0060.0008

22/12/15
0060.0008
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose:

    Như sông chảy mãi đến, như núi ngày cao thêm.)

    Chính biên

    đệ nhị kỷ - quyển lxviii

    thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế

    Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11 [1830], mùa hạ, tháng 6, đổi các đội Cường súng, Tráng binh ở Thừa Thiên, làm phủ binh.

    Bộ Lại tâu xin tự nay về sau, phàm con các quan văn, vào học ở Quốc tử giám, nếu cha có lỗi bị cách, thì người con phải xoá sổ ; cha bị giáng đổi đi thì con vẫn được học, nhưng chỉ cho nửa lương. Vua theo lời tâu.

    Lấy Chưởng vệ vệ Cẩm y quyền lĩnh việc phủ Trấn Ninh là Tạ Quang Cự làm thự Thống chế lĩnh viện sứ Thượng tứ viện, gia hàm Quản cơ là Cao Khả Tuyên thự Phó vệ uý vệ Khinh kỵ. Bọn Quang Cự tự Trấn Ninh về, đến Kinh vào bệ kiến. Vua xuống dụ khen, cho ăn yến và xem tuồng ở Binh bộ đường. Những biền binh đi thú Nghệ An, từ thực thụ suất đội trở lên, cũng cho ăn yến xem tuồng một lần. Những người chết cho tế một đàn.

    Lấy Cai đội quân Thần sách là Bùi Văn Đạo làm Phó vệ uý vệ Cung võ, Trần Văn Tảo làm Phó vệ uý vệ Quảng võ.

    Sai Tả thị lang Binh bộ là Hoàng Công Tài quyền làm công việc bộ Lễ.


    Bọn hộ vệ Tôn Thất Long, Tôn Thất Thương là người phóng đãng, tự tiện bỏ việc trốn đi. Vua nghe biết tin, hạ lệnh xoá tên trong sổ. Nhân dụ bộ Binh rằng : "Nhân viên tôn thất dự ở dòng dõi nhà vua đều nên kính giữ phép tắc, để nương nhờ Phước tốt của nhà nước, thế mà lũ này không biết yên phận giữ phép, du đãng quen thân, vô cố tự tiện trốn đi, thực là đáng ghét. Từ nay về sau, phàm người tôn thất trốn thì cho tâu ngay, xoá tên trong ngạch, đưa sang phủ Tôn nhân xoá tên. Kẻ trốn đến ở địa phương nào, biên vào sổ đinh xã ấy, để chịu sai dịch, mãi mãi không được đăng lại sổ tôn thất. Chép ra làm lệnh".


    Sai Nội các xét phân biệt các ty thuộc, ai siêng, ai lười tâu lên.


    Vua bảo Hà Quyền và Trương Đăng Quế rằng : "Nội các là chỗ cơ quan trọng yếu. Bọn khanh nên xét kỹ các thuộc hạ, ai giỏi thì cho tiến lên, ai kém thì cho lui, đừng có thiên tư, để cho người bậy được cầu may mà dung thân, không ích gì cho công việc". Do đó bọn Quyền làm sớ cử những người cần cán nên thăng là bọn Trương Văn Uyển, Trần Ngọc Giao, Nguyễn Đức Hoạt, Lâm Duy Nghĩa hơn mười người. Tôn Thất Du và Nguyễn Duy Trường học thức tầm thường thì xin bổ ra ngoài. Vua đều nghe theo.


    Sai Thượng thư Hộ bộ là Lương Tiến Tường về bộ làm việc.


    Lại bớt chức Phó tổng tài luật lệ.


    Sai bộ Binh truyền chỉ cho Gia Định chọn mua 40 thớt voi đực, Quảng Trị 10 thớt, hằng năm lấy đấy làm lệ.


    Thả người man Mương Lữ nước Diến Điện là bọn Ban Nhự về nước. Trước đây bọn Ban Nhự bốn người đi buôn vượt địa giới đến Thanh Hoa. Trấn thần bắt giải vào Kinh. Vua sai bộ Lễ hỏi kỹ nhân dân phong vật nước ấy. Đến nay cấp tiền gạo thả cho về nước. Lại sai trấn thần phái người cùng đi với bọn ấy. Đi đến Lai Châu bị ngăn trở, bọn Ban Như nhân sơ hở bỏ đi. Người trấn phái bèn trở về.


    Chuẩn định từ nay phàm các thành trấn ở ngoài phụng giữ các hạng súng lớn súng nhỏ và binh khí, trong năm nếu có thêm bớt không dùng nguyên số, thì đến cuối năm trích từng khoản khai thành sách đưa về bộ duyệt tâu. Nếu không thì chỉ nên tư bộ lưu chiểu. Chép làm lệnh mãi mãi.


    Nhà dân ở ngoài Kinh thành cháy.


    Vua ngự lên Nam đài. Sai Thống chế Nguyễn Tăng Minh đem binh đi chữa, một lát lửa tắt. Bèn định lại lệ cứu hoả trong ngoài Kinh thành (Phàm nhà dân bị cháy, ở trong thành người ứng trực ở trên kỳ đài trông thấy thì lập tức lấy ống hiệu kêu gọi. Cột cờ trên đài, cùng cửa thành thì chiếu theo hiệu lệnh ngày đêm mà kéo cờ treo đèn. Viện Thượng tứ cưỡi ngựa đi thám, biền binh cứu hoả dập tắt và các cửa mở đóng, đều theo lệ cũ mà làm. Cháy ở ngoài thành, chỗ kho gỗ ở đầu quách, mặt trước thành, cùng ở phụ quách chỗ xưởng đóng thuyền ở bờ bên nam sông Hương thì cũng chiếu theo lệ cứu hoả trong thành. Cháy ở phụ quách ở ba mặt tả, hữu, hậu thì trên kỳ đài chỉ nên chuyển sức đi thám theo lệ tâu lên, không phải kêu gọi cùng kéo cờ treo đèn và đóng kỹ cổng thành. Còn biền binh thì đi cứu hoả cũng theo lệ trước. Lại trong thành hoặc phụ quách ngoài thành bị cháy thì phủ thần Thừa Thiên một viên thân đi đốc sức dân binh chữa cháy. Nếu ở chỗ ngoài thành hơi xa thì cho phái phủ thuộc, không phải thân hành. Trong thành bị cháy 3 nhà trở lên, thì phái viên của Thừa Thiên và Thị vệ phái đi cứu hoả đều phải làm phiến tâu lên. Cháy không đến 3 nhà thì chỉ viết bài trình tiến. Cháy ở ngoài thành cháy lan nhiều nhà, hoặc đến chết người, thì mới phải làm phiến tâu, hoả hoạn nho nhỏ thì thôi).


    Vua đi xem kho ở Kinh, thấy kho tạm mới làm, nhiều cỏ tranh là thứ dễ cháy, hạ lệnh cho bộ Binh phái cấm binh Vũ lâm cắt lượt nhau đi thủ hộ để phòng hoả hoạn. Nhân bảo thị thần rằng : "Bây giờ kho Kinh, chứa thóc hơn 300 vạn hộc đã là đầy đủ, thường năm chuyên chở, cần gì cứ tăng thêm. Súc tích như thế, xuất nhập có thường, lo gì không đủ gạo ăn".


    Cho Nguyễn Xuân làm Đề đốc Kinh thành. Lấy Phó vệ uý vệ Phi kỵ là Vũ Văn Giải làm Viện sứ viện Thượng trà, kiêm lĩnh Thị vệ Ngân bài Nha bài, cùng các đội thự Thượng thiện, Thanh bình, Hoà thanh và cả vệ Phi kỵ.


    Khởi phục viên quan bị cách là Nguyễn Tài Năng làm vệ uý vệ Hậu thuỷ Thuỷ quân, Lê Văn Hiếu làm Thành thủ uý đài An Hải, Nguyễn Đăng Huyên làm Thành thủ uý thành Vĩnh Ninh. Thành thủ uý đài An Hải là Tống Văn Nghĩa thì điệu bổ làm Thành thủ uý thành Phú Yên.


    Vua thấy rằng giặc biên náu núp ở các đảo ngoài biển hay quấy nhiễu nhân dân, muốn tu lý bờ biển để phòng bị. Bèn sai giám thành là bọn Hồ Văn Đặc, Lê Đức Tiến chia nhau đi Từ áo (tức là Vụng chùa) ở Quảng Bình, An áo (tức là Vụng áng) ở Nghệ An, núi Vân Sơn (trước là Hòn Mê) ở Thanh Hoa, xem xét địa hình thuỷ thế vẽ thành bản đồ tiến lên.


    Hạ lệnh cho các địa phương truy dùng kiềm đóng vào sổ địa bạ.


    Vua dụ rằng : "Đất lấy sổ làm căn cứ, là để tỏ tình thực mà trừ gian dối. Trước đây địa bạ các hạt những chỗ tẩy chữa cùng chữ số mục ruộng đất hoang nhàn chưa có dầu kiềm. Phàm sổ sách bờ cõi là quan hệ đến dân chính, mà sơ suất thiếu sót như thế, nếu gặp việc tranh nhau địa giới thì bọn dân gian ngoan và lại giảo hoạt khỏi sao không nhân đó mà không làm tệ được. Nhưng nay làm lại cả một loạt thì sợ thêm phiền nhiễu, chẳng bằng quyền nghi châm chước cho tiện việc làm. Vậy tự Quảng Bình trở về Nam đến Bình Hòa cùng 11 trấn Bắc Thành, hiện đã làm sổ địa bạ thì bản giáp lưu ở bộ Hộ ấy đóng triện của bộ, bản ất tống gửi về địa phương đóng triện sở tại, nhưng đều viết vào cuối sổ. Bộ Hộ thì viết mấy chữ "ngày tháng năm, tuân dụ truy dụng, gửi cho phủ trấn nào tuân chiểu" ; địa phương thì viết mấy chữ "ngày tháng năm tuân dụ truy dụng, phụng nạp Hộ bộ đường tồn chiểu", chuyển đổi lẫn nhau để đối chiếu cho được giản tiện. Rồi theo lời bàn của bộ Hộ cho ba trấn Thanh, Nghệ và Ninh Bình làm địa bạ, để sang năm thi hành. Bình Thuận cùng các trấn ở Gia Định thì theo như cũ mà làm".


    Cho các biền binh Thanh - Nghệ và Bắc Thành thao diễn ở Kinh trở về hàng ngũ.


    Vua nghĩ việc xây đài An Hải, các biền binh cũng có khó nhọc, thưởng áo quần bạc lạng và tiền lương bổng cho từ quản vệ đến binh lính theo thứ bậc khác nhau.


    Sai Tả thị lang Hộ bộ là Hoàng Quýnh đổng lý việc thanh tra Vũ khố, thự Lang trung Lễ bộ là Doãn Văn Xuân làm phó.


    Bắc Thành gạo đắt (một phương gạo giá trên dưới 3 quan tiền), nhân dân đói ăn, trấn Hải Dương đói nhất. Thành thần đem việc tâu lên. Vua dụ hoãn thu thóc thuế vụ chiêm cho 11 trấn, lại sai thành thần phái người đến hội đồng với trấn thần Hải Dương phát thóc kho hơn 23.000 hộc cho dân nghèo vay.


    Sai bộ Binh xuất 4 cỗ súng đồng "Thảo nghịch tướng quân", 10 cỗ súng đồng "quá sơn", mỗi cỗ súng đều 50 viên đạn gang và 4.000 cân thuốc súng mới chế, chở đến đài Trấn Hải.


    Chế lại đồ thờ ở miếu Lịch đại đế vương (trước đồ rượu bằng đồng 25 bộ, mỗi bộ 1 cái khay, 1 cái be, 3 cái chén, nay đổi làm bằng bạc ; trước bát nước bằng sứ 5 cái bịt thau, nay đổi bịt bạc ; năm gian chính miếu trước ở án thần vị cây nến hạng nhỏ 5 đôi, nay thêm cây nến hạng trung bằng thiếc 5 đôi, cây đèn hạng trung 10 cây, trước án trong cây nến hạng trung 5 đôi, nay thêm cây đèn gỗ hạng lớn 5 đôi, cây đèn nến hạng lớn 10 cây. Lại thêm chiếu dài cạp đoạn hồng 5 đôi).


    Thành thần Gia Định tâu rằng : "Các thủ Tân Châu, Chiến Sai trấn Vĩnh Thanh, Hùng Ngữ trấn Định Tường, ba nơi ấy đều là chỗ quan yếu, từ trước mỗi thủ đặt một người thủ ngự, lại phái quan to quản binh để điều lĩnh công việc 3 thủ ; vẫn lấy trấn binh của thành đến thú, đường sá xa cách thay đổi cũng phiền. Xin mộ dân ngoại tịch, lập làm ba đội An Châu nhất, An Châu nhị, An Châu tam lệ theo viên quản lĩnh để phân phái. Lại thủ binh ở 3 thủ ấy cũng thưa ít, cũng hạ lệnh mộ thêm, cho đủ số mỗi thủ 50 người. Vua nghe theo. Đổi thủ Chiến Sai làm thủ An Lạc.


    Vua ra đài Trấn Hải xem công việc sửa đài, buổi trưa nghỉ ở thuỷ bằng, bằng không được kín đáo, mặt trời soi vào chỗ vua nằm. Vua giận quá. Lập tức sai bắt người chuyên biện là thự Phó vệ trung quân Ngô Văn Mưu, hộ vệ trưởng Tôn Thất Nghị cùng quản thị vệ Vũ Văn Giải, Thị lang Vũ khố Hồ Hữu Thẩm đánh mắng. Đến lúc trở về dụ bộ Binh rằng : "Lần này đi xem đài Trấn Hải đã bảo trước làm tạm sàn mát ở mặt nước để buổi trưa nghỉ ngơi. Sàn ấy chẳng qua làm chiếu cỏ và vải mà thôi. Thế mà bọn Ngô Văn Mưu không để ý đến, làm qua loa xong việc, đến nỗi không che kín ánh Mặt trời. Việc của vua cha mà coi như chuyện ngoài, bọn này thực là mất hết lương tâm, tuy đã đánh mắng ngay nhưng chưa bõ với tội. Ngô Văn Mưu thì cách chức cấp sung ngư hộ. Tôn Thất Nghị cũng cách chức, vẫn bổ hộ vệ để sai. Thự Thống chế thuỷ quân Trương Văn Tín vì chủ cử Ngô Văn Mưu cũng giáng một cấp, không cho xét cãi gì nữa”.


    Cho bề tôi cũ ở tiềm để là Lê Văn Phong làm Quản cơ. Phong tước là Cai đội bổ làm thủ ngự Phan Thiết, lâu không được thăng. Đến nay vua sắc cho bộ tra rõ, cho triệu vào chầu. Vua bảo thị thần rằng : "Trẫm trước còn nhỏ, Phong có công trông giữ, đến lúc lên ngôi, hỏi thăm không thấy. Phong cũng yên phận không nói công trước. Đời xưa có câu nói "Giàu sang quên người cũ". Nay Phong có công không nói, thế là người cũ quên giàu sang". Bèn đem hầu bao gấm và nhiễu sa cùng 50 lạng bạc cho Phong. Phong già yếu, lại có tật mắt, cho lấy hàm Quản cơ hưu trí, ăn cả lương. Lại cho con là Lê Văn Lý làm đội trưởng sung thị vệ Nha bài.


    Chế cấp tín bài bằng ngà cho các địa phương. (Gia Định, Bắc Thành mỗi thành 10 cái. Các trấn mỗi trấn 5 cái. Một mặt khắc chữ "Thành trấn nào, tín bài số mấy", từ số 1 đến 5 đến 10 đều theo thứ tự mà khắc ; một mặt khắc mấy chữ "Minh Mệnh năm 11 quan cấp"). Trước đây có đứa ở công phủ trốn đi là Trần Văn Lễ lấy Trẫm được cái hổ phù của cố Chưởng cơ Nguyễn Văn Hưng chế riêng, mạo xưng là thị vệ nha bài đi dọa người lấy của. Sự phát giác, tên Lễ bị giết. Bèn sai bộ Binh bàn định điều cấm. Bộ bàn rằng : "Đời xưa làm tướng có đeo hổ phù để cầm quân, thì binh phù cùng với ấn tướng và cờ suý đều là đồ quan trọng, tất phải tự vua ban cấp cho dùng, mới đủ tín nhiệm mà trọng sự thể. Lúc đầu mở nước, các quan đại thần cầm quân cũng có người chế tạo hổ phù để làm tín hiệu trong quân, dẫu là quyền nghi làm việc, nhưng xét theo đạo nhân thần, thì chưa được hợp. Đến như liêu thuộc cấp dưới cũng bắt chước làm binh phù riêng như Nguyễn Văn Hưng thì lại càn bậy lắm. Hơn nữa, lúc xem việc thì coi là đồ vô dụng mà bỏ đó để cho người khác lấy Trẫm, do đó mà lũ hèn mạt đem dùng làm việc giả mạo. ở dưới xe nhà vua mà còn có Trần Văn Lễ gây việc bậy bạ như thế, thì ở những thành trấn xa tệ hại chẳng thế mà thôi. Cũng có thể có nhà quyền quý không dự trách nhiệm quản binh cũng tạo riêng tín bài ((1) Tín bài : bài (bằng gỗ sơn) để làm tin.) tín phù ((2) Tín phù : thẻ để làm tin.) để dùng trong nhà, mà không biết thế là can phạm đến cấm điều. Cần phải một phen nghiêm cấm để trừ tệ ấy. Vậy xin từ nay về sau, các quan kinh quan ngoài, không được chế tạo chứa cất các thứ hổ phù tín bài. Nếu ai đã trót làm ra cho người nhà giữ thì cho đệ nộp để tiêu huỷ đi. Làm trái thì theo luật trị tội. Gia Định và Bắc Thành là quan to chuyên trách địa phương, Thượng ty các trấn cũng là quan to một hạt như bất kỳ gặp việc khẩn mật, văn thư không thể làm kịp, tuồng như cần có thứ gì làm tín, dùng đến có ngay, để không đến nỗi chậm trễ nhỡ việc thì xin đều chế tín bài bằng ngà để cấp cho. Phàm có việc binh khẩn yếu, mới cho dùng tín bài ấy để làm hiệu lệnh ở trong quân, xong việc lại cất giữ cẩn mật, ngoài ra không được dùng bậy. Đến như các quan thay đổi thì tín bài ấy cùng bàn giao với ấn triện do nhà nước cấp". Vua hạ lệnh cho đình thần bàn lại thì cho là : Người xưa dùng vào việc quân có hịch lông gà, lấy ý nghĩa là nhanh chóng, thẻ gỗ, cá đồng là để nghiệm làm tin ; gọi binh thì có tín bài, cũng là việc binh làm như thế. Nhưng cất giữ và đem dùng cũng phải đề phòng cẩn thận, mới tránh được khỏi tệ. Xin phàm tín bài của nhà nước cấp, nên phụng giữ cũng như ấn tín. ở thành thì tổng trấn chuyên giữ, ở trấn thì trấn phủ giữ mà hiệp trấn, và tham hiệp phong lại. Trấn thủ có việc công ra ngoài thì hiệp trấn giữ mà tham hiệp thì phong. Lúc có việc gọi binh thì người đi mang theo để làm hiệu lệnh, cũng để lại mấy cái cho người ở lại dùng. Nếu xảy ra việc sơ suất thì đều theo phép trị tội nặng.


    Vua theo lời bàn ấy.


    Đặt thêm ngạch thợ ở cục thợ mộc ty Doanh thiện (nguyên ngạch có 27 người, thêm làm 60 người) chọn dân hai xã Đường Long và Lương Mai (thuộc huyện Hương Trà) sung vào, lệ theo bộ Công sai phái làm việc. Vua dụ bầy tôi rằng : "Tên quan mới đặt có chức đại học sĩ các điện các, trật chánh nhất phẩm, hiệp biện đại học sĩ trật Tòng nhất phẩm, đã cho thi hành. Vả lại những chức ấy chiếu điển lệ nhà Minh nhà Thanh đều là tên quan Nội các. Nhân nghĩ chức sung làm việc Nội các, Trẫm đã chuẩn định chỉ lấy quan tam Tứ phẩm ở bộ viện mà thôi, lại giáng dụ rõ ràng lấy đấy làm phép nhất định mãi mãi. Vậy từ nay về sau phàm văn ban như có người nào tài giỏi, đức vọng đặc cách được thăng chức hàm Đại học sĩ thì vẫn lĩnh việc Thượng thư các bộ, chứ không cho sung vào Nội các, lấy đó làm phép thường nhất định".


    Đổi tên gác Mục Thanh làm gác Tuy Thành (ở trước nhà Thái miếu).


    Đúc thêm súng gang Hồng y 400 cỗ (hạng lớn 200 cỗ, hạng trung 200 cỗ) hạ lệnh ở Kinh đúc 200 cỗ, Bắc Thành đúc 200 cỗ.


    Cho Phạm Hữu Tâm làm Phó vệ uý vệ Lạc dũng.


    Chuẩn định từ nay về sau, phàm quan kinh quan ngoài, văn ban thì các chức tán thiện, bạn độc, trực giảng, trưởng sử, phó trưởng sử, học chính, giám thừa, điển bạ điển tịch ở Quốc tử giám ; chủ sự, tư vụ ở Hộ thành binh mã ty, tri bạ các dinh vệ cơ, hiệp thủ các quan tấn, huấn đạo các huyện, võ ban thì Vũ lâm thân binh cùng


    các suất đội cấm binh, tinh binh, ở ngoài thì Thành thủ uý, thủ ngự quan tấn((1) Quan tấn : quan là cửa đường bộ, tấn là cửa đường biển đường thuỷ, chỗ quan yếu mới đặt quan thủ ngự hay tấn thủ ngự.1), nếu có khuyết thì do hai bộ Lại Binh lựa chọn tâu xin bổ thụ. Rồi lại thấy tự trước đến nay quan chức có khi nên tập tâu thì lại tư bộ, có khi nên tư bộ thì lại tập tâu, chưa có nhất trí, nên lại sắc rằng : "Các chức tán thiện, bạn độc, trực giảng, trưởng sử, phó trưởng sử, học chính, giám thừa, huấn đạo, thành thủ uý, nếu khuyết thì thượng ty, quản hạt, đều tư bộ để đề bổ, không phải tập tâu, đến như điển bạ, điển tịch ở Quốc tử giám, chủ sự tư vụ ở Hộ thành binh mã ty, tri bạ các dinh vệ cơ, thủ ngự hiệp thủ các quan tấn, khuyết đâu thì cho thượng ty lựa chọn tâu xin bổ thụ, nếu không chọn được người thì tư bộ lựa chọn”.


    Nước Xiêm La sai sứ mang quốc thư và phương vật đến tạ.


    Sứ đến thành Gia Định, thành thần dịch quốc thư tâu lên, đại lược thư nói rằng nước họ từ nay không dám quấy nhiễu thổ ty nước ta ; còn việc chọn lập quốc trưởng Vạn Tượng thì tạm đợi chọn được người sẽ đưa giấy báo. Đến như tên Sũng Sam giết hành nhân ((2) Hành nhân : bọn Phan Văn Thống nước ta, 40 người đem thư đến Khung giang, bị tướng Xiêm đánh úp, đều chết (Xem quyển 52).) thì đối với nước họ là có công xin tha cho. Thành thần đã đem sự lý hai ba lần hỏi vặn, sứ giả ứng đáp không có câu gì khác.


    Vua giao cho đình thần bàn thì đều nói : "Việc giao thiệp với nước láng giềng quan hệ đến quốc thể, tất phải danh nghĩa sáng tỏ rồi sau mới thành thể thống. Nước ta cùng nước Xiêm đời đời giao hiếu, gần đây nhân việc nước Vạn Tượng tự họ gây thù, thì ta thẳng mà họ cong, chẳng đợi nói nhiều mà lẽ đã rõ. Duy nước họ quen theo tục cũ đã không biết danh nghĩa mà văn thư cũng không có gì nhã nhặn đáng xem. Như thư ngày nay của họ, một thì nói xin lỗi một lần, hai thì nói tình nghĩa láng giềng không dứt. Chỗ nào nói đến nước ta thì tôn xưng hoàng đế rõ ràng, có dùng lầm chữ huý bảo thì đổi ngay. Lấy một nước ngang hàng mà cúi đầu im tai như thế, há dám còn làm việc ngang ngạnh nữa sao. Nếu cự tuyệt thì không phải là ý giảng tín tu mục ((3) Giảng tín tu mục : tỏ lòng tin nhau, giữ lòng hoà mục.) của triều đình. Duy tội Sũng Sam thực không thể tha được, mà họ lại cho là có công và xin tha, một việc ấy có chỗ không thể làm ngơ được. Xin lại cho thành thần bẻ bác cho họ phải khuất phục để cho chính danh nghĩa mà rõ phải trái, rồi sau lấy lễ mà tiếp cũng chưa muộn gì”.


    Vua cho là phải. Sai Viên ngoại lang Lễ bộ là Nguyễn Hữu Thức, thị vệ là Tôn Thất Sĩ đem dụ chỉ đến hội với thành thần để làm việc ấy. Đến lúc về tâu rằng : sứ Xiêm tình ý cùng lời lẽ cung kính thuận hoà, không có chút gì ngang ngạnh. Vua nói rằng : "Họ đã có lòng phục thì Trẫm còn cầu gì nữa". Nhân bảo bầy tôi rằng : "Nước Xiêm phía nam gần Hồng Mao, phía tây tiếp Diến Điện, phía đông tiếp giáp nước ta, ngày thường sở dĩ dám xưng hùng với các nước phía tây phía nam là vì có nước ta giúp thôi. Nay nếu gây hiềm thù với ta, có xảy ra chiến tranh thì các nước phía tây nam thừa cơ đánh úp ở đằng sau thì chẳng nguy sao. Trẫm vẫn biết nước Xiêm không dám bội ta đâu".


    Lại hỏi : "Các khanh cho thế lực nước Xiêm thế nào ?" Bọn Nguyễn Khoa Minh, Lê Đăng Doanh đều đáp rằng không địch được ta.


    Vua nói : "Bọn ngươi nói cũng có lẽ. Nhưng chỉ biết trách người, không biết trách mình. Nước Xiêm thực không đáng lo, điều Trẫm lo là dùng người hành chính chưa được thoả đáng, nguyên khí chưa được sung túc thôi. Nếu Trẫm siêng năng chính trị mà không lười biếng, bọn ngươi lấy lòng công trung với nước, quan to giữ phép, quan nhỏ thanh liêm, chính sự ngày một tấn tới, thì dẫu nước Xiêm cũng chả làm gì nổi". Bèn dụ cho Gia Định phái người đưa sứ Xiêm đến Kinh. Khi đến nơi bày nghi vệ thường triều ở điện Cần Chính, sứ giả vào sân điện lạy yết. Vua gọi lên điện hỏi rằng : "Nước Xiêm cùng nước ta tình hiếu đã dứt, nay lại sai sứ đến đây làm gì ?". Sứ giả tâu rằng : "Phật vương nghĩ rằng nước Xiêm cùng thiên triều ((1) Thiên triều : ý nói tôn triều đình ta như trời.) đời đời thông hiếu, cho nên sai bồi thần ((2) Bồi thần : là bầy tôi thân cận.) đến tạ".


    Vua nói : "Trước đây Vạn Tượng cùng nước Xiêm gây mối hiềm khích. Trẫm đã sai quan binh bảo Vạn Tượng quy thuận nước Xiêm cũng là ý tốt. Thế mà tướng Xiêm là Sũng Sam giết chóc bừa bãi đến hơn năm chục người. Trẫm đã sai người hỏi về việc ấy, sao Phật vương không giết Sũng Sam đi để giữ tình hữu hảo hai nước". Sứ giả đáp : "Trước đây Sũng Sam ngờ là Vạn Tượng trá hình làm quan quân để doạ nước Xiêm, nên lầm mà giết. Nay Phật vương vì việc ấy mà sai sứ đến xin lỗi".


    Vua nói : "Vạn Tượng có tội với nước Xiêm, nước Xiêm giết thì Trẫm chưa từng vì nó mà che chở. Đến như Sũng Sam là một tên tướng nhỏ, dám làm càn rỡ, gây mối hiềm khích cho hai nước, tội nào lớn hơn, thế mà Phật vương lại còn xin tha. Nhưng nếu tôi con nước Xiêm có tội với Phật vương, mà người khác xin tha thì cũng tha à !". Sứ giả không trả lời được. Vua lại bảo : "Việc nước láng giềng giao thiệp với nhau, phải có đạo lý, không chỉ lễ mạo bề ngoài mà thôi. Trẫm cùng nước Xiêm giao hiếu chỉ để lúc có việc giúp đỡ nhau, vinh nhục quan hệ nhau. Nếu lại bề ngoài hoà hợp mà trong dạ trái nhau thì tình đã sơ, dẫu có biếu nhau ngọc lụa cũng là hư văn mà thôi ; đạo láng giềng giao thiệp có phải thế đâu. Những phẩm vật đưa đến, đều trả lại cả, Trẫm không nhận đâu. Về bảo chúa ngươi đừng vì cớ một tướng nhỏ, mà gây càn hiềm khích ở bờ cõi. Hãy nên sớm tính". Sứ giả lạy tạ lui ra.


    Đến lúc sứ giả về nước, vua lại sai đình thần làm thư giao cho. Thư đại lược nói: "Năm trước Vạn Tượng có tội với quý quốc, quý quốc bắt mà giết, bản quốc không từng che chở cho nó. Đến như bản quốc phái quan binh đến bảo Vạn Tượng tạ quý quốc, mà bị Sũng Sam ụp giết càn, thế mà không trị tội thì có được không ? Vả lại cai đội bản quốc là Nguyễn Trọng Thai hộ tống Vạn Tượng về nước. Lúc ấy Vạn Tượng cùng quý quốc gây sự hiềm khích. Trọng Thai vốn không biết, thế mà bản quốc còn cho là không biết can ngăn là trị tội nặng. Huống chi là Sũng Sam là một tỳ tướng làm việc trái phép, tội ác đầy rẫy mà lại cho là có công thì lấy gì để khuyến khích. Tự tiện gây hiềm khích ngoài biên mà không bắt tội thì lấy gì mà răn. Việc lớn của nước duy có thưởng cùng phạt. Nếu che chở một người có tội mà bỏ phép nước thì có nên không ? Hai nước từ trước không có hiềm khích gì, gần đây vì Sũng Sam gây việc, đến nỗi đi lại phiền phức, rất thiếu nhã quan. Nếu vì đường sá xa xôi, không tiện giải Sũng Sam đến nơi, thì nên đem ra nơi kẻ chợ mà trừng trị rất nặng để giữ vẹn tình hiếu bao đời, và cho nước khác nghe biết. Nếu không làm như thế thì tự quý quốc bỏ láng giềng, chứ bản quốc không có bụng gì đâu".


    Thuyền buôn của Đô-ô-chi Ly người nước Pháp bị bão chìm ở phận biển Đà Nẵng. Nhà vua sai tỉnh Quảng Trị cấp cho 100 quan tiền 50 phương gạo, tìm chỗ cho ở. Nhân tiện cho đi về nước.


    Định lệ các hạng súng ở Kinh và ngoài, nên dùng thuốc súng thế nào.


    (1. Các hạng súng đồng, gang, sắt :


    Đường kính nòng súng : 5 tấc 2 phân, mỗi phát 20 cân


    - 4 - 1 - 15 -


    - 4 - 1 - 14 -


    - 4 - 0 - 13 -


    - 3 - 9 - 12 -


    - 3 - 8 - 11 -


    - 3 - 7 - 10 -


    - 3 - 6 - 9 -


    - 3 - 5 - 8 -


    Đường kính nòng súng : 3 tấc 4 phân, mỗi phát 7 cân 8 lạng


    - 3 - 3 - 7 -


    - 3 - 2 - 6 - 8 -


    Đường kính nòng súng : 3 tấc 1 phân, mỗi phát 6 cân


    - 3 - 0 - 5 - 8 -


    - 2 - 9 - 5 -


    - 2 - 8 - 4 - 8 -


    - 2 - 7 - 4 -


    - 2 - 6 - 3 - 8 -


    - 2 - 5 - 3 -


    - 2 - 4 - 2 - 12 -


    - 2 - 3 - 2 - 8 -


    - 2 - 2 - 2 - 4 -


    - 2 - 1 - 2 -


    - 2 - 0 - 1 - 12 -


    - 1 - 9 - 1 - 8 -


    - 1 - 8 - 1 - 4 -


    - 1 - 7 - 1 - 0 -


    - 1 - 6 - 0 - 14 -


    - 1 - 5 - 0 - 12 -


    - 1 - 4 - 0 - 10 -


    - 1 - 3 - 0 - 8 -


    - 1 - 2 - 0 - 6 -


    - 1 - 1 - 0 - 4 -


    - 1 - 0 - 0 - 3 -


    - 0 - 9 - 2 lạng 5 đồng


    - 0 - 8 - 2 -


    - 0 - 7 - 1 - 5 -


    Đường kính nòng súng : 0 tấc 6 phân, mỗi phát, 1 lạng


    - 0 - 5 - 0 - 8 đồng


    - 0 - 4 - 0 - 5 -
  • Chia sẻ trang này