0060.0010 - @Nhungpham2001 (đã soát xong)

22/1/16
0060.0010 - @Nhungpham2001 (đã soát xong)
  • CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHỊ KỶ-QUYỂN LXIX

    THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ


    Canh Dần, năm Minh Mệnh thứ 11 [1830], mùa thu, tháng 8, ngày Đinh Hợi, tế thu ở Văn miếu. Vua thân đến làm lễ. Lễ xong, dụ bộ Lễ rằng : “Ta xem lại văn hoá của người, nhớ đến bậc hiền triết đời xưa nên lên ngôi đến năm thứ ba thì đã đến Văn miếu làm lễ thánh sư, nghĩ lại đạo đức sáng rỡ, tỏ rõ lòng thành tôn sùng. Đến nay đã gần mười năm, vừa gặp chính thọ tứ tuần của Trẫm, đã giáng chỉ định đến mùa thu năm nay, thân đễn làm lễ. Nay lễ đã chu toàn, cúi nghĩ ngửa trông cốt để tỏ lòng hâm mộ mà đón Phước lành. Lòng ta thực là vui thoả. Vậy nên rộng suy ân điển, gia ơn sĩ phu, thưởng cho tế tửu, tư nghiệp, học chính ở Quốc tử giám đều một tháng tiền bổng. Các tôn sinh, cống sinh, ấm sinh tọa Giám cũng thưởng mỗi người một tháng tiền lương”. Vua lại nói : “Cung tường Văn miếu cùng đồ thờ chưa được thực đẹp, lòng Trẫm có chỗ chưa yên. Nghĩ lại thánh nhân làm thầy muôn đời, tự xưa các đế vương sáng suốt không ai là không biết tôn trọng. Nay nhà nước nhàn rỗi, há chẳng nên sửa sang một phen, để tỏ ý tôn thầy trọng đạo sao! Bọn ngươi nên bàn kỹ về nghi chương tâu lên, đợi Trẫm xét định”.


    Đến lúc xa giá trở về, qua chùa Thiên Mụ, bảo bầy tôi rằng : “Toàn cục chỗ này thực là núi sông tốt. Trẫm từng muốn dời Văn miếu về đây. Nhưng lại nghĩ chùa này là do Thái tổ Gia dụ hoàng đế dựng lên, các thánh nhân theo thờ, đến Thế tổ Cao hoàng đế ta dựng lại cơ đồ, dựng lại nền cũ. Nay nếu dời đổi lòng thực không yên. Cho nên không thể không cứ theo cũ, chỉ ở đằng trước Văn miếu đắp bờ bán nguyệt cho ngọn nước khỏi xói lở, để văn mạch được thịnh”.


    Cho các vệ đội Tả bảo, Minh nghĩa, Tả sai ở thành Gia Định và Hùng dũng ở Bắc Thành, khi lên phiên xuống phiên đều theo địa hạt mà chiếu cấp lương ăn đường. Từ trước binh lính thay phiên, lệ không được lương ăn đường. Vua nghĩ : những vệ đội này quê quán xa xôi, đi lại thay đổi phải mang lương theo cũng khó, cho nên đặc cách cho lương.


    Ngày Canh Dần, tế thu ở miếu Lịch đại đế vương. Vua thân đến làm lễ. Quan Bắc Thành tâu rằng : “Hải Dương đông nam liền biển, đường sông chằng chịt dùng thuyền đi lại không thể ít được. Trước đã định ngạch thuyền là 15 cái, mà cơ binh tỉnh ấy, ngày thường lại không tập bơi chèo. Xin trích hai đội của cơ Tứ dực Thuỷ quân thuộc thành cho theo trấn quản mà quản giữ. Vẫn theo lệ năm quân mà đổi thú, sáu tháng một lần, như thế đến lúc có việc điều khiển mới có thể đắc lực được”.


    Vua cho. Rồi đổi định mỗi năm một lần đổi.


    Dựng công sảnh Hàn lâm viện (ở bên hữu Quốc sử quán). Trấn thủ Bình Thuận là Nguyễn Văn Tài chết. Lấy Vệ uý vệ Tả nhị Vũ lâm là Hoàng Văn Điếm lĩnh Trấn thủ Bình Thuận.


    Bắc Thành lấy học trò trong hạt thành là bọn Hoàng Bỉnh Dy và Ngô Thập sung vào ngạch cống cử, bộ Lễ tâu rằng Bỉnh Dy là dòng dõi Hoàng Ngũ Phúc, Thập là em Ngô Hiệu, Ngũ Phúc có tội với bản triều, Hiệu thì có tên ở sổ nguỵ, Dy Thập không nên cho đứng hàng ngang với kẻ sĩ áo xanh. Vua bảo rằng : “Nhà nước đã có thể thống hà tất bo bo giữ hình tích làm gì. Vả bội nghịch vô đạo như Tây Sơn còn không nỡ giết hết cả họ, nữa là Hoàng Ngũ Phúc và Ngô Hiệu, tội chỉ ở bản thân nó, chứ con cháu thân thuộc có can gì. Không nên quá câu nệ. Hoàng Bỉnh Dy và Ngô Thập có thể đều cho Giám thần xét hạch, nếu dự trúng cách thì cũng cho học ở Quốc tử giám.


    Bộ Hộ lường lại số thóc kho Quảng tịch số 1 thiếu mất hơn 7.800 hộc. Việc tâu lên. Vua dụ Nội các rằng : “Kho chứa thóc là việc quan trọng, nhiều lần vỡ án hàng vạn hàng nghìn mà nay đọng lại thiếu nhiều như thế, thực là trước mắt không có pháp luật. Xét ra sự thông đồng chia tay nhau, không thể đổ cho người giám thủ cũ mà thôi, những chủ thủ biền binh cũ mới đều giao cho bộ Hình bắt xiềng để tra xét; đường quan bộ Hộ, không biết ngăn ngừa trước, cũng đều nghị tâu lên; các chức chánh phó giám đốc cùng chủ sự, tư vụ ở kho thì giao cho đình thần cử ngay người thay. Lại dịch, biền binh thì do 2 bộ Lại, Binh chiếu lệ chọn bổ”. Đình thần bàn tâu cho rằng : “Kho thóc ở Kinh là chỗ gồm chứa vật quốc dụng quân nhu, quan hệ rất lớn. Chọn bổ người làm việc, tất phải dùng giản binh, tất phải lấy toàn đội, mới là thận trọng. Nhưng khiến họ làm việc thường xuyên mà lâu không thay đổi, thì tập quen lối xấu, dễ sinh tệ hại. Sợ chẳng khỏi lại như bọn biền binh cũ mới vừa bị vỡ chuyện đó. Xin nên lấy một năm làm hạn. Năm nay trước cứ dinh Vũ lâm thì phái ra một đội (biền binh hơn 100 người), các vệ trực ban quân Thần sách thì hai đội. Năm sau bốn dinh cấm binh phái ra hai đội, các bảo của các quân thì hai đội, hằng năm cứ ngày mồng 1 tháng 7 thì thay ban. Hết lượt lại quay lại. Như thế thì những biền binh coi giữ đều là đội khác vệ khác xét giữ lẫn nhau, ngõ hầu không có cái tệ thông đồng lấn bớt”.


    Vua theo như lời bàn mà làm. Lại thấy chủ thủ đều bị tội, bắt bộ Hộ điền bổ sợ không đủ người, hạ lệnh cho bộ Lại trích lấy 15 người bát cửu phẩm vị nhập lưu ở bộ Hộ, còn 18 người thì do năm bộ cùng các nha Thái thường và Quang lộc chọn bổ. Sau này có khuyết thì vẫn chiếu lệ do bộ Hộ sung điền.


    Cho thự Phó vệ uý chư quân là Vũ Đăng Trinh làm Phó vệ uý giám đốc thự Kinh thương, Cai đội Giáp Văn Tân làm Phó giám đốc. Trước là đình thần sớ cử bọn Trinh, đưa đến bộ dẫn vào ra mắt. Vua xét bọn ấy tiến tâu nhiều điều khó coi, nhưng nghĩ đã được đình thần đề cử, chưa nên lấy lời nói nét mặt mà bỏ người, sắc cho ai là chủ cử thì phải làm tờ tâu. Bọn Trần Văn Năng và Nguyễn Văn Xuân hội hàm[1] bầu cử. Vua bèn cho. Nhân dụ đình thần rằng : “Cử người thờ vua là chức phận bầy tôi. Tất cả cho là việc khó, và phải cẩn thận, sao cho được người giỏi. Tự nay phàm có chỉ giao cho đình thần đề cử. Người được cử ai biết mà đề xướng trước và được mọi người đồng ý, thì trong tờ tâu dưới tên người được cử phải chua rõ tên chức hàm người chủ cử biết rõ người ấy khả kham chức ấy, ghi rõ lời xét.. Nếu người ấy sau này không làm nổi việc thì chỉ hỏi người chủ cử. Các khanh nên giữ lòng công mà chọn kỹ, không được cử bừa người bậy. Cũng không nên cho rằng tự mình xét tinh mà không nghĩ đến việc biểu dương người tốt”.


    Lấy thự Hữu thị lang Binh bộ lĩnh Binh tào Bắc Thành là Trần Thiên Tải làm thự Hiệp trấn Thái Nguyên.


    Chuẩn định tự nay phàm sổ tâu chi tiêu do các nha Nội tạo, Thượng trà, Thượng thiện, Thái y, Kim thương, Tài hoa, Lý thiện thuộc phủ Nội vụ phụng giữ, thì chỉ những vật kiện đệ tiến vào nội cung cùng những món ân thưởng bất kỳ là vẫn do phủ Nội vụ cứu xét, vâng lời chỉ phê. Còn ngoài ra những việc đã phụng chỉ thưởng cấp cùng những việc thuộc về các nha lĩnh nộp mà chiếu thường chi thu thì đều do bộ Hộ xét thực chỉ phê mà tuân hành.


    Sai bọn quyền lĩnh Vệ uý Tả thuỷ là Đoàn Dũ, Tu soạn Nội các là Đào Trí Phú đi thuyền lớn Uy phượng đến đất Lữ Tống làm việc công. Vừa gặp quá mùa gió ngược không tiện đi thuyền về phía đông, vua đổi phái đi về phía nam đến Giang Lưu Ba (Gia-các-ta). Bọn quan bị cách là Đặng Văn Khải, Nguyễn Đình Tân theo thuyền ra sức.


    Giặc biển Chà Và lại trộm nổi ở Hòn Rái thuộc Hà Tiên, đem đồ đảng lên bờ đóng trại đặt súng. Phó quản cơ cơ Vĩnh Bảo hậu là Nguyễn Văn Nghi đem thuyền đi tuần xét, gặp giặc, hai bên bắn nhau. Chánh đội trưởng cơ Hà tiên là Mạc Hầu Hy sấn lại cùng đánh, thuyền mắc cạn mà Nghi không đến cứu. Có quyền sai đội trưởng là Lê Đồng xin lên bờ đánh giặc, Nghi viện cớ quân giặc nhiều, quân mình ít, không địch nổi, rút ngay quân lui về. Hy bị thương nặng, phải bỏ thuyền chạy.


    Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt đem việc tâu lên, vua dụ rằng : “Trước đây giặc biển trộm nổi, đã xuống nghiêm chỉ, phái ngay binh thuyền tìm bắt. Nay bọn giặc như thế mà quan địa phương chẳng biết gì, thì đủ biết gần đây những chiếu chỉ đều xem như không. Bổ biền Nguyễn Văn Nghi, mình cầm binh thuyền, ngồi trông thấy biền binh bị khốn, mà không đến cứu, đến nỗi hỏng việc thực là hèn nhát, cho đem chém đầu ở trước quân cho quân sĩ biết. Mạc Hầu Hy thế cô không có viện thì tạm tha xử. Binh lính chết trận ba người thưởng mỗi người 10 quan tiền. Đến như Lê Đồng là một quan võ nhỏ thấy thế nguy bách mà lòng biết căm tức, tự xin lên bờ giết giặc, dẫu bị tướng hèn ngăn trở, không được thành công nhưng mà hăng hái như thế, cần phải biểu dương để khuyến khích người sau. Vậy cho Lê Đồng thực thụ đội trưởng và thưởng cho một cái áo nhung bông. Ngày dụ này đến nơi, nếu việc bắt giặc chưa xong thì phải xét xem trong các trấn thủ Vĩnh Thanh, Hà Tiên, hoặc quan võ ở thành ai là người giỏi giang đắc lực thì chọn lấy một viên đem vài trăm biền binh đủ súng ống quân nhu chia nhau đi thuyền đến ngay chỗ giặc đóng hết sức đánh bắt, sao cho một trận thành công. Lại treo giải thưởng không cứ dân hay binh ai bắt được một tên giặc thì thưởng 6 lạng bạc, chém được một đầu giặc thì thưởng 3 lạng bạc, bắt sống một tên đầu mục thì thưởng 10 lạng bạc, chém được một đầu thì thưởng 5 lạng bạc, bắt hay chém được tù trưởng thì thưởng gấp đôi so với đầu mục”. Giặc lại đón cướp thuyền buôn ở phần biển Sôi Rạp (chỗ Phiên An Định Tường giáp giới nhau). Bổ biền là Quản cơ cơ Phiên bình tiền là Trương Công Lợi, Thủ ngự là Nguyễn Văn Quế bị giáng bốn cấp, định hạn cho tìm bắt giặc. Phó quản cơ cơ Vĩnh Bảo tiền là Trương Văn Bảo đánh nhau với giặc ở Cu Châu (thuộc thủ An Thái trấn Vĩnh Thanh), bị giặc đánh thua, sai chiếu quân luật đem chém.


    Dụ Lê Văn Duyệt rằng : “Ngươi mình mang trọng trách. Bọn giặc tí tẹo ấy thừa sơ hở, quấy rối mặt biển thế mà phái đi đều những võ biền hèn mạt, không thu công sớm, lại đến lỡ việc, còn ra sự thể gì nữa! Phải gia tâm điều độ, khẩn sức biền binh tiến đánh cho yên mặt biển”.


    Gia Định dâng sớ báo việc bắt giặc Chà Và, trạm chạy có sáu ngày đến Kinh. Vua khen rằng : “Từ rậm núi Gia Định đến Kinh đường đi 2.000 dặm, lại nhiều rừng cao, trèo đèo lội suối vất vả lắm, thế mà phu trạm một ngày đêm chạy đi được 318 dặm thực là nhanh chóng. Vậy hạ lệnh các trạm dọc đường tự trạm Kinh trở về Nam, xét xem, những phu trạm nào đệ nhanh đó thì thưởng cho mỗi người 3 quan tiền.


    Quan Bắc Thành tâu rằng : “Chức Tư vụ ở cục Tạo tác trong chiếu văn có chữ “chuyên biện” thì nên cùng với Lang trung và Chủ sự đều ở vào hàng giám lâm”.


    Vua bảo Nội các rằng : “Đặt quan chia chức trên dưới đều có thống thuộc. Trước đây bộ nghị có chữ chuyên biện cục vụ là chỉ chung tự lang trung đến thư lại mà nói, nay lại nhất khái nhận làm giám lâm thì có phải không? Thành thần tâu như thế là câu nệ quá, mà bộ Lại viết chiếu đều viết là “tòng tào chuyên biện” thì cũng chưa được rõ ràng. Vậy chuẩn định từ nay, phàm cấp sắc cho ty viên các cục thì phải phân biệt giám lâm, chủ thủ, vẫn phải viết rõ mấy chữ viên giám lâm theo tào trưởng kiêm quản viên, chủ thủ lại theo giám lâm quản nhiếp cho rõ ràng, để có thống thuộc”.


    Trấn Ninh dâng một con voi đực và 30 con ngựa.


    Giá gạo ở Kinh sư giá đắt.


    Vua dụ bộ Hộ rằng : “Gần đây nhân gạo Bắc Thành giá đắt, giá các hạt cũng theo mà nhảy lên, chính phải điều chữa cho dân được đủ ăn. Vậy lập tức tư cho các địa phương từ Bình Hoà trở về Bắc, phàm những vật hạng cần mua nhân dân bằng lòng bán cho nhà nước thì cho phát thóc kho, cứ giá thị trường giảm một hai phần mà trả cho dân”.


    Lại dụ rằng các sắc biền binh ở Kinh đào lấy đá núi đem nộp tại hai bờ sông Ngự Hà, mỗi một đống đá cấp cho 13 hộc thóc. Nhân dân thì cho chở đá đến nộp tại bờ sông Hương ngoài quách phía Nam, cứ một đống đá cho thêm một hộc thóc.


    Binh các vệ Thần cơ Long võ giữ kho Nội tạng và kho Kinh, có người mượn người phục dịch thay. Việc phát, vua sai bắt trị tội. Nhân dụ bộ Hình rằng : “Binh là để giữ nước cho nên tên đã ở sổ quân thì thân phải ở hàng ngũ, thời bình thì luyện tập, có việc thì sai phái điều động, như thế mới mong có thể đắc lực được. Bởi vậy, việc quân nhân phục dịch thay luật đã nói rõ là để cho người ta dễ tránh mà khó phạm vậy. Vừa rồi binh Thần cơ Long võ là cấm binh mà còn khinh nhờn pháp luật thì binh khác chẳng hỏi cũng biết. Cái tệ ấy không trừ thì sợ có thể làm hỏng việc không phải nhỏ. Từ nay các sắc binh lính trong ngoài, nếu còn quen thói cũ mượn người phục dịch thay, một khi phát hiện ra, tất đem người mượn người thay đều chiếu luật nghiêm trị. Quản suất cho đến chưởng lãnh cũng giao bộ nghiêm nghị. Như thân binh cấm binh có phạm thì tự kẻ phạm đến chưởng lãnh đều trị tội hơn một bậc. Vậy đều phải kính cẩn tuân theo không được bỏ qua”.


    Xây đắp cống nước ở mặt sau phường Khánh Mỹ trong kinh thành. Quan Bắc Thành tâu rằng : “Hằng năm sổ đinh điền lệ định cứ 5 tháng phải đệ đến Kinh. Nhưng 11 trấn Bắc Thành cùng phủ Hoài Đức số sổ sách rất nhiều, từ trước vẫn chuyển về Hộ tào phần nhiều không kịp hạn. Xin từ nay do các quan trấn và phủ làm sổ. Sơn Nam, Sơn Tây, Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Hoá, thì lấy ngày 5 tháng 4, Nam Định, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Quảng Yên, Lạng Sơn thì lấy ngày 10 tháng 4, Cao Bằng thì lấy ngày 15 tháng 4 hiện đã đệ đến thành. Hộ tào làm tổng sách đến ngày 20 tháng 5, nộp cả lên bộ”.

    Vua theo lời tâu.

    Lấy Phó vệ uý Dương võ quân Thần sách là Trần Hữu Lễ làm thự Vệ uý vệ Phấn võ, Thành thủ uý là Nguyễn Văn Phượng làm Phó vệ uý vệ Dương võ, Phó vệ uý vệ Tuyển phong tiền là Nguyễn Văn Kỳ làm thự Vệ uý vệ Diệu võ, Thành thủ uý là Nguyễn Văn Nghị làm Phó vệ uý vệ Tuyển phong tiền, Phó vệ uý vệ Cường võ là Trần Đức Vịnh làm thự Vệ uý vệ Trang võ, Cai đội vệ Cẩm y là Trần Văn Thọ làm Phó vệ uý vệ Cường võ. Thọ là con thự Tiền quân Trần Văn Năng, được mệnh thì ốm chết, cho một cây gấm Tống, 100 quan tiền. Lấy Tả thị lang Binh bộ là Hoàng Công Tài làm Hữu thị lang Hộ bộ, thự Hữu thị lang Hộ bộ là Nguyễn Danh Giáp làm thự Tả thị lang Binh bộ vẫn sung chức Toản tu luật lệ.


    Định lại nhật kỳ cho Bắc Thành tâu báo về việc nước sông đã yên.


    Vua dụ Đê chính rằng : “Trước định hằng năm lấy ngày 15 tháng 8 thì Đê vụ Bắc Thành tâu báo về việc nước sông đã yên. Năm ngoái sau khi tâu báo, đến ngày 26 có ngày bão lụt. Vì bỏ lơi việc phòng bị nên xuýt phải nguy to, giữ được yên ổn là may đấy thôi. Vả lại nước ta ở về phương Nam, trời nóng, cuối mùa thu mưa lụt còn nhiều, há nên vội bỏ lơi. Vậy chuẩn định hằng năm cứ 9 tháng, không kỳ ngày nào đến tiết sương giáng [2] mới tâu báo nước sông đã yên, dù trước đêm ấy cũng còn phải ngày đêm phòng giữ, khiến cho có phòng bị thì không lo, mừng được yên vui mãi”.



    Khai mỏ sắt Quảng Hoà ở Cao Bằng (ở xã Kim Phô châu Thạch Lâm, mỗi năm thu thuế sắt 1.000 cân. Quảng Hoà sau đổi làm Ích Thành).


    Định lại lệ Quảng Nam tiến quả loong boòng[3] . Vua dụ bộ Lễ rằng : “Quả này là để tiến vào những lễ tiết hưởng, kỵ và cơm mới ở Tôn Miếu. Dẫu đủ phẩm vật để tỏ lòng kính, nhưng lễ ý không quý ở nhiều. Nay theo lệ lấy tiến quả đến 13, 14 giỏ, đài đệ theo trạm tốn nhiều sức dân. Vậy hạ lệnh từ nay mỗi kỳ cung tiến lấy 6 giỏ làm hạn. Chép làm lệ”.


    Ban cho các hoàng tử tước công và các quan văn võ từ Tam phẩm trở lên các thứ tiền vàng, tiền bạc, tiền đồng to, bầu rượu bằng ngà, hầu bao gấm, hộp thiếp vàng theo thứ bậc.


    Định lại lệ cấp tiền cho các xưởng đóng hiệu thuyền mới (thuyền Ba hiệu trước cấp 250 quan tiền, nay định là 270 quan, thuyền Hải hiệu trước cấp 40 quan, nay định là 50 quan).


    Phủ Thừa Thiên lúa mùa được mùa to.


    Bộ Hình tâu dâng ba sách án thu thẩm về hạng tội hình đúng thực, hạng hoãn quyết, hạng đáng thương còn ngờ, cộng 392 tên.


    Vua dụ : “Tự trước sách án thu thẩm đều giao cho đình thần bàn lại tâu lên, trong ấy có những án tội trạng rõ ràng thì cho bắt giam, tình lý nên thương thì lượng giảm, như thế là để rõ cái ý cẩn thận việc ngục, thương xót việc hình. Năm nay gặp khánh tiết chính thọ của Trẫm đã có các điều thi ân, tuyên bố khắp nơi, một việc ngục hình cũng nên chước lượng khoan hồng để rộng ơn lớn. Nay sách án này, nếu chiếu lệ lại giao đình thần bàn thì chỉ thêm bận giấy tờ, mà trong đó có những kẻ tình đúng tội đáng, Trẫm cũng không nỡ bắt giam. Nếu nhất khái không xét lại, thì những người tội hình hơi nhẹ lại giam lâu. Vậy hạ lệnh cho đình thần đem ba tập sách án này cùng nhau bàn bạc xét lại kỹ càng, xem có việc nào hơi có chỗ đáng thương đáng ngờ nên lượng giảm thì trích ra bàn kỹ đợi Trẫm chuẩn định. Ngoài ra những việc tội tình xác đáng, cùng việc nên lưu hoãn quyết và việc giam cấm đợi xét thì đều không cần bàn lại”. Đến khi bản tâu dâng lên, vua cho khỏi tội chết phát đi làm quân làm binh 40 người.


    Vua nghĩ còn có người vì ngu lầm mà nên tội, tình cũng đáng thương, lại sai để lại tập án để xét đi xét lại ba bốn lần, trích ra bọn quan phạm tội là Vũ Huy Đạt, Vũ Đức Thông 40 người, giảm tội và phát vãng theo thứ bậc. Trong ấy có 10 người can việc án mạng, sắc cho bộ Hình tư về địa phương sở tại đòi nộp tiền mai táng 20 lạng bạc để cấp cho nhà người chết. Nếu người chết không có người rất thân giao tiền mai táng được thì người phạm tội không cho giảm tội chết. Từ nay về sau, việc thu thẩm chiếu theo lệ ấy mà làm.


    Bộ Hình lại tiến trình sách riêng của Bắc Thành kê 118 phạm nhân lưu giam. Vua cho rằng bọn này tội danh chưa định, nếu nhất khái lấy mối ngờ mà giam cấm lâu mãi thì lòng chưa yên. Hạ lệnh cho đình thần nghị lại lần nữa. Rồi cho phát vãng làm quân làm binh 33 người, tha bổng 3 người.


    Tháng 9, định lại điển lệ ở miếu Lịch đại đế vương. Trước đây nghị định miếu thờ ngũ đế tam vương[4] và các vua đời trước của nước ta, trong ấy có Sĩ vương Nhiếp và Lê Anh tông cũng dự.


    Đến nay bộ Lễ tâu rằng : “Kính xét Sĩ vương Nhiếp ở triều Đông Hán làm Thứ sử Giao Châu, chưa từng là chính vị làm vua, không phải chính thống của nước ta rõ lắm. Duy văn hoá nước ta tự Sĩ vương bắt đầu, học tổ nước Nam tiếng còn văng vẳng. Nói về công đạo học thì chính nên tòng tự ở Văn miếu. Xin đợi điển thờ ở Văn miếu nghị định xong, sẽ bày vào dưới Hán nho Trịnh Tử Huyền. Ở nhà Tây vu không nên bày thờ miếu chính thống. Lại xét Lê sử tục biên chép rằng : “Anh Tông cùng bốn người con đang đêm chạy ra ngoài, đến Nghệ An bị Trịnh Tùng bức chết. Cứ như thế thì Anh Tông dẫu không phải là vua vô đạo, nhưng đương lúc nguy nghi như vậy mà bỏ xã tắc đến nỗi không được trọn đời sau, giường mối đã lộn xộn rồi, há có thể cùng thờ với các vua chính thống được sao ! Xin không nên liệt vào miếu tự cho đúng điển thờ”. Vua cho là được.


    Vua bảo bộ Hình rằng : “Năm nay tự cuối mùa xuân đến đầu mùa thu, giặc biển ở các hạt Quảng Bình, Thanh- Nghệ đã nhiều lần giáng chỉ bảo thông sức cho các địa phương ven biển phàm thuyền không cùng thuyền chở một ít hàng hoá của người nước Thanh đến đậu ở hạt, tình có khả nghi thì lập tức bắt tra hỏi, lại nghiêm sức cho các tấn thủ trong hạt cùng dân binh ven biển như có giặc người Thanh ngầm lên bờ lấy nước, lấy củi lập tức bắt giải quan. Nay tiết đã sang mùa đông, hay tạm nói sự ngăn cấm. Lại truyền dụ cho quan các địa phương hằng năm từ tháng 2 đến tháng 9, như có giặc biển thì theo chỉ trước mà bắt giải, sang mùa đông thì thôi. Chép làm lệ mãi mãi”.


    Đặt thêm chức hàm Chưởng cơ võ giai, trật Tòng nhị phẩm, đổi Vệ uý vệ Vũ lâm là Hoàng Văn Điếm làm Chưởng cơ vẫn lĩnh Trấn thủ Bình Thuận.


    Các hoàng tử vào hầu. Vua sai Nội các vời trưởng sử các phủ truyền dụ rằng : “Các hoàng tử còn trẻ, các ngươi nên khuyên bảo cho được ngày tháng tiến lên để lòng đọc sách, hơi thấy lười biếng thì phải bẩm ngay, nếu không nghe thì đem việc tâu lên, nếu cho là việc ngẫu nhiên thì lỗi không nhỏ đâu. Lại ngạch binh thuộc phủ phải biên rõ tuổi và quê quán cho đúng, nếu thay thế giả mạo mà việc phát ra thì trị tội nặng”.


    Vua cùng với Nội các là Hà Quyền và Trương Đăng Quế bàn bạc về thư tịch rằng : “Đạo trị nước xưa nay khác nhau. Mạnh Tử bàn về vương chính rằng : lưới nhặt không cho xuống ao thì cá và ba ba ăn không thể hết; rìu búa vào núi rừng đúng thời thì gỗ lạt không thể dùng hết, phàm cá phải đẫy thước mới ăn, gỗ phải thành ôm mới dùng, phép ấy đem thi hành vào ngày nay thì dân ta không đến nỗi nghèo túng đâu. Lời nói của Mạnh Tử chan chát thiết thực, không phải là viển vông đâu. Nhưng mỗi đời một khác, việc không giống nhau nên không thể câu nệ được”.


    Vua lại nói : “Lời nói của Khổng Tử nghĩa lý hồn nhiên. Như nói vua phải đạo vua, tôi phải đạo tôi, cha phải đạo cha, con phải đạo con là nói tự nhiên, từ Mạnh Tử trở xuống, chưa khỏi có chỗ nói lệch một bên”.


    Lại nói : “Đời sau có người lấy đức vua như Nghiêu, Thuấn mà chúc tụng vua thì được. Nếu lấy nết bề tôi như Nghiêu, Thuấn, mà chúc các bề tôi thì không được. Bởi sao thế? Nghiêu, Thuấn, Vũ ba đời đều họ khác mà nhận ngôi mà lời âu ca lễ triều cận[5] đều cho là đời vái nhường là phải. Nhưng đời sau thì đạo làm tôi có nên bắt chước như thế không? Văn Thiên Tường nhà Tống giúp Đoan và Bính trong khi điêu đứng ở đất Mân đất Hàng, há chẳng biết rằng mệnh trời đã về nhà Nguyên sao? mà còn liều lĩnh chết để mà giữ tiết. Sao có thể lấy việc không ca ngợi nhà Nguyên mà chê Văn Thiên Tường được chăng”.


    Tuyên uý đồng tri phủ Trấn Tĩnh là Phọc Khâm Thuận La Ny trấn Nghệ An giết thuộc viên là Lê Khắc Thoan, vì Khoan trước nhân việc gian gây ra án mạng, sau lại họp đảng đi ăn cướp, nên bắt được đem giết. Trấn thần là Nguyễn Văn Hiếu xin trị về tội tự tiện giết người.


    Vua dụ bộ Hình rằng : “Sinh sát là quyền lớn của triều đình, kẻ thần hạ không được tự chuyên, ai dám lấn vượt thì phép thường không tha được. Trấn Tĩnh đã thuộc về đồ bản nước ta, dân trong hạt đều là con đỏ của triều đình. Nay lại quen thói cũ mà làm bậy, thực là trái phép. Nhưng tạm nghĩ nó mới theo về, chưa hiểu pháp luật kỷ cương mà Khắc Khoan tội ác đã nhiều, nó lấy sự cấm trấp không nghiêm làm trách nhiệm mà giết đi để răn kẻ thuộc hạ, tình cũng nên tha. Vậy gia ơn cho miễn nghị”.


    Lại dụ cho hai trấn Thanh- Nghệ truyền chỉ cho các phủ mới thuộc rằng tự nay phàm những việc tầm thường thì cho theo tục cũ, còn nhân mạng là việc trọng thì phải báo trấn xin chỉ, không được theo thói cũ chuyên quyền làm bậy như trước”.


    Đổi bổ Hồ Văn Lưu làm Phó vệ uý vệ Thần sách vẫn đeo hàm tập ấm Ân kỵ uý và Hồ Văn Thập làm Thành thủ uý đài Trấn Hải. Lưu và Thập đều là con tặng Thống chế Hồ Văn Bôi, mà Lưu là con trưởng. Lưu trước bổ Cai đội năm đội vệ Trung nhất quán Vũ lâm, Thập dâng sớ xin lấy chức Tòng tam phẩm Vệ uý của mình nhường cho Lưu để phụng thờ tổ tiên. Đã được chỉ dùng Lưu làm Vệ uý, Thập đổi làm Thành thủ uý. Đến nay theo chức khuyết mà bổ.


    Bắc Thành giá gạo đắt. Vua muốn lấy công tác mà thay phát chẩn, truyền dụ cho thành thần cứ những thành phủ chưa đắp thì sức cho sở tại trù tính nhân công vật liệu, nên thuê, nên mua thế nào để làm cho kịp lúc việc nông đương rỗi này để giúp dân đói ăn. Rồi thấy giá gạo rẻ xuống, lại hạ lệnh chỗ nào vật liệu đã đủ thì cho thi công, còn thì tạm hoãn.


    Lại dụ bộ Công rằng : “Các phủ huyện Bắc Thành trước đã cho đắp thành đất. Nhưng lại nghĩ đặt thành trì để phòng thủ được vững bền, cũng nên chỉnh lý một lần để làm kế yên rỗi lâu dài. Vậy hạ lệnh cho thành thần, chuyển sức cho các trấn, cứ những thành phủ huyện chưa đắp, chỗ nào có thể nung gạch được thì theo quy cách do bộ đưa ra mà trù mua, chỗ nào nung gạch khó khăn thì vẫn đắp thành đất để cho giản tiện”. Thành thần liền tâu xin thành các phủ huyện thì chỉ bốn huyện Lục Ngạn, Kim Hoa, Việt Yên, Gia Bình nên xây gạch, một huyện Hiệp Hoà nên xây đá ong, còn 10 phủ (Từ Sơn, Thiên Phúc, Quốc Oai, Quảng Oai, Đoan Hùng, Thường Tín, Bình Giang, Nam Sách, Nghĩa Hưng, Tiên Hưng), 59 huyện (Gia Lâm, Văn Giang, Lang Tài, Yên Phong, Quế Dương, Tiên Du, Yên Dũng, Yên Thế, Bảo Lộc, Hữu Lũng, Từ Liêm, An Sơn, Thạch Thất, Mỹ Lương, Yên Lãng, Minh Nghĩa, Bất Bạt, Thanh Ba, Hoa Khê, Tam Nông, Hạ Hoà, Hùng Quan, Tam Dương, Yên Lạc, Lập Thạch, Phù Ninh, Phú Xuyên, Hoài An, Thanh Oai, Chương Đức, Đường Hào, Thanh Hà, Tiên Minh, Đông Triều, Thuỷ Đường, Nghi Dương, An Dương, An Lão, Thanh Miện, Tứ Kỳ, Gia Lộc, Phụ Dực, Thuỵ Anh, Quỳnh Côi, Thanh Quan, Duyên Hà, Hưng Nhân, Thư Trì, Chân Định, Nam Chân, Thượng Nguyên, Ý Yên, Đại An, Phong Doanh), hoặc có chỗ đất đai cứng rắn, hoặc có chỗ rừng núi ngăn trở, nung gạch là một việc rất khó. Xin vẫn theo chỉ trước mà đắp thành đất. Vả lại xây thành gạch hay đắp đất cũng nên theo địa thế. Năm huyện xây gạch và đá thì chiếu theo quy cách của bộ đưa ra mà làm. Các phủ huyện đắp thành đất thì xin giảm bề cao thêm bề rộng cho được chắc chắn.

    (Cách thức xây đắp thành do bộ đưa ra : Thành phủ ngoài cao 9 thước, trong cao 6 thước, giữa lấp đất, mặt dày 7 thước 7 tấc, chân dày 7 thước 9 tấc, thành huyện ngoài cao 8 thước 5 tấc, trong cao 5 thước 5 tấc, giữa lấp đất, mặt dày 6 thước 3 tấc 5 phân, chân rộng 6 thước 5 tấc. Nay xin thành phủ theo cách thức thành phủ Lý Nhân, ngoài cao 7 thước 2 tấc, trong cao 4 thước, mặt dày 8 thước, chân rộng 1 trượng 5 thước, thành huyện theo cách thức thành hai huyện Nam Xang


    [1] Hội hàm: hai, ba người cùng đứng tên một tờ tâu vào quan hàm của mình.

    [2] Tiết sương giáng: tiết cuối thu.

    [3] Quả loong boòng: tên chữ là nam trân.

    [4] Ngũ đế: năm vua là Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Đế Nghiêu, Đế Thuấn.

    Tam vương: ba vương là Hạ Vũ, Thương Thang và Chu Vũ Vương đều là các vua đời xưa của Trung Quốc.


    [5] Triều cận: lễ chư hầu chầu thiên tử, mùa xuân gọi là triều, mùa thu gọi là cận.
  • Đang tải...
  • Chia sẻ trang này