phạm ra đấy, quan sở tại quản thúc có chỗ không chu đáo, một khi chúng trốn đi, ở nước ta thì chúng là người có tội, đến nước khác thì chúng lại là người có công, tệ hại sẽ không nói xiết". Rồi các địa phương liền theo nghị dồn bổ làm binh, dâng sớ tâu lên. (Quảng Ngãi thì đội Quy Ngãi ; Bình Định thì 2 đội Bình Thiện ; Phú Yên thì 5 cơ đội Yên Man ; Bình Hoà thì 2 đội Hoà Thiện ; Bình Thuận thì 2 đội thuộc binh ; Phiên An thì đội An Lương ; Vĩnh Thanh thì đội Vĩnh Lương ; Định Tường thì đội Tường Mỹ, Hà Tiên thì đội Biên Lương ; Nghệ An thì phủ Trấn Ninh 3 đội Ninh Thiện, phủ Tương Dương 3 đội An Thiện, Thanh Hoa thì 2 đội Thiên Thiện, Nam Định thì đội Hướng Thiện).


    Bộ Lại tâu xin đặt thêm bộ thuộc, để chia phái viết cáo sắc phong tặng. Vua bảo rằng : "Thuộc ty đã có định ngạch, không thể làm được. Năm trước đã thiết tha dụ rõ rồi. Vả lại cáo sắc phong tặng cũng là một việc trong bộ vụ, làm gì đén nỗi làm không xuể, mà muốn thêm. Số ngạch dẫu nhiều, có ích gì đâu". Không chuẩn lời xin ấy.


    Lấy Quản cơ cơ Thái Nguyên là Dương Công Văn làm Phó vệ uý vệ Hậu bảo nhất.


    Cấp súng điểu thương cho dinh vệ các quân trong ngoài. (Hai vệ Cẩm y, súng điểu thương máy đá 400 cây, dinh Vũ lâm 2.000 cây ; ba dinh Tiên phong, Long võ, Hổ oai, 1.600 cây ; quân Thần sách Nghệ An 2.800 cây ; quân Thần sách Thanh Hoa 1.300 cây ; năm quân ở Bắc Thành súng điểu thương máy bắc 2.000 cây).


    Trong kinh kỳ ít mưa.


    Vua triệu phủ Thừa Thiên hỏi về tình trạng việc nông. Phủ thừa Bạch Xuân Nguyên tâu rằng : "Từ tháng nhuận đến nay, trời dẫu ít mưa mà chưa có gió nam ruộng chiêm chưa cày, nhà nông còn đang mong trời tạnh." Vua quay bảo Nội các Hà Quyền và Trương Đăng Quế rằng : "Gần đây khi nắng oi nóng, Trẫm ngày đêm thành tâm vì dân cầu mưa, mà nhà nông lại có chỗ cầu tạnh", thế mới biết rét lạnh nắng mưa dân còn oán thán, làm cha mẹ dân, làm thế nào cho đều thoả ý muốn của thiên hạ được".


    Hà Quyền tâu rằng : "Lớn như trời đất, người còn có chỗ oán nữa là. Bởi thế thánh nhân thường có chỗ chưa đầy đủ".


    Vua nói : "Phải. Người đời làm lụng quý báu nhất là hạt thóc. Ta thường mong tạnh cầu mưa là trọng việc làm ruộng, mà ruộng cao thì muốn mưa, ruộng thấp thì muốn tạnh, nhân tình mỗi người một khác. Một việc ấy cũng đã khó lòng thoả mãn mọi người là nhiều đến muôn việc thì sao ? Bèn sai thị vệ chia nhau đi các huyện ở Kinh, xem xét lúa ruộng để tâu lên.


    Quảng Bình và Ninh Bình cũng tâu nói ít mưa, xin theo lệ cầu đảo.


    Vua bảo bộ Lễ rằng : "Hiện nay việc nông đương bận mà nắng đến vài tuần chưa được chút mưa. Hoặc giả một vài hạt có mưa thì cũng chưa thấm thía. Nghĩ đến sự sống của dân càng thêm nóng ruột. Vậy truyền chỉ từ Quảng Bình ra Bắc đến các trấn Bắc Thành, địa phương nào ít mưa thì nên cầu đảo. Đều phải tinh khiết hết lòng thành vì dân cầu đảo để mong nhờ trời chóng được mưa to. Nếu chỉ nói là cầu đảo mà không thực lòng cầu đảo, chỉ làm nhảm nhí chẳng chút cảm thông để mãi không mưa, việc nông chưa thuận, thì há phải đợi đến lúc bị khiển trách mới là hổ thẹn với chức vụ sao ! Trẫm đã đinh ninh dạy bảo, nói không ngại hết nhiều. Bọn ngươi là quan to ở địa phương và những người có trách nhiệm với xã dân đều phải kính tuân, chớ quên". Vừa được vài ngày kinh sư mưa to, các tỉnh cũng đều tâu là được mưa.


    Vua nghe tin mưa, mừng lắm. Hạ lệnh cho các trấn Bắc Thành sát hạch các thuộc viên ở trấn và lại dịch ở phủ huyện.


    Vua dụ bộ Lại rằng : "Gạn lọc lại viên, thực là cần sát hạch rõ ràng. Năm trước đã nhiều lần dụ cho Bắc Thành sát hạch thuộc ty các tào, để chỉnh đốn lề lối làm quan mà giữ nghiêm phép tắc lại trị. Nay nghĩ lại dịch phủ huyện các trấn, người siêng năng thực ra cũng có, mà người tham nhũng tưởng cũng chẳng ít. Bọn ấy lại gần dân, dễ múa văn đùa phép, cần phải một phen chỉnh đốn, để dứt mối tệ. Vậy hạ lệnh cho thành thần Phan Văn Thuý thông sức cho các trấn sát hạch ty thuộc ở trấn, phủ huyện sát hạch thuộc lại, người nào liêm cần giữ phép, không có tình trạng tham lam bỉ ổi, thì liệt vào hạng ưu, đợi chỉ cho thăng. Người nào hơi siêng năng, chưa từng bè đảng, làm gian dối, mưu cầu lợi riêng, ăn của đút lót, thì liệt vào hạng bình cho cung chức như cũ ; người nào tuy không có sự gì tệ lậu, mà hiện đã già suy hèn yếu thì liệt vào hạng thứ bắt về hưu trí ; người nào múa văn đùa phép, đảo lộn phải trái, thì tất phải nghiêm xét trừng trị. Các trấn đều cứ thực làm thành sách chung do thành đệ lên. Đó là một việc then máy to lớn để khuyên răn vậy. Các ngươi là quan trấn và phủ huyện, phải nhất luật giữ đạo công bằng không được nể nang chút nào. Khiến cho người giỏi được nêu tỏ rõ ràng, người hèn không được cầu may thì mới xứng đáng với ý Trẫm, muốn uốn nắn gạn trong". Đến khi danh sách các hạt dâng lên, nhiều người vì yếu hèn, bắt phải về hưu.


    Phần biển Bình Thuận, Biên Hoà có 3 chiếc thuyền người nước Thanh đi lại đậu ở đó. Vua nghe tin, bảo bộ Binh rằng : "Gần đây cứ Quảng Bình và Thanh Hoa nhiều lần báo rằng giặc người Thanh trộm nổi đã phái kinh binh thuỷ sư đi bắt, và sai các hạt tìm bắt thì thuyền giặc đã trốn xa trước rồi. Nay lại có thuyền người Thanh không rõ lai lịch lảng vảng trên biển hoặc vì chúng nghe quan binh theo bắt, cho nên chúng trốn tránh đến đấy cũng chưa biết được. Vậy truyền cho các trấn Bình Hoà, Bình Thuận, Biên Hoà lập tức phái binh thuyền hoặc chia đường đón bắt, hoặc nhân đêm đánh úp, làm thế nào bắt được cả đoàn thuyền khám xét trong thuyền, có khí giới hay không, tình trạng có phải là giặc cướp hay không, cứ thực tâu lên".


    Sửa lại đài Trấn Hải (tu bổ thân đài, xây lại cửa đài xây đắp kè đá mặt trước), sai Thống chế Tả dinh Thần sách là Đỗ Quý trông coi công việc.


    Vua dụ bộ Công rằng : "Nay sửa lại đài ấy, công trình trọng đại, phí tổn cũng nhiều. Vậy nên truyền chỉ cho viên giám tu cùng bọn chuyên biện, đều phải nhận rõ mà cố sức, làm thế nào cho vật liệu chắc chắn, công trình vững bền, một lần khó nhọc, mà rỗi mãi về sau để giữ mãi được mặt bờ biển. Nếu mờ ám lương tâm làm qua loa xong việc, hoặc bớt xén giả dối để đến nỗi trong hạn ba năm, thành quách gạch đá sụt đổ gãy nát hay là phình ra khuyết vào thì tất phải giao bộ nghị xử rất nghiêm. Lại cứ chiếu tên bắt rồi, không thể mong khoan miễn thứ được".


    Định lệ treo cờ bắn súng hiệu ở hai đài Điện Hải và An Hải ở cửa biển Đà Nẵng trấn Quảng Nam (Phàm các thuyền đến cửa biển Đà Nẵng, như thuyền to hiệu Thuỵ long, Bình dương, mỗi thuyền treo cờ vàng bắn súng hiệu ba tiếng thì trên hai đài đều treo cờ vàng bắn đại bác bảy tiếng. Ngoài ra các thuyền nhỏ hiệu Thanh hải, Tuần hải, mỗi thuyền treo cờ vàng bắn súng ba tiếng thì trên hai đài cũng treo cờ vàng chỉ bắn súng hạng trung ba tiếng. Hoặc có khi 1, 2 thuyền hay 3, 4 thuyền cùng vào một lúc, tiếng súng hiệu ở các thuyền dẫu nhiều, trên hai đài cũng chỉ bắn súng hạng trung ba tiếng mà thôi).


    Vua dụ bộ Hộ rằng : "Nhà nước đúc tiền cho dân đủ tiêu dùng. Lại sợ dân ngu thấy lợi mà dễ phạm phép, cho nên có luật cấm đúc tiền trộm, phép nước rất nghiêm, là để dứt hẳn cái tệ điêu bạc. Nay lại nghe nói người nước Thanh đúc tiền ở nước ấy đem đến trộn lẫn để dùng khiến hàng hoá đắt mà tiền rẻ, có lẽ cũng do cớ ấy. Vậy hạ lệnh cho quan Bắc Thành nghiêm sức cho hạt duyên biên, phàm chỗ giáp giới nước Thanh, đường thuỷ, đường bộ, cửa ải, bến đò phải tìm cách dò thám, nếu có kẻ chở tiền kẽm từ nước Thanh đến thì bắt trị tội".


    Chế cấp cờ hiệu cho Ngũ quân ở Bắc Thành. (Trung quân mười cơ Chấn định, Tiền quân mười cơ Kính tiệp, Tả quân mười cơ Kiên nhuệ, Hữu quân mười cơ Hùng dũng, Hậu quân mười cơ Uy thắng, cấp cho mỗi cơ một lá cờ vuông, 40 lá cờ đuôi nheo. Cờ vuông làm bằng trừu nam hoa nhỏ, dài 2 thước 3 tấc 5 phân, ngang 1 thước 9 tấc, mặt cờ đính hiệu quân ; cờ đuôi nheo làm bằng lụa, dài 2 thước 1 tấc 5 phân, bề chéo dài 2 thước 6 tấc, trên ngang 1 thước 4 tấc. Mặt cờ Trung quân đều dùng sắc vàng tươi. Tiền quân đều dúng sắc đại hồng. Tả quân đều dùng sắc quan lục, Hữu quân đều dùng sắc bạch tuyết. Hậu quân đều dùng sắc lão lam. Duy đường viền răng xưa dùng sắc vàng thẫm. Các cơ Trung kính, Trung tiệp, Trung kiên, Trung nhuệ, Trung hùng, Trung dũng, Trung uy, Trung thắng dùng sắc vàng tươi, dải cờ đều nửa trên sắc vàng thẫm, nửa dưới sắc vàng nhạt. Cơ Tiền kính, Tiền tiệp, đường viền răng cửa dùng sắc đỏ thẫm, các cơ Tiền chấn, Tiền định, Tiền nhuệ, Tiền hùng, Tiền kiên, Tiền dũng, Tiền uy, Tiền thắng, dùng sắc đại hồng, dải cờ đều nửa trên sắc đỏ thẫm, nửa dưới sắc đỏ nhạt. Cơ Tả kiên, Tả chấn, Tả định, Tả kính, Tả tiệp, Tả hùng, Tả dũng, Tả uy, Tả thắng dùng sắc quan lục, dải cờ đều nửa trên sắc xanh thẫm nửa dưới sắc xanh nhạt ; cơ Hữu hùng, Hữu dũng đường viền răng cưa dùng sắc xanh da trời, dải cờ nửa trên xanh da trời, nửa dưới sắc đại hồng, lại mặt cờ chính giữa dùng thêm sắc đại hồng, cờ vuông, thì vuông 6 tấc, cờ đuôi nheo thì vuông 5 tấc ; các cơ Hữu chấn, Hữu định, Hữu kính, Hữu tiệp, Hữu kiên, Hữu nhuệ, Hữu uy, Hữu thắng, đường viền răng cưa dùng sắc tuyết trắng, dải cờ nửa trên tuyến trắng, nửa dưới xanh da trời ; cơ Hậu uy, Hậu thắng, đường viền răng cửa dùng sắc đen, dải cờ nửa trên sắc đen, nửa dưới sắc lão lam, các cơ Hậu chấn, Hậu định, Hậu kính, Hậu tiệp, Hậu kiên, Hậu nhuệ, Hậu hùng, Hậu dũng, đường viền răng cưa dùng sắc bảo lam, dải cờ nửa trên sắc bảo lam, nửa dưới sắc lão lam).


    Định lại điều lệ biền binh ứng trực các miếu và các điều răn cấm.


    1. Trong tường hoa Thái miếu thì do biền binh các dinh : cấm binh ; trong tường hoa Thế miếu do biền binh các dinh : thân binh, mỗi tháng cắt lượt nhau ứng trực. Đường ban thì có một cai đội 50 biền binh, chiếu từ trong cửa tường đến dưới thềm, dọn giẫy cỏ cát cho sạch sẽ. Phàm người tạp nhạp không được tự tiện ra vào. Hằng năm gặp ngày lễ tiết, theo lệ bày đặt lỗ bộ nghi thức. Nhà vuông ở bên tả hữu không được để đồ tạp nhạp. Ngoài tường hoa Thái miếu do biền binh các bảo, ngoài tường hoa Thế miếu do biền binh Thần sách, đều chiểu theo phần đất cắt dọn cỏ cát, và nghiêm cấm những người tạp nhạp không được đi lại trong bao lơn gỗ hai bên tả hữu. Đến như trên thềm các gác các miếu cùng tế sở bên tả bên hữu, hai giải vũ thờ các người tòng tự thì do nhân viên Tả hữu Từ tế ty ngày đêm thủ hộ quét dọn sạch sẽ.


    2. Các lễ tiết, nhà vua thân đến Thái miếu làm lễ, do cửa Hiển Thừa tường bên tả mà vào. Như đến Thế miếu thì do cửa Khái Địch tường bên tả mà vào, các cửa tường đằng sau và bên hữu đều đóng. Những người chấp sự cùng các viên hậu bái tả hữu tòng tự, có ai chậm trễ đến sau thì đều không cho vào. Bộ Lễ chọn trong quan chức bồi tự cắt người làm thay, rồi chỉ tên tham tâu để trừng trị. Lại ngày giỗ Hưng miếu, nhà vua thân đến làm lễ, do cửa Chương Khánh tường bên tả mà vào. Cửa Dục Khánh tường bên hữu thì đóng chặt. Những nhân viên tả hữu Từ tế cùng biền binh ứng trực ngày thường chỉ cho ra vào các cửa Túc Tương, Sùng Thành ở tường bên hữu. Còn các cửa khác không được tự tiện mở ra.


    3. Các lễ tiết, các hoàng tử tước công, các quan văn võ Khâm mệnh nhiếp tế cùng phân hiến, bồi tự, chấp sự, đều mặc áo đội mũ ở ngoài cửa miếu để tiện đi vào. Hoàng tử tước công được đem theo một người trưởng sử thuộc phủ, hoặc một viên cai đội. Các quan văn võ không được đem người nhà theo.


    4. Những biền binh đài đệ xôi, lợn, cỗ bàn ra vào, cấm không được huyên náo.


    5. Những biền binh đương ban ứng trực đều cấp cho mỗi người một cái bài sừng.


    Cấp thêm tiền công nhu cho các tào thành Gia Định và Bắc Thành. (Lệ định mỗi năm cấp mỗi thành 450 quan tiền, nay cấp thêm cho Gia Định 50 quan, Bắc Thành 100 quan. Lệ cấp dầu, giấy, son tầu, vỏ đay, túi vải cho An phòng, Lại phòng và ty Chiêm hậu ở hai thành đều thôi.


    Trấn thần Ninh Bình tâu rằng : "Lệ thuế công tư điền thổ trong trấn, từ trước đến nay vẫn theo số chia thu hai lần vụ hạ vụ đông mà nơi nào ruộng chiêm ruộng mùa nhiều hay ít đều không kể đến. Vả ruộng hạ [chiêm] mùa thu không cấy gặt mà lưu lại một nửa thuế đến mùa đông, ruộng thu [mùa] mùa hạ không cấy gặt mà thu trước một nửa vào mùa hạ, như thế không có thóc đâu mà nộp nên ngạch thuế thường thiếu nhiều. Vậy xin thuế ruộng chiêm thì thu vào mùa hạ, thuế ruộng mùa thì thu vào mùa đông, mới là ổn tiện".


    Vua sai bộ Hộ bàn, đều cho là Thanh Hoa trở ra bắc, một năm hai vụ thuế đã thành định lệ, quay ty dễ thu, điền hộ dễ nộp. Cái phép thường làm thực tiện cho dân. Gián hoặc có thiếu thuế chẳng qua vì lũ cường bạo nắm để lợi mình và vì quan tư thôi đốc bất lực thôi. Đấy là cái tệ tự người làm ra, chứ phép thuế có lỗi gì ? Vài mươi năm nay chưa nghe có ai nói là không tiện, lẽ nào lại riêng không tiện cho một hạt Ninh Bình. Khinh đổi lệ cũ, không bằng cứ giữ phép sẵn là hơn. Đình nghị cũng lấy chia thu hai vụ là phải. Bèn không theo lời xin.


    Lấy Lang trung Lễ bộ là Nguyễn Huy Diễm làm Tham hiệp Sơn Nam.


    Sai lấy ngựa viện Thượng tứ đi thả ở Hòn Cỏ thuộc Quảng Trị.


    Định lại thể thức lá cờ ở các đài trong Kinh và ở ngoài. (Phàm ở Kinh gặp những ngày đại tiết và khi đại giá nhà vua ra vào thì dùng cờ to bằng trừu lông vàng rộng 9 thước, dài 10 thước, ngày mồng một ngày rằm, ngày thường triều, ngày xem tuồng, dùng cờ to bằng trừu năm sắc vàng rộng 8 thước, dài 9 thước ; ngày thường dùng cờ nhỏ vải vàng rộng 7 thước 5 tấc, dài 8 thước 5 tấc. Gia Định và Bắc Thành các ngày đại tiết dùng cờ to bằng trừu lông vàng rộng 8 thước dài 9 thước. Ngày rằm, mồng một, dùng cờ nhỏ vải vàng rộng 7 thước 5 tấc dài 8 thước, 5 tấc ; ngày thường dùng cờ nhỏ vải vàng rộng 6 thước, dài 7 thước. Các đài Trấn Hải, Điện Hải, An Hải cùng đài thành các trấn, các ngày đại tiết dùng cờ to bằng trừu nam và rộng 6 thước 5 tấc, dài 7 thước 5 tấc, ngày rằm, mồng một dùng cờ nhỏ bằng vải vàng rộng 6 thước, dài 7 thước, ngày thường dùng cờ nhỏ vải vàng rộng 5 thước 5 tấc, dài 6 thước 5 tấc. Đài Định Hải và thành các phủ huyện, các ngày đại tiết dùng cờ to trừu nam vàng rộng 6 thước, dài 7 thước, ngày rằm mồng một cùng ngày thường chỉ dùng cờ nhỏ vải vàng rộng 5 thước 5 tấc, dài 6 thước 5 tấc. Hai pháo đài ở Biện Sơn và Tĩnh Hải đều là bảo nhỏ, chỉ dùng một cờ nhỏ vải vàng : Biện Sơn cờ rộng 5 thước 5 tấc, dài 6 thước 5 tấc, Tĩnh Hải cờ rộng 5 thước, dài 6 thước).


    Trấn thủ Thái Nguyên là Tống Văn Trị và nguyên Tham hiệp điệu bổ Tham hiệp Lạng Sơn là Vũ Phan đều phải tội bị miễn chức. Trước đây trong hạt trấn xảy nhiều đám cướp, bọn Trị giấu đi không tâu. Quan Bắc Thành xét tham lên. Đã được cho hạn mà bắt giặc, nhưng bắt không được bao nhiêu. Bèn cách chức. Trị theo thành sai phái hiệu lực, Phan cho về Kinh đợi chỉ.


    Lính mộ chính ngạch ở vệ Long võ tả có kẻ trốn đi, sau lại đổi họ tên rồi sung vào làm lính phủ thuộc. Hạ lệnh phát đi làm lính ở các đồn duyên biên Quảng Ngãi, đến chỗ phát phối đánh 100 trượng, nếu trốn lần nữa thì chém. Sau này có việc giống như thế cũng chiếu lệ ấy mà làm, nhưng tính đất mà phát phối.


    Lấy Phó ngự y Nguyễn Tăng Long làm Ngự y. Y sinh Đoàn Văn Hoà làm Phó ngự y. Hạ lệnh cho các quan trong ngoài cử người mình biết.


    Dụ rằng : "Xây dựng chính trị cốt được người giỏi, phương pháp chọn người không phải chỉ một. Kinh Thư nói : Cử được người giỏi làm quan, tức là cái giỏi của mình. Là bởi tiến người giỏi cho vua, là chức phận của người bề tôi. Trẫm tự lúc thân chinh đến nay, kính trọng nhân tài, thường như không kịp. Thi văn tuyển võ, lần lượt thi hành, cách kén chọn nhân tài, không phải là không rộng. Nhưng cần nghĩ trong đám người làm việc hoặc cũng có người vốn tài giỏi mà bị tư cách bó buộc chưa được lộ ra, nên hạ lệnh : ở kinh quan văn thì Thượng thư cử người khả kham hiệp trấn, tham tri cử người khả kham tham hiệp, thị lang cử người khả kham tri phủ và phủ đồng tri, lang trung cử người khả kham tri huyện và huyện thừa, quan võ thì chưởng dinh cử người khả kham vệ uý, đô thống và thống chế cử người khả kham phó vệ uý, quản cơ và quản vệ thân binh cấm binh cử người khả kham phó vệ uý, quản cơ và quản vệ thân binh cấm binh cử người khả kham phó quản cơ và thành thủ uý, mỗi chức một người. Những người cử ra, không kể dưới lên đã nhân làm việc sai lầm mà bị xử giáng phạt, chỉ cần làm nổi việc thì đều cho bày rõ lời lẽ thực mà chỉ tên để bảo cử. Những giám sinh học ở Giám, nếu có người học rộng biết nhiều, khả kham bổ dùng thì cho giám thần xét thực mà bảo cử. Đều làm riêng từng lập tâu lên đợi chỉ. Bọn ngươi vì nước tiến hiền cũng là việc trong bản phận trung vua yêu nước. Người cử ra cốt được thực tài, giúp ích chính trị, để đáp ứng ý Trẫm rộng cầu người tài giỏi. Nếu cử phải người hèn kém thì phụ lòng Trẫm nhiều lắm, nhất định không thể dung thứ trong việc lại nghị".


    Lại dụ cho tổng trấn Gia Định và Bắc Thành cùng các tào trưởng đề cử ty viên thuộc hạ, các trấn thần cử phủ huyện sở thuộc, phủ Thừa Thiên cử các huyện sở thuộc.


    Lại thấy Bắc Thành Thanh Nghệ, hiện đặt quan võ quản quân nhiều hơn các hạt khác, dụ cho Tổng trấn Phan Văn Thuý và bọn Trấn thủ Hồ Văn Trương, Nguyễn Văn Hiếu, xét nghiệm trong hạt, từ Suất đội trở lên ai là người mẫn cán xuất sắc thì đề cử lấy 3, 5 người kê tên tâu lên. Rồi thì Lê Văn Đức cử Lang trung Công bộ sung đốc công Vũ khố là Đoàn Văn Phú khả kham tham hiệp. Vua dụ bộ Lại rằng : "Phú kiến thức thô sơ, làm việc kiệt quệ làm sao nổi được chức tư mục. Sự cử đó không cho". Lại truyền chỉ thân sức về sau nếu đem những người tầm thường mà cử bậy, Trẫm xét ra được hoặc người khác tham tâu thì sẽ đem người bảo cử trị tội.


    Định lại phép đóng thú ở dọc biên giới Quảng Ngãi. ở miền núi Quảng Ngãi, có man Thạch Bích hay quấy rối, buổi đầu trung hưng, đã đắp lũy dài và đặt 117 sở đồn bảo phân phái lính sáu cơ thuộc trấn đến đóng giữ. Lại lấy các tổng thượng ba huyện Bình Sơn, Thương Nghĩa và Mộ Hoa đặt làm 27 lân (dân số hơn 2.080 người), lân nào cũng đặt bảo để góp sức phòng bị. Khoảng năm Minh Mệnh lại mộ thổ dân để lập thôn ấp miễn cho thuế thân và tạp dịch khiến ở và cày cấy dọc ven núi để tự giữ gìn.


    Đến nay vua nghĩ rằng biên thuỳ đã yên lặng mà cơ binh đóng thú mãi đấy, khó nhọc lại tốn lương, hạ lệnh cho trấn thần trù nghĩ tâu lên. Trấn thần tâu rằng : "Từ xưa cách chế ngự người Nhung Địch tất phải nghiêm giới hạn trong ngoài và cẩn thận sự ra vào, mà tuỳ việc thi thố, cốt sao cho được thoả thiện. Bọn người Man hung dữ, sự phòng bị vốn không thể lơ là. Nhưng chế ngự đã có cách rồi, thì sự giữ gìn ở lúc không có việc, há lại nên phí nhiều tài lực như lúc có việc sao ! Nay xin biền binh sáu cơ Tĩnh Man để một nửa lưu thú, cứ hai tháng thay đổi một lần để bớt chi phí. Còn số người ở 33 thôn ấp mới mộ chỉ được hơn 300, dẫu thuế thân được miễn mà cách sinh lý vẫn chưa có gì, nếu vội dồn lại để phòng giữ biên thuỳ ; chẳng khỏi họ lại sợ hãi mà tản đi. Vậy xin cứ một nửa số dân sai chế mác dài hai người một cái, lúc yên ổn thì làm ăn, lúc biến động thì làm sách ứng với quân đóng thú, hằng năm đến kỳ thao diễn cùng với dân lân nhất tề đến trấn cho họ tập biết phép ngồi, đánh, tiến, lui để có thể phòng thủ. Đến như 27 lân, chỗ ở cách luỹ dài hơn xa, xin dời đặt bảo mới ở luỹ dài 31 sở xen nhau với cơ binh mỗi bảo 10 người, lệ theo chánh phó quản cơ. (Bốn lân Trung tín, Trung phấn, Trung võ, Trung oai, làm bốn bảo lệ vào cơ thứ nhất ; năm lân Tiền sơn, Tiền vận, Tiền thuận, Tiền an, Tiền thái, làm năm bảo lệ vào cơ thứ hai ; bốn lân Tả dũng, Tả hùng, Tả thanh, Tả sơn, làm bốn bảo thuộc cơ thứ ba ; năm lân Hữu hội, Hữu trí, Hữu dũng, Hữu hoà, Hữu an, làm năm bảo lệ vào cơ thứ tư ; bốn lân Hậu tường, Hậu thành, Hậu nghĩa, Hậu quỳnh làm bốn bảo lệ vào cơ thứ năm ; năm lân Nội bảo, Nội thọ, Nội tài, Nội Phước, Nội lộc làm năm bảo lệ vào cơ thứ sáu). Lúc yên ổn thì ra vào bè bạn với nhau, trông nom giữ gìn cho nhau. Lúc có việc thì bảo nọ bảo kia cùng tiếp ứng lẫn nhau. Như thế dồn trong vài năm, không người nào không tập quân sự thì dân lân đều là binh cơ mà binh thú có thể bớt dần được. Lại dân lân từ trước đến nay chỉ miễn tạp dịch, còn thuế thân cũng vẫn như thường dân. Xin cho miễn cả. ở trấn có đội Quy Nghĩa là tù phạm mới dồn, xin chia bổ vào các cơ để sung vào việc phòng bị biên thuỳ".


    Bộ Binh bàn lại cũng cho là phải. Vua nói rằng : "Binh đã chia ban mà đồn bảo không bớt đi, lời bàn ấy chưa được phải cả. Vả người sơn man yên ổn cũng còn là buổi mới, núi hang hiểm dễ cũng khó ước đạc. Tạm đợi một hai năm dân ở biên thuỳ có thể tự giữ được hình thế ràng buộc nhau, thì việc rút bớt sẽ có một phen xếp đặt. Những dân lân cùng dân thôn mới mộ có thể lúc làm ruộng xong, do chánh phó quản thú sở đòi đến diễn tập, không cần đến trấn lại thêm khó nhọc phí tổn. Vả lại dân lân chưa hiểu quân luật, hãy tạm cho miễn một nửa thuế thân, đợi sau này tập quen quân sự, bớt dần lính ở các bảo, bấy giờ mới cho miễn cả thuế thân và cấp cho binh khó. Còn các điều khác theo nghị mà thi hành".


    Lấy Viên ngoại lang Hình bộ là Nguyễn Huy Chiêm làm Lang trung Hình bộ.


    Đúc tiền đồng lớn mỹ hiệu "Minh Mệnh thông bảo" 1 vạn đồng. Sai Hộ bộ Thị vệ hội đồng với đốc công Vũ khố, chiếu chữ hiệu và quy thức đã định mà đúc 20 hiệu 8 chữ :


    1. Hiền hiền thân thân - Lạc lạc lợi lợi ((1) Quý người hiền, thân người thân.)


    2. Quốc thái dân an - Phong điều vũ thuận ((2) Nước thịnh dân yên - Gió hoà mưa thuận.)


    3. Hoa phong tam chúc - Thiên bảo cửu như ((3) Chúc thánh nhân ba điều : giàu, sống lâu, nhiều con trai, (Hoa phong nghĩa là người giữ phong cương ở hoa châu). Thơ Thiên bảo chúc Phước nhà vua như Mặt trời mới mọc, như Mặt trăng thường sáng, như núi, như gò, như đống, như rường, như núi Nam Sơn không bao giờ lở, như cây tùng cây bách, như nước sông mới chảy ra mỗi ngày đầy thêm.)


    4. Đắc vị đắc danh - Đắc lộc đắc thọ ((1) Được ngôi được lộc - Được danh được thọ)


    5. Lục phủ khổng tu - Tam sự doãn trị ((2) Sáu kho (kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ và thóc) đầy đủ - Ba việc (chính đức, lợi dụng, hậu sinh) đều làm.)


    6. Chí công chí chính - Vô đảng vô thiên ((3) Rất công rất chính - không bè đảng không thiên tư.)


    7. Vạn tuế vạn tuế - Vạn vạn tuế thọ ((4) Muôn năm muôn năm - Muôn năm sống lâu.)


    8. Mục mục hoàng hoàng - Tế tể xương xương ((5) Lộng lẫy rực rỡ - Đông đảo rườm rượp.)


    9. Nguyên lưu thuận quỹ - Niên cốc phong đăng ((6) Nguồn nước thuận dòng - Hằng năm được mùa.)


    10. Thân thân trưởng trưởng - Lão lão ấu ấu ((7) Thân người thân, kính người trưởng - Trọng người già, yêu trẻ con.)


    11. Quốc phú binh cường - Nội an ngoại tĩnh ((8) Nước giàu binh mạnh - Trong yên ngoài lặng.)


    12. Như sơn như xuyên - Như cương như phụ ((9) Như núi như sông - Như gò như đống.)


    13. Quân quân thần thần - Phụ phụ tử tử ((10) Vua phải đạo vua, tôi phải đạo tôi - Cha phải đạo cha, con phải đạo con)


    14. Phước như Đông hải - Thọ tỷ Nam sơn ((11) Phước lớn như biển Đông - Sống lâu như núi Nam sơn.)


    15. Vạn thọ du tạc - Vạn Phước du đồng ((12) Muôn tuổi đều bù - Muôn Phước đều họp.)


    16. Thiên bất ái đạo - Địa bất ái bảo ((13) Trời không tiếc đạo - Đất không tiếc của.)


    17. Truy trác kỳ chương - Kim ngọc kỳ tương ((14) Mài giũa cho bóng - Đẹp như vàng ngọc.)


    18. Vương đạo đãng đãng - Thánh mô dương dương ((15) Đạo vương giả rộng thênh thang - Mưu thánh nhân dồi dào không hết.)


    19. Nhất nhân hữu khánh - Vạn thọ vô cương ((16) Một người có Phước - Muôn tuổi không cùng.)


    20. Ngũ thời thuận phủ - Thứ tích kỳ ngưng ((17) Năm thời (mộc thuộc xuân, hoả thuộc hạ, kim thuộc thu, thuỷ thuộc đông, thổ thuộc 4 tháng quý) đều thuận - mọi việc đều nên.)


    10 hiệu chữ là :


    1. Nguyên hanh lợi trinh ((1) Quẻ càn có bốn đức : nguyên là khởi đầu, hanh là đương thịnh, lợi là thuận lợi, trinh là kết quả.)


    2. Phước lý tuy tương ((2) Phước lộc yên hưởng.)


    3. Đế đức quảng vận ((3) Đức nhà vua rộng lớn.)


    4. Lợi dụng hậu sinh ((4) Lợi việc dùng, đủ đời sống.)


    5. Trung hoà vị dục ((5) Trung chính, ôn hoà, đời theo ngôi định, muôn vật thoả sống.)


    6. Liễm Phước tích dân ((6) Thu Phước đem cho dân.)


    7. Tứ phương vi tắc ((7) Bốn phương lấy làm khuôn phép.)


    8. Cương kiện trung chính ((8) Cứng khoẻ ngay ngắn.)


    9. Gia cấp nhân túc ((9) Nhà nào cũng đủ ăn, người nào cũng đủ dùng.)


    10. Xuyên chí sơn tăng ((10)
  • Chia sẻ trang này