0060.0011 - @doanvo (đang soát lỗi)

20/1/16
0060.0011 - @doanvo (đang soát lỗi)
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    và Duy Tiên, ngoài cao 7 thước 2 tấc, trong cao 3 thước 7 tấc, mặt dày 8 thước 3 tấc, chân dày 1 trượng 5 thước).


    Vua đều cho y lời xin mà làm.


    Chế triện đồng vuông để hội đồng đánh dấu của công. Sắc từ nay phàm bốn nha (Nội các, Thị vệ, Nội vụ, Thanh cẩn) hội đồng ở phủ Nội vụ để thu các thứ the đoạn vải, lụa thì đóng triện vào hai đầu các tấm để làm dấu.


    Ngày ất sửu kỵ ở Hưng miếu (1). Vua thân đến làm lễ, xem các đồ tế và cỗ bàn có chỗ không được mười phần tinh khiết lập tức bắt quản Lý thiện ty là Bùi Văn Tính đánh mắng, kiêm quản là Lê Thuận Tĩnh bị phạt bổng 6 tháng. Nhân sắc rằng từ nay gặp tế hưởng và ngày kỵ, những phẩm nghi dâng cúng thì viên quản lý phải tự mình kiểm xét sao cho sạch sẽ tươm tất. Nếu còn sơ suất, tất giao cho bộ nghị xử.


    Bộ Lại theo ân chiếu, làm sách kê những viên quan văn bị cách bãi tâu lên. Vua hạ lệnh cho bộ dẫn vào yết kiến, gia ơn khởi phục. Phùng Huy Giảng làm Chủ sự Hình bộ, Trần Văn Toản làm Chủ sự Binh bộ, Đoàn Viết Nguyên làm Tư vụ phủ Nội vụ, Trần Văn Tuân và Hoàng Văn Tứ đều làm Tư vụ Lại bộ, Phạm Ngọc Oánh làm Tư vụ Hộ bộ, Hoàng Quốc Bảo làm Tư vụ Lễ bộ, Lê Dật Đức làm Tư vụ Binh bộ, Phạm Đình Tích làm Tư vụ Hình bộ, Nguyễn Công Đàm, Nguyễn Đức Hội và Vũ Doãn Đạo đều làm Tư vụ Công bộ, Nguyễn Đăng Sỹ và Trương Quang Hải đều làm Tư vụ Quang lộc tự, Hoàng Nghĩa Thao và Trần Đình Tiến, đều là Tư vụ Thái thường tự, Phan Huy Chú làm Hàn lâm viện Biên tu. Chú là em thự Thượng thư Lễ bộ kiêm quản Hàn lâm viện Phan Huy Thực. Thực dâng sớ hồi tị. Vua bèn sai Thượng thư Lại bộ Nguyễn Khoa Minh kiêm quản Hàn lâm viện.


    Lấy nguyên Đốc học Hải Dương là Lê Sỹ Thường làm Đốc học Quảng Yên.


    Bắc Thành tâu báo nước sông đã yên. Vua dụ rằng năm nay việc sửa đê lần lượt hoàn thành. Đầu mùa thu, đoạn đê Lưu Khê, nhân tên dân mọn đào trộm, đến nỗi bị vỡ, may chỗ ấy là hạ lưu, tổn hại không mấy, sang hộ có thể giữ chắc được ngay. Nay mừng sông nước thuận dòng, các sở công trình lớn nhỏ đều được yên hà. Nghĩ rằng ngăn nước giữ đê thực nhờ phúc thần phù hộ. Vậy phát hương lụa ở Nội thảng giao cho Đê chính là Lê Đại Cương biện lễ tam sinh, đến tế ở miếu Hà thần để tạ. Lại một nghìn lạng bạc treo thưởng trước thì dụ chỉ chia cho binh dân làm đê. Những người bị giáng cách theo án trước, đều cho khởi phục. Những người không dự án trước thì nhân viên đốc công đều thưởng cấp kỷ theo thứ bậc. Rồi nước sông lại lên to, bốn ngày mới xuống, đê phòng đều không ngại gì. Sớ tâu lên vua mừng lắm. Phê rằng : “Sau khi thôi không phòng đê, lại có nước sông lên to, mà đê phòng đều được vững chắc, thực nhờ phúc thần nhiều lắm. Nước ta ở về phương Nam, đất xấu mưa nhiều đến mùa đông còn có nước to, Trẫm vẫn thường nghĩ đến. Trước đây đổi định đến tiết sương giáng mới cho báo tin nước sông yên dòng cũng vì cớ đó. Bọn ngươi nên để ý”. Bèn cho các quan xem tuồng ở nhà Duyệt Thị.:rose:


    Thượng thư Binh bộ là Lê Đăng Doanh xin phép nghỉ về quê thăm nhà tảo mộ. Vua cho. Sai Tham tri Lê Văn Đức và Thị lang Lê Vạn Công quyền giữ ấn triện Binh bộ. Bộ Lễ tâu rằng : Năm nay các địa phương cử cống sinh phần nhiều không được người giỏi, mà Quốc tử giám khảo hạch lấy đỗ hay đánh hỏng cũng không được đúng. Vua bảo rằng : “Từ Quảng Bình trở về Nam, học trò học giỏi còn ít, nếu đòi hỏi nhất luật thì chưa khỏi nghiêm quá. Các địa phương vin vào cớ ấy hằng năm thường không đủ số cống sinh. Tạm hãy truyền chỉ sức quở. Còn từ Thanh Hoa trở ra Bắc thì các quan địa phương phạt 3 tháng bổng, quan Quốc tử giám phạt sáu tháng bổng”.


    Đặt thêm đội thứ ba ở thự Hoà thanh đội có 50 người. Sai quản viên là Vũ Văn Giải mộ sung vào.


    Lấy Phó vệ uý vệ Ban trực Hậu dinh Thần sách là Giả Tiến Chiêm lĩnh Quản đạo đạo Quang Hoá, kiêm quản hai thủ Thuận Thành và Quang Phong.


    Lại lấy Hữu tham tri Hình bộ là Lê Đại Cương lĩnh Hình tào Bắc Thành vẫn kiêm lĩnh Đê chính, thự Hữu thị lang Hộ bộ quyền biện Hình tào là Nguyễn Hữu Gia đổi làm thự Hữu thị lang Binh bộ Bình tào Bắc Thành.


    Vua thấy cái án kho Kinh bị hao hụt, chủ thủ và biền binh mới cũ hơn 300 người bị giam cấm lâu, sắc cho bộ Hình trích lấy những người dự việc chi phát và giữ việc đong gạo vẫn cứ giam tra, còn ngoài ra thì giao cho người cai quản kết lĩnh đợi án để khỏi phải đà luỵ.


    Cấp thuốc súng cho các quân tập bắn theo thứ bậc. (Phàm diễn bắn súng điểu thương, ở Kinh từ Phó vệ uý trở lên cấp cho mỗi người hai cân thuốc súng, 2 lạng tín dược, 8 cân đạn chì, 3 miếng đá lửa, cai đội hiệu uý đội Cẩm y và suất đội các quân thì cấp cho mỗi người 1 cân thuốc súng, 1 lạng tín dược, 2 cân đạn chì, 2 miếng đá lửa, các viên tử có tên ở sách Hoa danh thì cấp cho mỗi người 8 lạng thuốc súng, 5 đồng cân tín dược, 1 cân đạn chì, 1 miếng đá lửa. Các vệ đội ở ban cùng giáo dưỡng binh diễn bắn súng quá sơn thì cấp cho mỗi người 6 phát thuốc súng, diễn bắn súng điểu thương thì cấp cho mỗi người 12 phát thuốc súng).


    Lại sắc rằng từ nay hằng năm đến kỳ thao diễn thì các pháo thủ, hộ vệ, cảnh tất, thần cơ đều phải diễn bắn súng quá sơn. Lại hạ lệnh rằng chi lĩnh thuốc súng, diễn bắn súng Xung tiêu thì đạn hoả tâm, súng gang Hồng ý hạng trung thì đạn hồ điệp (nguyên gọi là đạn liên toả) đều lấy 100 phát làm hạn. Mỗi đến kỳ diễn bắn thì phái ty bộ Binh cùng thuộc viên Nội các đều một người, hội đồng xem xét ai bắn đúng chỗ tiêu chí trong 1 trượng thì cứ theo ngày mà đăng ký, đợi lệnh khen thưởng. Đến xong kỳ diễn bắn, phái viên dâng sách lên, phân biệt thưởng cho (súng Xung tiêu đạn hoả tâm bắn gần tiêu chí trong 1 trượng, mỗi phát thưởng 1 lạng bạc; súng Hồng ý đạn hồ điệp, bắn trúng tiêu chí 5 phát thưởng 1 lạng bạc, bắn gần tiêu chí trong 1 trượng, mỗi phát thưởng 1 quan tiền).


    Mùa đông tháng 10, ngày mồng 1, tế Đông hưởng. Sai Hoàng tử Thọ Xuân công Miên Định đến Thế miếu nhiếp thay.


    Lấy quản cơ Tả kiên Tả quân cơ là Lê Sách làm Phó vệ uý Ban trực hậu Thần sách, Cai đội Vũ lâm là Trần Bá Vinh làm Phó vệ uý vệ Hữu bảo nhị Hữu quân.


    Quan thành Gia Định tâu rằng : “Các trấn thành hạt bảy huyện Phước Chính, Bình An, Long Thành, Tân Minh, Vĩnh Bình, Kiến Hưng, Kiến Đăng, văn học hơi thịnh, học trò ngày một nhiều, xin mỗi huyện đặt một huấn đạo để luyện tập học trò cho giỏi”. Vua y cho.


    Sai thự Phó vệ uý Trung thuỷ là Đoàn Khác đi thuyền Thanh hải đến Hạ Châu làm việc công.


    Trấn thần Nghệ An tâu rằng thủ bảo Nồng Khai nước Xiêm là Chiêu Xú Vu (ở bờ nam Khung Giang) gửi thư cho phủ Trấn Ninh dỗ về cống nước Xiêm. Xin hạ lệnh cho bọn biện lý phủ vụ Phòng ngự đồng tri Chiêu Huống phục thư lấy nghĩa lý cự tuyệt.


    Vua cho là phải. Hạ lệnh truyền bảo bọn Huống giữ bờ cõi cẩn thận, chớ thấy nó doạ dỗ mà đem lòng trông ngóng. Lại phái người sang Vạn Tượng dò thăm tình hình biên giới về tâu.


    Người Xiêm lại ở xứ Phô Khâm (cũng ở bờ nam sông Khung Giang) sai các man Hiểm Mã Lật, U Bôn Nha Xuân Thôn lập 3 bảo để đóng quân giữ, thường phái quân sang sông doạ dỗ dân man xứ Tạ Khách (Ta Khét) (thuộc phủ lỵ Lạc Biên ở bờ bắc sông Khung Giang). Trấn thần nghe báo, lập tức sức cho hai phủ Trấn Tĩnh và Lạc Biên theo hạt mình mà đi tuần dò xét, chớ để quân Xiêm vượt địa giới, rồi đem việc tâu lên. Vua bảo bầy tôi rằng : “Quân mọi rợ quấy rối, tự xưa vẫn có. Duy nước ta thịnh vượng, biên thuỳ yên ổn, cho nên quân địch ở ngoài không thừa cơ vào được. Nếu không phải thế, mà nước Xiêm gây chuyện bất đắc dĩ sinh ra đánh nhau, dẫu phải trái tự sẽ phân được thua, nhưng biên thuỳ rối loạn, có phải là Phước cho trăm họ đâu. Phàm thích đất rộng thì bỏ hoang, thích chiến tranh thì thua mất. Chính sự nước Xiêm không có điều gì đáng xem, nếu lại lấy chiến tranh làm giỏi thì há chẳng phải là muốn tự tan nát hay sao. Hoặc giả là bị kẻ hiếu sự như Sũng Sam lừa dối xui giục cũng chưa biết chừng. Ta nên bên trong thì sửa sang việc nước, bên ngoài giữ vững biên cương, cho dân ta được yên ổn trên chăn chiếu mà thôi. Nếu nước Xiêm gây mối thù trước thì sự cong vạy ở hắn, thẳng ở ta, nó làm gì ta được”.


    Xây đắp cống đá ở hai bờ sông Lợi Nông (trước bắc cầu gỗ, đổi xây cống đá 24 cái).


    Phái viên thuyền Phấn bằng là bọn Vệ uý Trần Văn Lễ và Thị độc Nguyễn Tri Phương tự Tiểu Tây dương ((1) Tiểu tây dương : chỉ thuộc địa của nước Pháp ở ấn Độ.) về, đem ngựa thiên mã (cao hơn 3 thước 7 tấc) Tây Vực dâng lên. Có người ở trận Bình Hoà tên là Du Gi lưu ngụ ở nước ấy gần 50 năm, đến bây giờ theo thuyền quan về, cho tên là Nam Phước, trao chức Chánh đội trưởng, sung ty Hành nhân.


    Thự Tế tửu Quốc tử giám Phạm Đình Hổ, Tư nghiệp Phạm Đình Thuân và Nguyễn Huy Hựu làm việc nhiều điều không hợp nhau. Vua nghe biết bảo bộ Lễ rằng : “Nhà Thành quân (trường học cao nhất, chỉ Quốc tử giám) là chỗ đầu phong hoá, mô phạm quan hệ ở đấy. Nhà nước đặt Tế tửu và Tư nghiệp là muốn để dìu dắt học sinh mở rộng văn trị, mà bọn kia nhiều việc lủng củng dạy dỗ thưa thớt, nhân tài ít được tiến ích phụ lòng ta nhiều lắm. Hạ lệnh cho bọn ấy tâu cho minh bạch”.


    Đến lúc sớ dâng lên để nhận tội. Hổ lại nói thêm rằng : “Học thức thô sơ, không thành khoa mục, vẫn bị bạn đồng nghiệp trêu chọc. Nay tuổi già mờ tối, ý nghĩa sách vở ngày một quên đi, sợ sức trái với lòng, chỉ thêm tội lỗi, xin từ việc giám về hầu ở bộ”. Vua dụ rằng : “Phạm Đình Hổ xuất thân học trò, Trẫm thấy văn học tài giỏi, cho nên cất nhắc vượt bậc. Phạm Đình Thuân và Nguyễn Huy Hựu đều là khoa bảng xuất thân làm việc lâu ngày, giao cho chức trách nhiệm giữ việc giáo dục, thế là không biết kính mến nhau, mà gắng gỏi để xứng đáng chức vụ, mà lại lấy ranh giới coi nhau đến nỗi chẳng để tâm vào chức vụ, tư cách làm thầy như thế thì học trò còn nhìn vào đâu. Nay sức hỏi tâu đáp thì Hổ còn lấy việc bạn đồng nghiệp trêu chọc mà tự thác, mà Thuân và Hựu thì đều nói hàm hồ, đều là không phải cả. Đáng lẽ giao cho bộ nghiêm bàn nhưng nghĩ là bởi chưng mờ tối, hãy tạm trừng giới qua loa. Vả lại lời Hổ xin cũng là thành khẩn, và y vốn là người ngay thẳng, nếu cho làm việc quan thì khó có thành hiệu. Vậy cho thôi việc giám vẫn lui về nguyên hàm Hàn lâm viện Thừa chỉ giáng hai cấp, bọn Thuân và Hựu cũng đều giáng hai cấp”.


    Lại trao cho Vệ uý Nguyễn Tài Năng làm Thống chế Thuỷ quân, đổi bổ thự Thống chế Trương Văn Tín làm Phó thống chế Thuỷ quân trật Tòng nhị phẩm. Vua nghĩ Tài Năng tuổi già, thế khó làm một mình được, cho nên đặt phó thống chế để giúp đỡ.


    Lấy Phó ngự y Đoàn Văn Hoà làm Ngự y hiệp đồng với Ngự y Nguyễn Tăng Long lĩnh ấn triện ở viện Thái y.


    Bình Định lụt to. Huyện Bồng Sơn, nhà dân bị trôi và đổ mất hơn 300 nhà, chết đuối hơn 30 người. Trấn thần đem việc tâu lên. Vua thương xót lắm, hạ lệnh cấp cho mỗi người chết đuối 3 quan tiền, những nhà trôi mất mỗi nhà 2 quan tiền, 2 phương gạo. Những nhà đổ nát mỗi nhà 1 quan tiền 1 phương gạo, nhà nào lại có người chết đuối thì cho thêm tiền gạo gấp đôi.


    Lấy nguyên Hiệp trấn Cao Bằng là Lưu Đình Luyện làm Hiệp trấn Quảng Ngãi (Luyện nghỉ đinh ưu, hết hạn đến Kinh đợi bổ).


    Vua chăm nghe chính sự, mỗi buổi chầu đến khi đồng hồ 9 khắc mới nghỉ. Một hôm mưa to rét lắm, bọn Thượng thư Nguyễn Khoa Minh tâu rằng : “Ngày nay công việc hơi giản, không có việc gì quan yếu, xin hoãn buổi chầu sớm cho đỡ rét, nếu có việc gì quan trọng sẽ viết bài tiến trình”. Vua y cho.


    Vua bảo Nội các Hà Quyền và Trương Đăng Quế rằng : “Trẫm xem sử chép đời Lương Vũ đế một hộc gạo giá 30 đồng tiền, rất lấy làm lạ. Ngay đời nhà Chu lúc thịnh, phép đúc tiền đã thi hành, dẫu năm được mùa lúa gạo bừa bãi, vẫn chưa nghe nói giá gạo rẻ như thế. Lương Vũ đế làm việc nhiều điều rồ dại, xét việc làm Trẫm thường khinh bỉ, có đức chính gì mà được như thế! Hơn nữa nhà nông quanh năm làm ăn khó nhọc mà gạo rẻ thì tất thiệt hại cho họ, ai lại chịu nhịn đói khát mà cày ruộng được! Người xưa nói : “Tin cả vào sách không bằng không xem sách”. ấy là lẽ đó.


    Dựng công sảnh hai tự Thái thường và Quang lộc (ở bên hữu nhà Quốc sử).


    Sai Thượng thư Hình bộ sung Tổng tài luật lệ là Hoàng Kim Xán về bộ làm việc.


    Vua dụ rằng : “Gần đây bộ Hình, công việc nhiều chỗ không khớp, như hai vụ án ở kho Kinh thiếu hụt về phủ Nội vụ, chưa xét được thực tình có hại cho chức phận. Vả lại Hoàng Kim Xán hiện sung Tổng tài luật lệ mà những người tá nhị ở quán ấy cũng nhiều người có học thức, vậy cho Xán tạm nghỉ việc tổng tài về bộ làm việc, mấy tháng sau việc bộ ít bớt, bấy giờ sẽ tuân chỉ trước đến quán làm việc tổng tài cũng được. Các nhân viên sung biện luật lệ, nên đem hết sức làm việc, cho xứng đáng chức vụ, không được vin cớ không có tổng tài mà đun đẩy cho nhau, bỏ phí ngày giờ, không xong công việc, tội lệ không nhẹ đâu. Mọi người đều nên cố gắng chớ phụ lời Trẫm đinh ninh dạy bảo”.


    Tả tham tri Lễ bộ kiêm quản Thái thường tự là Nguyễn Đăng Tuân ốm, cho nghỉ về quê điều dưỡng, sai Phan Huy Thực quyền quản Thái thường tự.


    Cho Phan Đăng Tuyên và Dương Văn Phong làm Lang trung Binh bộ.


    Ruộng tịch điền được mùa. Vua dụ rằng : “Năm nay ruộng tịch điền lúa tốt, lòng ta thực mừng. Ngày hôm cày tịch điền, hoàng tử thứ 12 là Miên Bảo đi theo vãi lúa, thưởng cho một cái ngọc bội trắng khắc chữ Thọ, một toà núi nhỏ ngọc trắng, Thượng thư Hình bộ Hoàng Kim Xán, Đề đốc Thừa Thiên Nguyễn Xuân và Phủ thừa Bạch Xuân Nguyên sung việc vãi lúa thì đều thưởng cho mỗi người 2 tấm đoạn ngũ ty, lại thưởng bọn nông phu 2 lạng bạc để khuyến khích”.


    Lại sắc từ nay hằng năm cứ đến kỳ lúa chín cho bộ Lễ hội đồng với Nội các đến xem gặt lúa, lấy thóc ruộng tịch điền phơi khô cất đi. Lại sai Vũ khố làm một cái hòm chứa thóc để ở kho Thần thương để dùng vào việc cúng tế. Chép làm lệ.


    Sai sứ sang nước Thanh. Lấy Tả thị lang Lại bộ là Hoàng Văn Đản sung Chánh sứ, Tham hiệp Quảng Yên là Trương Hảo Hợp đổi chức Thái thường tự Thiếu khanh, Hàn lâm Biên tu là Phan Huy Chú thăng chức Thị giảng, sung giáp ất phó sứ.


    Vua dụ : “Trẫm rất thích thơ cổ hoạ cổ, cùng sách lạ của cổ nhân, mà chưa tìm được nhiều. Bọn ngươi nên để lòng tìm mua đem về dâng. Vả lại Trẫm nghe nói những nhà quan ở Yên Kinh nhiều người chép sách riêng, nhưng vì việc quan thiệp đến nhà Thanh, cho nên chỉ chứa riêng ở nhà, chưa dám đem ra khắc in. Bọn ngươi nếu thấy những sách loại ấy dẫu còn là bản thảo cũng không kể giá đắt cứ mua”.


    Đặt thủ ngự Quảng Bình quan.


    Thượng thư Lại bộ là Nguyễn Khoa Minh tâu rằng : “Ty viên thuộc bộ có người là cha con anh em với nhau sợ không khỏi thông đồng làm bậy, xin trích ra bổ sang bộ khác”.


    Vua cho lời tâu là phải, hạ lệnh thông dụ cho các nha môn trong ngoài có những trường hợp như thế thì cũng cho tâu rõ để đổi bổ, không được thiên tư ẩn giấu.











    Chính biên



    đệ nhị kỷ - quyển lxx



    thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế



    Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11 [1830], mùa đông, tháng 11, bộ Hộ đem án thanh tra phủ Nội vụ dâng lên hoá hạng hư hỏng có dấu vết, đều nghị bắt bồi thường. Vua sai xét nghiệm lại để lượng giảm, dụ rằng : “Phủ Nội vụ là chỗ gồm chứa hoá hạng, thế mà không chịu lưu tâm giữ gìn, đáng phải theo từng khoản mà bắt bồi thường, nhưng nghĩ rằng của nhà nước rất nhiều để lâu ngày mà thành ra tỳ vết thì cũng có lý. Bèn sai xét nghiệm lại hoặc miễn cả cho, hoặc chiết giảm bớt đi đến 8 phần 10 cũng được ; đấy là đặc ân. Từ nay về sau không cho viện vào lệ ấy. Các ngươi đều phải phát lương tâm nghĩ sao cho công việc ngày một tốt đẹp nếu cứ cẩu thả như trước, quyết không thể mong ân điển được mãi”.


    Vua bảo Thượng thư Hình bộ Hoàng Kim Xán rằng : “Hình phạt là để răn kẻ làm ác, thánh nhân không bao giờ bỏ. Trẫm từ lên ngôi đến nay, thường tuyên bố lệnh ân xá, những kẻ đại ác, đại tội thì không được dự, vì tha kẻ có tội thì hại cho lương dân, thực không thể mưu cái tiếng thương dân mà bỏ cái nghĩa xử đoán rõ ràng được. Kỳ thu phẩm năm nay Trẫm muốn mở rộng đức hiếu sinh cho nên đình bắt một lần cho tội nhân được tự toàn, thế mà vừa rồi lại nghe có việc tù phạm ở Bắc Thành làm phản phá ngục, thế là Trẫm tìm cho chúng đường sống mà chúng lại muốn chóng chết, điên cuồng trái phép như thế thì làm thế nào khiến chúng biết ăn năn theo lẽ phải để cùng lên cõi nhân thọ được”.


    Lại từng cùng với bầy tôi nói đến chế độ đời trước, bảo rằng : “Chế độ giáp trụ đời xưa là để định y phục cho ban võ, việc nước không thể không có được. Nay nhà nước đương yên, Trẫm muốn sửa sang cho đầy đủ để cho con cháu và quan dân ta đều biết việc phòng ngừa, không vì yên ổn mà trễ nải được”.


    Lại nói : “Trẫm xem Hội điển nước Thanh, những kiểu mẫu giáp trụ đều câu nệ tục nước, thực không nói được, cho đến áo triều mũ triều cũng đều theo thói tục man di, không phải chế độ phục sức của cổ nhân, như thế lại càng sai trái, không có thể làm khuôn phép được”.


    Thống chế Thuỷ quân là Nguyễn Tài Năng và Phó thống chế là Trương Văn Tín tâu xin cho cơ Kiên chu được dự vào lệ khảo khoá.


    Vua nói : “Kiên chu tuy là cơ binh, nhưng chỉ chuyên làm công việc dinh tạo cũng như người thợ không thể ví với các hạng giản binh có lệ khảo khoá”. Không cho lời xin.


    Dân xã Phú Điền (thuộc huyện Hưng Nguyên) trấn Nghệ An nhân lấy đá ong, bắt được hai cái ống hoả hiệu cổ ở trên núi Nghĩa Liệt.


    (Chỗ này có nền cũ thành cổ, thành do tướng nhà Minh là Trương Phụ đắp, người địa phương gọi là Lam Thành. Hai ống này trong lòng đều 1 tấc. Một cái lòng dài 1 thước 4 tấc 5 phân, dài suốt 1 thước 6 tấc 3 phân, cân nặng 46 cân ; một cái lòng dài 1 thước 4 tấc 4 phân, dài suốt 1 thước 6 tấc 2 phân, cân nặng 44 cân 7 lạng). Trấn thần tâu lên. Sai chở đến Vũ khố thưởng cho người bắt được 3 lạng bạc.


    Trấn thủ Quảng Bình là Nguyễn Văn Ân chết. Lấy Vệ uý vệ Minh võ quân Thần sách là Tống Viết Trì làm Trấn thủ Quảng Bình, vẫn giữ hàm Kỵ đô uý. Trì là con trung hưng công thần Tống Viết Phước.


    Vua triệu vào yết kiến, dụ rằng : “Trước kia cha ngươi theo đòi, có công lao rõ rệt, mà không được sống để trọn hưởng giàu sang, Trẫm rất thương xót. Nay cất nhắc ngươi cũng là có ý đền công báo đức đó. Nếu ngươi vâng phép công giữ đạo chính, dẹp trộm cướp để yên dân thì là tôi trung của nước, con hiếu của nhà nếu lại lấy làm đắc chí, khinh phạm pháp luật thì có phép nước, ta không thể bênh vực được”.


    Lấy Vệ uý vệ Tiền phong hữu là Nguyễn Lương Huy làm Vệ uý vệ Tả nhị Vũ lâm vẫn kiêm quản các đội Ngân thương, Phó vệ uý vệ Trung nhị Vũ lâm là Phạm Phú Chung làm Vệ uý vệ Tiền phong hữu, Phó vệ uý vệ Tiền nhất Vũ lâm là Nguyễn Văn Doãn làm Phó vệ uý vệ Trung nhị, Phó vệ uý vệ Hậu nhị Vũ lâm là Bùi Công Huyên làm Vệ uý Hậu vệ dinh Long võ, vẫn kiêm quản đội Kim thương, Phó vệ uý vệ Long võ hậu là Nguyễn Văn Hoà làm Phó vệ uý vệ Hậu nhị, Cai đội Hữu vệ Tiền quân là Nguyễn Viết Trung làm Phó vệ uý vệ Tiền phong hậu, Phó vệ uý vệ Tiền cơ tả là Nguyễn Văn Niên thăng thụ Vệ uý, Phó vệ uý vệ Tả nhất Vũ lâm là Trần Văn Vân làm Vệ uý vệ hữu Thần cơ, Phó vệ uý vệ Hữu nhất Vũ lâm là Phan Văn Song làm Vệ uý vệ Thần cơ hậu, Phó vệ uý vệ Tả nhị Vũ lâm là Nguyễn Văn Thận làm Vệ uý vệ hậu Hổ oai, Phó vệ uý vệ Tả nhị Thuỷ quân là Đoàn Kim làm thự Vệ uý vệ Tiền thuỷ vẫn kiêm Quản cơ Kiên chu, Phó vệ uý vệ Hậu thuỷ là Đoàn Văn Suất làm Phó vệ uý vệ Minh võ Thần sách là Phan Văn Bổng đều thăng thự Vệ uý.


    Thự Vệ uý vệ Hữu nhất Vũ lâm là Trần Văn Trí tuổi già về hưu trí ; lấy Vệ uý vệ Tiền phong hậu là Vũ Đức Hựu thay. Trí khổ vì cảnh nghèo, kêu với triều đình, đặc ân cho 100 quan tiền.


    Đặt thêm chức phòng thủ ở các cửa ải, trật Tòng tứ phẩm. Lấy Cai đội vệ Long võ hậu là Võ Văn Dương làm Phòng thủ uý Hải Vân quan cai quản những biền binh trú phóng để đóng lâu ở đấy ; Cai đội vệ Hổ oai hữu là Nguyễn Tiến Viễn làm Phòng thủ uý Quảng Bình quan ; Thủ ngự Quảng Bình quan là Nguyễn Hữu Hựu làm Thủ ngự thự Phòng thủ uý Vũ Thắng quan.


    Sai trấn thần bắt cấp để canh giữ Quảng Bình quan 15 người biền binh, Vũ Thắng quan 10 người, còn cửa đá của Trường Thành gần cửa Nhật Lệ thì giao cho viên trấn thủ kiêm quản khoá kỹ lại.


    Tiết Đông chí. Vua xuống dụ rằng : “Từ nay phàm ngày Đông chí hằng năm, các nha môn ở Kinh, nếu có việc gì phải tâu, thì cho làm thẻ bài tiến trình, còn các viên đại thần vào trực và các công sở làm việc thì đều cho nghỉ một ngày để cùng hưởng Phước lý trường ((1) Lý trường : Đông chí là tiết ngày dài nhất trong một năm cho nên xưa có lễ mừng “lý trường”, tức là đến lúc ngày dài.)”. Việc này ghi lại làm lệnh.


    Tham hiệp Quảng Bình là Lê Đường Anh chết, cho Nội các Thị độc là Thân Văn Quyền làm thự Tham hiệp Quảng Bình.


    Thống chế Tiền phong là Phạm Văn Lý ốm khỏi vào yết kiến. Vua triệu lên điện cho ngồi, dụ rằng : “Vừa rồi khanh ốm nặng, Trẫm lấy làm lo, nay đã lành, Trẫm rất vui mừng, nhưng xem thần sắc chưa được bình phục hẳn, hãy cho ở nhà điều dưỡng. Thờ vua còn lâu dài, bất tất phải miễn cưỡng đi lại vội”. Khi Phạm Văn Lý lui ra, vua quay lại bảo Binh bộ Lê Đăng Doanh rằng : “Phạm Văn Lý tài không hơn ngươi, nhưng mạnh dạn làm việc, trong lúc nguy cấp gian nan không từ. Những người như thế cũng không dễ có nhiều đâu”.


    Vua thấy từ trước đến giờ những nhân viên được chỉ bổ đi lĩnh chức khác, bộ Lại làm chiếu văn có khi chỉ viết bổ đi lĩnh chức mới, có khi cũng viết là lấy bản chức bổ đi lĩnh chức mới, chưa có nhất định, bèn dụ rằng : “Từ nay viên nào được bổ đi lĩnh chức khác thì trong chiếu văn phải nhất luật nói rõ người ấy nguyên chức hàm gì và cho lấy chức ấy bổ đi lĩnh chức hàm mới để được rõ ràng. Bộ Hộ vẫn chiếu nguyên phẩm mà chi bổng”.


    Bộ Hộ tâu xin đem những chức quan hương cống và quan viên tử đời Lê cũ châm chước, kê vào các hạng 60 tuổi, trở lên làm lão nhiêu, 59 xuống đến 55 tuổi làm lão hạng, 54 tuổi trở xuống làm tráng hạng.


    Vua đặc biệt ra lệnh cho các lão hạng và tráng hạng, đều chiếu lệ cũ mà nộp một nửa thuế thân, vẫn gia ân miễn binh dịch và dao dịch cho mình thôi.


    Các địa phương tuân theo ân chiếu, làm sớ tâu cử những người quân dân trong hạt biết võ nghệ và khoẻ mạnh đưa đến Binh bộ xét lại thì đều thuộc hạng tầm thường.


    Vua bảo rằng : “Cất nhắc người tài năng tầm thường để dùng là quá lạm, nhưng nếu nhất thiết bãi bỏ cả thì sợ là ngăn trở người sau”. Bèn sai chọn những người khá hơn, được 14 người, cho làm hành tẩu ở vệ Cẩm y để cho học tập, mỗi người mỗi tháng cấp cho 2 quan tiền, 2 phương gạo. (Thừa Thiên 4 người, Quảng Bình 5 người, Quảng Nam, Quảng Trị mỗi tỉnh 2 người, Gia Định 1 người).


    Tổng trấn Gia Định là Lê Văn Duyệt thấy là phái quân đi tuần ngoài biển không được việc gì, dâng sớ chịu lỗi, lại nói : “Nay đã đến tiết đông, gió bấc thổi mạnh, giặc bể tất phải lẩn trốn, xin rút quân về ngũ”.


    Vua dụ Binh bộ rằng : “Các trấn trong hạt thành, giặc biển thường hay trộm nổi, đã nhiều lần xuống chỉ nghiêm sức lùng bắt, trước hết đã đem bọn quan địa phương và bổ biền giáng lưu để xem gắng sức ra sao. Thế mà qua hè sang đông, bọn giặc vẫn lọt lưới không nên công trạng gì, là bởi bọn chúng không chịu ra sức, thực là đáng tội. Lê Văn Duyệt là một đại thần chuyên trách ở ngoài, cố nhiên không chối được lỗi, nhưng nghĩ bình nhật vốn quen việc bắt giặc, không phải không biết phòng ngừa, hoặc giả vì sai phái thiếu người, nên mới hỏng việc. Vậy hãy cho miễn nghị, nhưng phải đem tất cả tình hình những đám giặc cướp trước sau phát ra ở trong hạt, nhẹ nặng bao nhiêu lần, nhiều người hay ít người cùng đem các quan chức cùng bổ biền và tấn thủ, phân biệt mà tham tâu để đợi chỉ. Còn việc rút quân về thì chuẩn y lời xin. Lê Văn Duyệt đã được đặc cách ban ơn, từ nay phải vì nước hết lòng, tính việc trước khi xảy ra, để cho dân ta được yên lành, khí bể được êm lặng mà đáp lại lòng Trẫm đã một lần lượng tình tha lỗi, nếu không như thế thì tất khó lại mong được ân điển khoan hồng”. Đến khi tâu lên, các quan trấn sở tại và bọn bổ biền tấn thủ đều bị giáng hoặc cách chức khác nhau.
  • Chia sẻ trang này