0060.0009

23/12/15
0060.0009
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    2. Súng xung tiêu :


    Đường kính


    nòng súng


    7 tấc 7 phân Đường kính


    nòng thuốc


    4 tấc 2 phân


    mỗi phát


    12 cân


    - 5 - - 2 - 8 - - 4 -


    - 5 - - 2 - 3 - - 2 - 8 lạng


    - 4 - 4 - - 2 - - 2 -


    - 4 - 3 - - 2 - - 2 -


    - 4 - 2 - - 2 - 3 - - 1 - 4 -


    - 4 - 0 - - 2 - 6 - - 2 -


    - 4 - 0 - - 2 - 5 - - 2 -


    - 3 - 9 - - 2 - 5 - - 2 -


    - 3 - 9 - - 1 - 7 - - 1 - 2 -


    - 1 - 9 - - 1 - 6 - - 1 -


    - 3 - 8 - - 2 - 5 - - 2 -


    - 3 - 8 - - 2 - 1 - - 1 - 12 -


    - 3 - 8 - - 1 - 9 - - 1 - 10 -


    - 3 - 8 - - 2 - 2 - - 2 -


    - 3 - 8 - - 1 - 6 - - 1 - 2 -


    - 3 - 7 - - 2 - 5 - - 2 - 10 -


    - 3 - 7 - - 2 - 0 - - 1 - 10 -


    - 3 - 6 - - 1 - 2 - - 2 -


    - 3 - 6 - - 2 - 1 - - 2 -


    - 3 - 6 - - 1 - 5 - - 1 -


    - 3 - 5 - - 2 - 5 - - 2 -


    - 3 - 5 - - 2 - 0 - - 0 - 4 -


    - 3 - 3 - - 2 - 4 - - 2 -


    - 3 - 2 - - 1 - 6 - - 2 -


    - 2 - 9 - - 1 - 7 - - 1 - 8 -


    - 2 - 9 - - 1 - 5 - - 1 -


    - 2 - 8 - - 2 - 2 - - 2 -


    - 2 - 7 - - 1 - 3 - - 0 - 14 -


    - 2 - 6 - - 1 - 6 - - 1 -


    - 2 - 5 - - 1 - 2 - - 0 - 6 -


    - 2 - 5 - - 1 - 1,5 - - 0 - 6 -


    - 2 - 3 - - 1 - 1 - - 0 - 6 -


    - 2 - 1 - - 1 - 0 - - 0 - 5 -


    - 1 - 9 - - 1 - 5 - - 0 - 12 -


    - 1 - 9 - - 1 - 0 - - 0 - 5 -


    - 1 - 9 - - 0 - 9 - - 0 - 5 -


    - 1 - 8 - - 1 - 1 - - 0 - 5 -


    - 1 - 8 - - 1 - 0 - - 0 - 5 -


    - 1 - 8 - - 0 - 9 - - 0 - 4 -


    - 1 - 7 - - 1 - 0 - - 0 - 4 -


    - 1 - 7 - - 0 - 9 - - 0 - 4 -


    - 6 - 6 - - - 0 - 6 -


    - 4 - 4 - - - 0 - 3 -


    - 3 - 5 - - - 2 - 8 -


    - 3 - 0 - - - 2 -


    - 2 - 9 - - - 1 - 10 -


    - 2 - 7 - - - 1 - 6 -


    - 2 - 6 - - - 1 - 4 -


    - 2 - 5 - - - 1 - 2 -


    - 2 - 3 - - - 0 - 15 -


    3. Súng thần công, mỗi phát 1 lạng thuốc súng).


    4. Súng thần cơ, mỗi phát 6 đồng thuốc súng.


    Rồi sắc rằng hằng năm thao diễn súng quá sơn đường kính 8 phân, mỗi phát 1 lạng 5 đồng thuốc súng, duy gặp việc sai phái thì vẫn theo lệ định.


    Mùa thu tháng 7, ngày mồng 1, tế Thu hưởng.


    Đê Sơn Nam ở Bắc Thành vỡ. Đê cũ ở xã Lưu Khê (thuộc huyện Thượng Phước) có phó tổng Đặng Văn Mai đào Trẫm để bắt cá, nước chảy xuôi, đê bị vỡ. Việc ấy đến tai vua. Vua dụ rằng : "Việc đê Bắc Thành đối với đời sống nhân dân lợi hại không nhỏ. Trước đã giao cho Đê chính chuyên biện, đinh ninh dạy bảo đến hai ba lần. Lúc đầu mùa hạ cứ lời tâu thì các đoạn đê lớn nhỏ đã hoàn thành, tin có thể giữ vững được. Nhưng Trẫm vẫn chưa dám chắc. Nay đê lại vỡ, sơ phòng đến hại, như thế tội ấy khó chối được. Đê chính Lê Đại Cương và Nguyễn Văn Khoa các viên trấn phủ huyện sở tại cùng với Phó tổng trấn Phan Văn Thuý đều giáng cách theo bậc khác nhau, nhưng cho lập tức tính bắt dân binh theo thế đắp lấp để giữ vụ nước mùa thu. Những nhà bị tai nạn thì phát tiền gạo chẩn cấp. Lúa ruộng tổn thương, thì đợi án khám cho giảm thuế. Kẻ phạm tội là Đặng Văn Mai thì chém ngang lưng vứt xác xuống sông”. Rồi thì chỗ đê vỡ đã hợp long ((1) Hợp long : nối hai khúc đê bị vỡ cho liền với nhau gọi là hợp long.) xong, Phan Văn Thuý tâu lên.


    Vua phê bảo : “Xem tờ tâu Trẫm rất mừng. Nhưng chưa đắp được thật cao thật dày thì chưa khỏi lo về sau. Vậy nên phái thêm 500 biền binh hợp với dân binh trước góp sức đắp thêm, sao cho mười phần chắc chắn. Dân phu thì cho chiếu cấp tiền gạo cho ; biền binh đều thưởng mỗi người 1 quan tiền. Vật liệu thì theo giá trả tiền. Lại treo giải thưởng một nghìn lạng bạc, vụ nước mùa thu này, nếu giữ được đê vững thì đem bạc ấy chiếu sổ dân binh công tác mà chia đều nhau. Phàm những người bị án trước từ Phó tổng trấn, Đê chính, đến phủ huyện đều cho khai phục, còn những người đốc công không dự vào án trước, văn từ phủ huyện, võ từ Quản vệ, Quản cơ trở lên đều được bàn thưởng. Nếu lại hỏng việc, thêm hại xóm làng, thì tội trước chưa xong, tội sau lại tới, bọn các ngươi tự nghĩ nên thế nào, không phải đợi Trẫm nói nhiều. Cố gắng đi. Trẫm ngày đêm ngóng mong tin tốt, sao xiết thức khuya ăn muộn”. Phan Văn Thuý và Lê Đại Cương tâu rằng : “Vừa rồi, binh dân sang hộ, ngày làm việc không nhiều, công việc cũng không khó nhọc lắm, mà dân phu đã giải tán về nhà rồi, vậy xin thôi cấp tiền gạo”.


    Vua dụ : “Binh dân đắp đê ta đã phê bảo thưởng cấp rồi. Triều đình bảo dân lấy lòng tín, sao vì ngày ít công nhỏ mà thôi ! Vậy phải cấp ngay”. Bọn Thuý lại tâu: “Mùa thu này sang hộ đê ngoài, công trình không mấy, mà cuối mùa đông bồi đắp đê trong tốn phí còn nhiều. Món bạc lạng treo giải thưởng, chưa nên vội cấp ngay bây giờ”.


    Vua lại dụ : “Mùa thu năm nay đê điều nếu quả giữ vững, dân được yên ở, thì lợi biết là nhường nào. Những lạng bạc để thưởng sao lại còn tiếc. Huống chi nhà nước thưởng để khuyến khích, nếu nói không tin thì thể thống triều đình còn ra gì. Nếu nghĩ rằng công nhỏ thưởng nhiều, thì đến vụ đông này sửa đắp đê trong, công việc nặng nề, dân binh tất biết cảm khích ơn ấy sẽ tranh nhau đến cùng làm việc, thì vụ nước mùa thu sau sẽ được đê vững, sông yên. Vậy lập tức đem bạc ấy chia cấp để rõ lệnh tin”.


    Lấy Vệ úy vệ Tráng võ quân Thần sách là Nguyễn Văn Cẩn làm Trấn thủ Thái Nguyên.


    Triệu Trấn thủ Quảng Yên là Nguyễn Văn Đoài về Kinh đợi chỉ. Lấy Vệ uý vệ Phấn võ quân Thần sách là Nguyễn Duy Tân làm Trấn thủ Quảng Yên. Cho Hồ Văn Triệu làm Vệ úy vệ Tả bảo nhất, Tả quân Thái công Triều làm Vệ uý vệ Tả bảo nhị, theo lời xin của Tổng trấn thành Gia Định Lê Văn Duyệt.


    Lấy Phó vệ uý vệ Hậu bảo nhị Hậu quân là Nguyễn Văn Cối làm Vệ úy, Cai đội Nguyễn Văn Lựu làm Phó vệ uý vệ Trung bảo nhất Trung quân.


    Sách án thu phẩm của Bắc Thành, trích ra số tù tội nặng hiện giam 158 tên cho là tình đúng thực, khai rõ họ tên là tội trạng do bộ Hình tâu lên.


    Vua dụ Nội các rằng : “Bọn ấy tự sa vào lưới pháp luật, sao lại chậm giết ? Huống chi gần đây bọn tù tội ở Nam Định, Sơn Nam, cùng nối nhau phá ngục, gương trước không xa, nếu để giam lâu quá, chẳng khỏi lại sinh sự. Trẫm đã xem đi xem lại hai ba lần, tội tình đều nặng cả, nghĩa phải làm tội, nghĩa phải giết đi, pháp luật không khoan dung được. Nhưng nghĩ số tù cũng nhiều, một lần giết cả, lòng Trẫm thực chưa nỡ làm. Nếu lại tham hợp chúng luận, để tỏ rõ cái ý thận trọng mạng người. Vậy hạ lệnh cho đình thần hết lòng xem kỹ, việc nào nên quyết, việc nào nên hoãn, đều biên rõ ý kiến tiến trình đợi Trẫm quyết định”. Đình thần liền trích ra 17 tên còn có một chút đáng thương, tâu xin cho giam hậu, còn thì xử quyết.


    Vua theo lời bàn.


    Những tú tài tuổi bốn chục trở lên khả kham giáo chức do các địa phương, dâng sớ cử lần lượt đến bộ. Vua sai quan sung làm chủ khảo và phân khảo (chủ khảo dùng quan Nhị, Tam phẩm, phân khảo dùng quan Tứ, Ngũ, Lục phẩm) đến Quốc tử giám, hội đồng với Giám thần đem văn thể tứ trường khảo hạch. Trước sau dự trúng hạng ưu hạng bình được 142 người, đều cho dùng bổ huấn đạo, còn người không trúng thì cho về học tập.


    Kho thóc Quảng Thịnh số 7 và số 4 bị sét đánh liền mấy hôm.


    Định lệ thuế người nước Thanh ở các địa phương. Trước đây trấn Bình Thuận xin biên những người nước Thanh ở trong hạt mà đánh thuế, vua cho bộ Hộ bàn định, lấy có vật lực hay không mà chia hạng. Có vật lực thì thu thuế mỗi năm 6 quan 5 tiền, như ngạch thuế người Thanh mới phụ ở Gia Định, không vật lực thì thu thuế một nửa, đều miễn tạp phái. Tuổi 18 thì nộp thuế, đến 61 thì miễn. Những người vô lực thì ba năm bang trưởng xét báo một lần, đã có sản nghiệp thì đem vào hạng mà thu cả thuế. Trấn Bình Hoà trở về Bắc cũng theo lệ ấy mà làm. Đến bấy giờ thành thần Gia Định tâu rằng : “Người Thanh ở thành hạt trước đã được chỉ chuẩn có tư cơ thì toàn thu, bần cố thì miễn, nay so với lời bàn của bộ thì không đúng”.


    Vua dụ Nội các rằng : “Người nước Thanh vui ở nước ta, đã đăng vào sổ đinh, tức là dân ta, có lẽ nào lại cho là bần cùng mãi mà không bao giờ chịu thuế. Nghị trước của thành thần, chưa được thực đúng. Sau bộ Hộ phân biệt hạng có vật lực và hạng không vật lực để định lệ thu cả suất hay thu nửa suất thì lại không đem nghị của thành mà sửa định, mà chỉ nói tự Bình Thuận trở ra Bắc như thế lại không phải là tỏ nghĩa đại đồng mà nêu phép hoạch nhất”. Bèn sai đình thần bàn lại, chuẩn định phàm các nơi có người Thanh đến ngụ, trừ người có vật lực nộp cả suất thuế, còn người đã có sổ mà không vật lực thì nộp nửa suất, đều lấy 3 năm làm hạn, chiếu lệ thu cả suất, không phải xét báo gì nữa, cho đỡ phiền. Gián hoặc có người mới phụ mà bần cố thì miễn trưng ba năm, hết hạn ấy mà vẫn vô lực thì cho nộp nửa suất thuế, sau ba năm nữa phải nộp cả suất như lệ”.


    Bộ Hộ làm sớ cử Viên ngoại lang ở bộ ty là Nguyễn Bá Thân thăng thự Lang trung. Vua bảo : “Nguyễn Bá Thân là ty viên bộ Hộ, thóc kho xuất nhập thì phải biết rõ, thế mà ngày nọ Trẫm đến kho Kinh, hỏi thóc chứa ở kho tạm mới là thóc ở đâu đem đến, không trả lời được. Thế thì làm việc gì ?”. Bèn không cho.


    Sửa chùa Dũng Tuyền ở núi Khai Sơn, Bình Định, phát bạc kho 300 lạng để chi cấp. (Chùa ở thôn Phương Phi huyện Tuy Cát, chỗ ấy rất danh thắng, có biển ngạch câu đối của tiên triều. Sau đổi làm chùa Linh Phong). Thả biền binh hai đội Ngân thương tam và Ngân thương tứ về Gia Định thăm nhà, đến kỳ vận tải sang năm lại trở về hàng ngũ ở Kinh. Sai thự Phó vệ úy vệ Võng thành là Trương Viết Suý cùng viên biền vệ Giám thành đến phủ Hoài Đức cùng 6 trấn ngoài ở Bắc Thành xem đo hình thế núi sông, vẽ đồ bản dâng lên.


    Nghệ An có sách Kim Lăng, dân tản ở rừng núi, lấy săn bắn làm sinh nhai, tự trước chưa thuộc vào đâu, đến nay đến trấn tình nguyện đăng sổ nộp thuế. Trấn thần tâu xin cứ hiện sổ đinh tráng 16 người cho lập sổ hộ làm sách Kim Lăng, tổng Kim Lăng lệ vào huyện Thanh Chương, thu thuế mỗi năm mỗi người một cân sáp.


    Vua dụ bộ Hộ rằng : “Xin nộp thuế sáp thì thấy nhẹ quá. Nhưng nghĩ dân ấy mới phụ nên tạm cho như thế. Đến năm Minh Mệnh thứ 14 sẽ do trấn thần lượng đánh thuế thêm và tâu lên đợi chỉ”.


    Giặc biển Chà Và nổi Trẫm ở ngoài biển Phù My trấn Bình Thuận cướp bóc thuyền buôn rồi đi. Việc ấy tâu lên. Vua dụ bộ Binh rằng : “Bình Thuận lâu nay vẫn yên tĩnh. Gần nay đã nói có thuyền buôn người Thanh đi lại đến đậu, đã phái binh thuyền đi tuần bắt. Thế mà bổ biền ((1) Bổ biền : quan võ phụ trách bắt giặc.) Quản cơ thí sai cơ Thuận nghĩa nhất là Dương Văn Đạc mượn cớ đóng quân một chỗ, trấn thần cũng không khéo điều độ để đến nỗi giặc lại thừa cơ đến cướp bóc. Việc bắt giặc như thế thực là bất lực. Trước hãy giáng chức Dương Văn Đạc ba cấp, trấn thần là Nguyễn Văn Tài đều giáng hai cấp, bắt phải tìm cách tìm bắt.


    Thành Gia Định cũng dâng sớ báo rằng các hạt Biên Hoà, Vĩnh Thanh, Hà Tiên đều có thuyền giặc đi lại cướp bóc của cải và thuyền của nhân dân.


    Vua lập tức truyền chỉ cho Tổng trấn Lê Văn Duyệt, gấp phái binh thuyền và nghiêm đốc các trấn chia đường đón bắt. Đội trường các đội Phú Cường sở Phú Quốc là Nguyễn Văn Liệt, Thứ đội trưởng là Nguyễn Văn Nghị đánh nhau với giặc ở đảo Long Cảnh [Cổ Rồng] chém được vài thủ cấp, bắt được hơn mười tên, lấy được thuyền súng ống khí giới. Thành thần đem việc tâu lên.


    Cho Liệt làm Chánh đội trưởng suất đội, Nghị làm Đội trưởng, thưởng thêm cho 30 lạng bạc.


    Bộ Binh đem những võ biền được cử vào yết kiến ở điện Võ Hiển. Nhiều người sợ hãi thất thố. Vua nhân bảo thị thần rằng : “Cái phép xem người, không phải một cách mà thôi. Nhà nước dùng người tất phải cho dẫn xem. Là bởi nghĩa tôi con làm việc đã lâu mà Trẫm chưa trông thấy mặt, cho n


    ên muốn nhân thế khiến cho đều đạt được tình ý của mình. Song có người ứng đối giỏi mà đến lúc làm việc lại lười kém, có người quá kinh sợ, mà đến lúc làm việc lại giỏi giang. Há có thể lấy một lần ra mắt mà quyết đoán được người hơn kém đâu ? Vả lại tai mắt của vua tất phải có người mà ký thác. Trẫm đã lấy các khanh làm tai mắt, thì phải nên nghĩ làm thế nào cho biết rõ được người giỏi để thờ vua, không phụ lòng Trẫm uỷ thác mà cầu nên việc, như thế là được”.


    Lập đàn chay ở chùa Thiên Mụ. Vua thương nhớ các tướng sĩ trận vong từ trước và tất cả những ma vô tự, sai lập đàn chay phổ độ dưới nước, trên cạn ở chùa Thiên Mụ. Vua đến xem, bảo các quan đi theo rằng : “Đặt đàn chay chưa biết những u hồn ở âm phủ có được thấm ơn không, chỉ là để tỏ ý Trẫm thương nhớ bề tôi mà thôi”. Việc đàn đã xong, nhà sư các hạt, vâng gọi đến Kinh, hạ lệnh cho bộ Lễ sát hạch, lấy năm chục người khá thông và hơi thông cho tiệc chay, bạc lạng cùng giới đao và độ điệp rồi cho về.


    Thành thần Gia Định dâng sớ xin cấp mộ phu cho bảo hộ Nguyễn Văn Thuỵ.


    Vua bảo bộ Lễ rằng : “Nguyễn Văn Thuỵ được nhờ ơn nước giao cho che chở một phương, thế mà không biết giữ mình trong sạch, lại tha hồ vơ vét làm mất lòng nước phiên phụ, thực là phụ lòng trông cậy của triều đình rất nhiều. Còn có công gì đáng xét. Điều xin ấy, không cho”.


    Vệ uý vệ Tiền thuỷ Thuỷ quân là Lê Văn Luận coi việc vận chở của kho Bắc Thành, bị bão trôi mất một chiếc thuyền bọc đồng lớn hiệu An hải, bị cách chức, phái theo thuỷ quân để ra sức làm việc.


    Tả tham tri Lễ bộ là Nguyễn Đăng Tuân từ tuyển trường Nghệ An về phục mệnh. Vua hỏi công việc mua đá ong xây thành, Tuân tâu rằng giá nhà nước trả có hạn, mà nhân dân lấy đá khó khăn tốn công rất nhiều. Vua dụ ngay trấn thần xét rõ tình hình thực tại tâu lên để biết rõ ẩn tình của dân. Trấn thần tâu rằng : “Công đào đá ong, lúc mới thì khó, về sau thì dễ. Duy đài tải hơn vất vả thì đã có thuyền công vận tải, không đến nỗi khổ dân”.


    Vua quở rằng : “Đá sinh có chỗ ít, có chỗ nhiều, dân vận tải có chỗ xa có chỗ gần nay bọn ngươi không xét kỹ cân nhắc, nhất khái chia mua đến nỗi gặp chỗ khó làm thì chẳng khỏi người ta phàn nàn khó nhọc, thế bảo không hại dân là gì ? Nhưng nghĩ việc xây thành trì là để vững việc phòng thủ, công việc gần xong không nên bỏ dở, vậy tăng giá trả cho”.


    Bộ Binh tâu xin chọn bổ các suất đội còn khuyết. Vua nhân bảo rằng : “Binh chế của triều đình, lớn nhỏ ràng buộc nhau, phép ấy rất tốt. Nhưng gần đây cai đội các quân có khuyết thì đều lấy người trong đội mà cắt bổ cho nhau như thế thì binh chỉ là binh mình thôi, cái tệ ấy không thể để lớn dần lên được. Nay tuy là Nam Bắc đại đồng hình như không cần phải lo xa quá, nhưng Trẫm thấy chế độ nhà Thanh phàm những chức thiên hộ, du kích, thủ bị có khuyết thì người Mãn người Hán dùng xen nhau ; cái ý không từ việc nhỏ, ngăn ngừa từ đầu cũng đáng theo đấy. Các ngươi nên nghĩ kỹ, không nên giữ mãi thói quen”.


    Thành thần Gia Định tâu rằng : 41 xã thôn phường mới lập ở bảo Châu Đốc, dân binh chỉ có hơn 800 người, địa lợi chưa có thể khai khẩn, xin rộng cho niên hạn đăng sổ chịu thuế.


    Vua dụ bộ Hộ rằng : “Châu Đốc là đất trọng yếu ở biên thuỳ, trước đã sai Nguyễn Văn Thuỵ chiêu dân khẩn ruộng lập thành thôn ấp, lại chi ra tiền gạo cho vay để làm tư bản, nhiều lần rộng nới niên hạn, không đủ sức nộp trả thì lại gia ơn miễn cho không đòi. Thật là muốn đất không bỏ hoang, dân có nghề nghiệp để lấy người giữ bờ cõi, đó cũng là một điều quan trọng về việc biên phòng. Đến như ngạch thuế đinh điền thì không thèm tính đến. Nhưng Nguyễn Văn Thuỵ không nghĩ đến việc biên phòng, chỉ chăm mưu việc riêng mình, nhân dân ở hay đi, ruộng đất khai khẩn hay bỏ hoang đều không quan tâm đến, đến nỗi lâu đến chín năm mà nhân dân còn thưa thớt, ruộng đất còn bỏ hoang, làm việc không công như thế là quá lắm. Nay thành thần đã đem tình hình thực tại tâu xin, thì gia ơn rộng miễn dung dịch cho ba năm, lại phải sức cho bọn bảo hộ Nguyễn Văn Tuyên, Bùi Đức Minh tìm cách chiêu dân đến mà vỗ về, khiến cho người ở ngày càng đông đúc, ruộng đất ngày càng mở mang, sinh hoạt đều được dư dụ, để đáp ý tốt của Trẫm gây dựng cho nơi biên giới”.


    Cho viên bị cách là Lương Vân hàm Thất phẩm và cho về quê hưu trí, cho thêm 20 lạng bạc. Vân là bề tôi cũ ở tiềm để can lỗi bị cách, nay vua gọi đến, Vân sợ hãi không nói được gì. Vua bảo bộ Lại rằng : “Vân là đầy tớ lâu đời của nhà ta, tự khi nó phải tội, ta rất thương. Nay muốn lại dùng, không ngờ tối tăm đến thế, nếu cho làm quan, chẳng khỏi lại mắc tội. Chi bằng gia ơn cho về hưu dưỡng để tỏ ý thương xót mà bảo toàn cho”.


    Tôn Thất Bằng đưa những tôn sinh tọa Giám hạch trúng ưu hạng là Tôn Thất Chính 12 người vào yết kiến ở Đông Các.


    Vua dụ Nội các rằng : “Bọn tôn sinh này đều tuổi trẻ, còn nên dạy nuôi mài giũa cho thành đồ hữu dụng. Vậy nên ở lại nhà Giám mà học tập, gia ơn thưởng cho mỗi người 2 cuốn sa nhỏ, một hộp bút mực, đợi đến mùa xuân năm Minh Mệnh thứ 19, hạch lại tâu lên, sẽ bổ dùng”.


    Ban y phục cho tự thừa và lễ sinh Quốc tử giám ; (Tự thừa một bộ, lễ sinh 20 bộ) định năm năm cấp một lần. Chép làm lệ.


    Tha nợ thóc giống cho các trấn Bắc Thành.


    Vua bảo bộ Hộ rằng : “Bắc Thành năm trước bị vỡ đê, gạo đắt, lúa mạ bị ngập, đã phát thóc kho cho dân vay, lại lượng cấp thóc giống để cho cấy bù. Gần đây vẫn chưa trả được. Năm nay gặp chính thọ tứ tuần của Trẫm, ân điển ban khắp, những thóc nợ đã tha cho cả. Tuy thóc giống cùng thóc vay không như nhau, nhưng cũng gia ơn một loạt, để cứu giúp dân. Vậy cho miễn cả”.


    Cấp mộ phu cho Quảng Oai công, Thái Bình công, cùng các trưởng công chúa (Quảng Oai công 20 người, Thái Bình công và Phước Lộc thái trưởng công chúa, trưởng công chúa thuỵ Trang Khiết, trưởng công chúa thuỵ Trinh ý, trưởng công chúa thuỵ Nhu Khiết, đều 10 người).


    Cho lấy lính nguyên thuộc phủ đệ trích bổ đủ số ; số thừa ai quê ở Thừa Thiên thì sung bổ khuyết cho các đội của vệ Hộ lăng tiền, ai quê ở Quảng Nam trở về Nam, Quảng Trị trở về Bắc thì rút về dân, đăng sổ chịu thuế. Bọn phó trưởng sử, cai đội, chánh đội trưởng, đội trưởng thuộc phủ đến do bộ đợi bổ.


    Bộ Binh tâu rằng : “Binh chế của triều đình, 10 đội làm một vệ, mà vệ Hộ lăng tiền chỉ có 9 đội, xin hạ lệnh cho sở quản mộ dân ngoại tịch 50 người sung bổ làm đội thứ 10, cho đủ lệ”.


    Vua cho là phải.


    Giặc trốn ở Bắc Ninh nguỵ xưng Tiền quân là Đào Đình Ngân Trẫm nổi ở hạt huyện Gia Bình. Phủ đồng tri Thuận An là Bùi Đình Dự đem dân binh đến bắt, đánh nhau với giặc bị chết. Quan Bắc Thành tâu lên.


    Vua dụ : “Bùi Đình Dự là một văn viên mới nghe có giặp lập tức vượt mình đến bắt, bị giặc giết chết, thực cũng đáng thương. Vậy truy tặng cho hàm Tri phủ, thưởng thêm 100 quan tiền. Quản phủ Nguyễn Đình Bình không đem quân theo bắt giặc thì giáng hai cấp”. Giặc lại cướp huyện Đông Ngàn, đốt phá hơn hai trăm nhà dân, giết hại ba chục người. Việc đến tai vua. Vua dụ bộ Hình : “Quan địa phương sở tại, ngày thường xem xét các nơi, không biết làm những việc gì mà để đến nỗi bọn cướp giữa ban ngày tụ đảng đến 700 người cướp giết phương dân, không sợ hãi gì. Các viên trấn phủ huyện đều phải giáng phạt. Nghiêm hạn cho tìm bắt. Dân sở tại bị đốt phá thì cho mỗi nhà 2 quan tiền 1 hộc thóc. Người bị chết cho 3 quan tiền, bị thương cho 2 quan tiền”.


    Rồi Đào Đình Ngân bị bổ biền là Quản cơ Nguyễn Duy Trữ bắt được, đem giết.


    Định cách thưởng bắt giặc.


    Vua bảo bộ Hình rằng : “Thưởng phạt là cái khí cụ để khuyến khích người đời, nên cân nhắc cho thích đáng. Gần đây các giặc ở Bắc Thành Trẫm nổi, mà dân binh ít người ra sức bắt nộp, có lẽ là vì cách thưởng chưa đủ khuyến khích chăng ? Phàm hổ hại người không mấy, mà bắt được một con hổ còn thưởng đến 30 quan. Giặc cướp lại hại tệ hơn hổ, mà người bắt được giặc chưa có lệnh ưu thưởng, vì thế ít người bắt nộp, không lạ gì đâu. Vả lại của cải triều đình cốt để nuôi dân. Nếu để sau khi xảy ra giặc cướp chi phí mất nhiều, sao bằng treo giải thưởng trước, khiến cho người ta ai cũng hết sức dò xét bắt giặc, để thu cái công hiệu bắt giặc yên dân”.


    Bèn chuẩn định phàm xã dân, bắt được giặc tối yếu phạm (đầu sỏ) đem nộp thì thưởng 100 lạng bạc, tố cáo được thực hay là chém được thì thưởng 50 lạng bạc ; bắt được chính yếu phạm thì thưởng 50 lạng bạc ; tố cáo được thực hay chém được thì thưởng 30 lạng bạc ; bắt được thứ yếu phạm cùng đảng kẻ cướp thì mỗi phạm thưởng 30 lạng bạc, tố cáo được thực hay chém được thì thưởng 20 lạng bạc, bắt được tòng phạm giặc thì thưởng 10 lạng bạc.


    Nếu bắt được phạm đào mả hay bắt cóc người, bắt được thủ phạm thì thưởng 10 lạng bạc, bắt được tòng phạm thì thưởng 5 lạng bạc.


    Vua lại bảo đình thần rằng : “Dẹp kẻ ác để yên dân, là việc trước nhất của chính trị. Nay từ Ninh Bình trở về Nam đã được yên ổn, duy các hạt Bắc Thành còn có bọn không chịu yên phận, thừa lúc sơ hở đi cướp bóc, đến lúc quan quân đuổi dẹp thì không thấy hình ảnh tung tích gì cả. Trẫm nghĩ các trấn tiếp thành đều không có đầm sâu rừng rậm, bọn cướp biển ẩn hiện, chẳng qua lấy nhà dân làm sào huyệt. Nếu chỗ nào cũng tìm bắt thì giặc trốn đi đâu được. Phàm giặc đã làm hại dân, dân ta há lại vui dung ẩn, để mua lo sao ? Duy từ trước đến nay người bắt giặc nộp cho quan, thì bị rầy rà khó dễ, phần nhiều bị bọn lại dịch làm khổ, đến lúc được thưởng thì qua tay lại bị mất, vì thế mà người ta ngại việc thám báo, không chịu hết lòng. Gai ác chưa hết, thực là bởi đó. Nay nên thông dụ cho các địa phương ở thành hạt : phàm dân xã bắt chém được những giặc cướp trốn, hay là tố cáo cho bắt được thực, thì quan sở tại phải chiếu theo cách thưởng mới định mà thưởng cấp ngay, không đợi án xử xong. Ai dám làm khó dễ hay bớt xén đều phải tội. Đến như những tòng phạm trốn, nếu có kẻ bắt nộp được người đồng đảng thì đều miễn tội, nếu bắt được chánh thứ yếu phạm thì chiếu cấp cho một nửa tiền thưởng theo lệ.
  • Chia sẻ trang này