0060.0012 - @Nhungpham2001 (đã soát xong)

31/1/16
0060.0012 - @Nhungpham2001 (đã soát xong)
  • Vua lại dụ Binh bộ rằng : “Người Gia Định vốn có tiếng là nghĩa dũng, khi bắt đầu khai sáng, đã từng vì nước gắng công, từ khi thái bình đến nay, gặp việc cũng chịu xuất lực, vốn không có thói quen nhút nhát, dù ở phương xa hay nước ngoài, không chỗ nào là không nghe tiếng. Thế mà gần đây bỗng có giặc biển trộm nổi, biền binh phái đi bắt giặc, đã không có công, lại để lỡ việc. Thử nghĩ bọn giặc nhỏ như thế, còn không diệt được sớm, nếu gặp giặc lớn há lại chẳng hỏng việc ư ? Tóm lại, chỉ là do quản suất không được người giỏi mà thượng ty thống hạt ngày thường không chịu để tâm xem xét khuyến khích quân nhân cho nên mới đến nỗi thế. Nay không thể không một phen chỉnh đốn để nghiêm lệnh công. Vậy truyền dụ cho Tổng trấn Lê Văn Duyệt phải cùng với các tào các trấn, đều đem các võ biền thành nào trấn ấy từ suất đội trở lên, ở thành và trấn mà xét hạch kỹ càng ai là người già yếu mỏi mệt, không đủ sức rong ruổi thì tâu xin bắt về hưu, còn những người gắng sức mà xét thực là nhanh nhẹn xuất sắc thì không câu nệ tư cách, cho cứ thực mà bảo cử, đợi chỉ cất nhắc, khiến cho người nào cũng biết phân phát cố gắng, ngày thêm hăng hái, sĩ khí mạnh mẽ, binh lực tinh nhuệ để phòng có việc mà dùng. Nếu chỉ vâng lệnh suông mà vẫn trễ biếng như trước, đến nỗi sai phái không nên công trạng gì, thì cứ các tào ở thành, các viên ở trấn mà hỏi tội.


    Tặng cung tần triều trước là Trịnh thị làm Mỹ nhân cho thuỵ là Cung Lệ. Trịnh thị là mẹ đẻ ra An Khánh công Quang. Bộ Lễ bàn chế độ tang phục, cho là năm Gia Long thứ 9 (1810) đã chuẩn định rằng hoàng tử công chúa để tang mẹ đẻ được mặc tư thôi một năm, theo lễ cổ mà thi hành ở đời nay như thế là thích hợp với lẽ trời tình người. Nay An Khánh công để tang mẹ đẻ, xin chế áo tang tư thôi có gậy mà để tang một năm. Đến kỳ kỵ thứ hai thì chỉ làm lễ như ngày kỵ thường, nhưng trong khoảng hai kỳ ấy thì được giữ tâm tang, vẫn được làm lễ để tang, miễn không phải theo ban chầu mừng. Vua theo lời bàn ấy.


    Trấn thần Nghệ An tâu rằng : “Dân Mường Cai thuộc phủ Trấn Ninh lưu ngụ ở nước Nam Chưởng, trước đã dụ bảo nước ấy thả cho về quê cũ, đến nay chưa thấy trở về, xin đưa thư để trách”.


    Vua nói : “Nước Nam Chưởng không ngại người Xiêm mà ở xa đến cống xưng phiên thần, cũng nên xét tấm lòng thành của họ, cho nên cách xử trí đối với họ cũng nên rộng rãi đừng làm quá đáng. Còn như việc thả man dân về thì việc gì phải vội trách mà tỏ ra mình không rộng rãi”.


    Quan Bắc Thành tâu rằng bờ sông ở ngoài Đại La thành (một đoạn ở thôn Cận Hàn dài 71 trượng, một đoạn ở phường Thạch Khối 47 trượng) bị nước lụt xói vào ngày một lở dần, cách chân thành chỉ độ 3 trượng, xin hơn nghìn biền binh khởi công bồi đắp, ngoài cắm đóng cọc gỗ, trong đổ đất đá, để ngăn thế nước. Vua y cho.


    Thành thần Gia Định tâu rằng năm hiệu Mộc đĩnh[1] buổi đầu trung hưng, số quân gần 1 nghìn người, sau cứ trốn đi mãi, hiện còn hơn 80 người, không thành đội ngũ, xin dồn lại làm hai đội : Gia Lâm nhất nhị, sai mộ thêm mỗi đội cho đủ số 50 người (Lệ định mỗi năm phải nộp thuế 24 phiến gỗ, trong số ấy 4 phiến dài 6 trượng, 5 thước, 7 phiến dài 6 trượng, 7 phiến dài 5 trượng). Vua chuẩn y lời tâu.

    Vua bảo Nội các Trương Đăng Quế rằng : “Ngươi có giỏi cưỡi ngựa không ? Trẫm khi trẻ tuổi vốn hay cưỡi ngựa, cứ mỗi lần cưỡi ngựa thì thấy gân sức khoan khoái. Lâu nay không ngồi yên ngựa, thịt đùi lại nở ra bây giờ cưỡi ngựa không nhanh nhẹn bằng lúc tuổi trẻ nữa. Cho nên mỗi tháng một lần cưỡi ngựa để cho khỏi lười biếng. Người quý ở siêng năng chịu khó, nếu cứ rỗi rãi yên vui thì gân sức yếu đi, khi gặp việc còn làm gì được”.

    Định lại lệ ở các đền miếu. (Miếu Lịch đại đế vương, miếu Lê Thánh tông và Văn miếu hai kỳ tế Xuân Thu, lễ đều dùng tam sinh : xôi, rượu, quả ; lễ Chính đán dùng hương nến trầu rượu, bớt các lễ Thượng tiêu (dựng nêu) và Đoan dương ; miếu đô thành hoàng 2 kỳ tế Xuân Thu, lễ dùng tam sinh : xôi, rượu, quả. Miếu Phong bá (thần làm gió) đầu Xuân tế cầu gió và 2 kỳ tế Xuân Thu. Miếu Vũ sư (thần làm mưa), ba miếu công thần, 2 kỳ tế Xuân Thu lễ đều dùng bò, dê, lợn, xôi, rượu, quả. Miếu Nam Hải long vương, tế bốn tháng, đền Hà Thần ở Bắc Thành, 2 kỳ tế Xuân Thu, lễ đều dùng trâu, lợn, xôi, rượu, quả. Miếu Hoả pháo (thần súng), tế mồng 1 tháng 9. Miếu Hoả thần (thần lửa) tế 23 tháng 6, lễ đều dùng bò, lợn, xôi, rượu, quả. Hai đền thờ Quan công và Thiên phi, đền Thai dương phu nhân, đền thần cửa biển Tư Dung, hai kỳ tế Xuân Thu, lễ đều dùng lợn, xôi, rượu, quả. Viên tẩm nhị vương[2] 2 kỳ tế Xuân Thu, lễ dùng lợn, xôi, cỗ, lễ cáo kỵ dùng cỗ, lễ chính kỵ dùng tam sinh, xôi và cỗ. Đền Dục Đức[3] 2 kỳ tế Xuân Thu, lễ dùng lợn, xôi, rượu, quả, lễ cáo kỵ dùng cỗ, lễ chính kỵ dùng trâu, xôi và cỗ. Đền Dụ Khánh[4] , đền Anh Duệ[5], đền Thiệu Hoá quận vương[6] , đền hai bà họ Hồ, họ Phạm[7] , 2 kỳ tế Xuân Thu lễ đều dùng xôi, lợn, cỗ, lễ cáo kỵ dùng cỗ, lễ chính kỵ dùng trâu, lợn, xôi và cỗ. Đền Triển Thân[8] , Xuân Thu 2 kỳ tế, lễ dùng xôi, lợn, rượu, quả. Phàm lệ trước có các lễ Trừ tịch, Thượng tiêu, Chính đán, Đoan dương, tế Chạp và sóc vọng đều bớt cả.

    Trấn Thanh Hoa có người nước Thanh là Lương Xương xin khai mỏ đồng ở châu Lang Chánh, nộp thuế hằng năm. Trấn thần tâu xin cho. Vua cho. Không bao lâu, vua dụ bộ Hộ rằng : “Trẫm nghĩ trấn Thanh Hoa là đất phát phúc, non sông thiêng liêng tốt đẹp, khí vượng chung đúc không nên khinh thường đào xẻ. Huống chi nhà nước không phải thiếu tiền tài, thuế một chỗ mỏ đồng này có quan hệ gì đến việc thừa thiếu”. Bèn hạ lệnh đình chỉ.


    Hiệp trấn Nam Định là Nguyễn Nhược Sơn vào chầu, vua hỏi trong hạt trấn động tĩnh thế nào. Sơn đáp rằng gần đây được yên lặng, dân gian không còn có những việc cắt trộm lúa nữa.


    Vua nói : “Thói ấy đã hết thì dân ta đều được yên”. Lại hỏi : “Những kẻ phạm tội trốn tránh đã ra thú được bao nhiêu ?”. Thưa rằng trước sau hơn một trăm người.


    Vua nói : “Chúng đã biết ăn năn ra thú nhiều, dù có một vài tên đầu sỏ còn trốn, nhưng vây cánh đã mất không bao lâu rồi cũng tan rã. Chỉ sợ chúng đổi lỗi ngoài mặt mà không đổi lỗi trong lòng thôi”.


    Trấn thủ Hà Tiên là Lê Công Huyên, già yếu không đương nổi việc trấn, giáng làm Quản cơ, bắt về hưu trí lấy Trấn thủ Biên Hoà là Trần Văn Hựu làm Trấn thủ Hà Tiên, Vệ uý vệ Tiền phong hữu là Phạm Phú Chung làm Trấn thủ Biên Hoà.


    Đổi ty Thanh thận của Vũ khố làm ty Chế tạo, vẫn phải làm việc sở Nội tạo. Đặt thêm một viên giám đồ trật Tòng tứ phẩm, theo viên đốc công Vũ khố để chuyên làm công việc sở Nội tạo.


    Trước kia bộ Công trù tính cách chỉnh đốn công việc của thợ ở sở Nội tạo, tâu xin từ nay trở đi, hết thảy mọi việc đều do viên đốc công quản cố, để ngăn ngừa cái tệ thợ trốn tránh nhùng nhằng. Đình thần bàn lại cho là sở Nội tạo là để cung cấp những thứ cần dùng cho nội cung mà công sở của Vũ khố, công việc cũng rất bận rộn, những việc phải làm, tất có chỗ không giống nhau. Viên đốc công đã chuyên quản ty Chế tạo, lại phải trông coi cả sở Nội tạo, việc nhiều mà thế cách nhau sợ không tai mắt nào thấu được. Lại xin đặt thêm một viên giám đốc phàm công việc ở sở Nội tạo thì trước phải liệu việc mà tính công rồi nói với viên đốc công cấp thợ để cho việc có thống thuộc. Còn chỉ bảo mẫu mực thì viên giám đốc phụ trách một mình. Vua nghe theo.


    Đổi định nhật kỳ điểm binh hằng năm của các địa phương, đều có ngày mồng 1 tháng 2, phải đến cả để điểm duyệt, và ở lại thao diễn, đến ngày 1 tháng 3, thì chiếu lệ chia ban.


    Chuẩn định hằng năm cứ tháng giêng, thì những binh và voi đóng thú ở hai trấn Quảng Nam, Quảng Trị đến Kinh diễn tập đều đợi đến sau khi lễ Nam Giao xong, sẽ do quản lĩnh cho đổi phiên. Ghi làm lệ. (Từ trước những biền binh thuộc quân Kinh tượng được phái đem voi đi đóng thú ở Quảng Nam 25 con, ở Quảng Trị 15 con, mỗi năm một lần thay).


    Lang trung Binh bộ gia hàm Thị lang, lĩnh Tuyên phủ sứ phủ Lạc Hoá kiêm quản biền binh đồn Uy Viễn là Bùi Phụ Đạo chết, lấy Lang trung Hộ bộ hiệp lý Hộ tào Gia Định là Nguyễn Công Tú làm Lang trung Binh bộ gia hàm Thị lang lĩnh Tuyên phủ sứ phủ Lạc Hoá, kiêm quản biền binh đồn Uy Viễn.


    Cho Trần Văn Lân là con Chưởng dinh Trần Văn Năng, Tống Phước Khải là con Tống Phước Lương và Nguyễn Văn Thu là con phó tướng gia hàm Đô thống chế Nguyễn Văn Xuân đều làm Hiệu uý vệ Cẩm y.


    Người Nghệ An là Nguyễn Trọng Dao đào đất được một cái ấn thuỷ tinh đem dâng, ấn có khắc nổi ba chữ “Tình huyên đường”. Vua nói : “Trẫm xem cái ấn này, chất ngọc lóng lánh, chữ khắc đã lâu, thực không phải là vật đời gần đây, duy không có sách vở ghi chép làm bằng chứng, không biết là ấn đời nào. Duy hai chữ “Tình huyên” ý Trẫm cho là trời tạnh thì cỏ huyên tươi tốt, lấy nghĩa ở ý xuân huyên[9] khoẻ mạnh chăng ? Như thế thì cũng có thể là điềm lành thánh mẫu Hoàng thái hậu ta hưởng trăm tuổi thọ”. Bèn tự chép lời nói ấy để ghi, thưởng cho Trọng Dao 10 lạng bạc.

    Tiết Thánh thọ. Sắc rằng từ nay, hằng năm phàm gặp các lễ tiết khánh hạ ở cung Từ Thọ, thì quan kinh từ tam phẩm trở lên và uỷ viên các thành trấn, đều chuẩn cho xếp theo ban làm lễ ở Duyệt thiện đường, từ tứ phẩm trở xuống đều đến lạy ở bên trong cửa Tiên Thọ. Ghi làm lệnh.


    Định lệ xét xử quản mục và y sinh khi có voi ở Kinh hay ở ngoài chết. (Phàm voi sai đi việc quân hay việc ngoài biên, lặn lội khe núi khó nhọc mà chết, hoặc ra trận bị thương rồi chết, và biền binh chăn nuôi đề phòng không cẩn thận, hoặc cưỡi ngự qua sông đầm đến nỗi chết đuối, hoặc đánh nhau đến chết, thì ở Kinh do thống quản xét rõ tâu lên đợi chỉ, ở ngoài thì do quan địa phương tra xét rõ ràng tâu lên. Còn những voi thường nuôi ở chuồng, không cứ là voi đực, voi cái, lỡ ra bị chết, thì ở Kinh do thống quản, ở ngoài do thượng ty đều thống kê trong một năm, số voi chết là bao nhiêu làm tập tâu lên. Việc xét xử thì cứ một con voi chết, những binh lính chuyên trách chăn nuôi chính kỵ phụ kỵ đều xử 60 trượng, viên suất thập thì giảm một bậc 50 roi. Có thêm một con voi chết thì gia lên hai bậc tội chỉ đến 100 trượng và đóng gông 2 tháng là cùng. Suất đội so với suất thập được giảm hai bậc xử 30 roi thêm mỗi một con thì thêm một bậc, tội chỉ đến 100 trượng là cùng. Lại ở Kinh và ở ngoài, ngoài số ngạch voi như lệ ra, nếu có con voi nào chết, cứ một con voi chết thì viên cai quản đều xử 30 roi, cứ thêm 2 con voi chết thì xử gia lên một bậc, tội chỉ đến 90 trượng là cùng. Vẫn chiếu lệ tội công mà giáng phạt những Tượng ty là y phó, y sinh, đến cả những người tuỳ thuộc nếu đã qua tay chữa thuốc mà vô hiệu thì xử, so đối với binh kém binh lính chuyên trách chăn nuôi hai bậc 40 roi nếu là chữa lầm thuốc để voi chết thì tội ngang tội của binh lính, cứ thêm một con voi chết, thì gia thêm hai bậc, cũng chỉ đến 100 trượng là cùng).


    Tháng 12, lấy Phủ thừa phủ Thừa Thiên là Bạch Xuân Nguyên thăng thự Phủ doãn, thự Lang trung Hộ bộ là Nguyễn Huy Chiểu làm Phủ thừa, Hiệp trấn Định Tường là Phạm Phúc Thiệu làm Hiệp trấn Vĩnh Thanh, Tham hiệp Định Tường là Tô Trân thăng thự Hiệp trấn Định Tường, Tham hiệp Biên Hoà là Ngô Bá Tuấn làm Tham hiệp Định Tường, thự Tham hiệp Thái Nguyên là Lê Văn Lễ đổi làm thự Tham hiệp Biên Hoà, Lang trung Công bộ là Nguyễn Dư làm Tham hiệp Thái Nguyên, thự Hiệp trấn Sơn Nam là Nguyễn Khắc Biểu đổi làm thự Hiệp trấn Tuyên Quang, Lang trung Hộ bộ hiệp lý Hộ tào Bắc Thành là Nguyễn Văn Mưu thăng thự Hiệp trấn Sơn Nam, Tham hiệp Thanh Hoa là Nguyễn Văn Thắng làm Tham hiệp Nam Định ; thự Tham hiệp Nam Định là Nguyễn Đăng Giao đổi làm thự Tham hiệp Thanh Hoa, Viên ngoại lang Công bộ là Phan Hiển Đạt thăng thự Tham hiệp Quảng Yên, Lang trung Lễ bộ là Nguyễn Đình Vũ làm Tham hiệp Lạng Sơn, Viên ngoại lang Lễ bộ Ngô Huy Tuấn thăng thự Tham hiệp Hưng Hoá.


    Triệu Hiệp trấn Quảng Trị là Hoàng Văn Diễn về Kinh, lấy Lang trung Công bộ là Đỗ Khắc Thư quyền làm việc trấn Quảng Trị.


    Lấy Hàn lâm viện Thị độc Nguyễn Tri Phương làm Thị giảng học sĩ sung biện công việc Nội các, thự Lang trung Hộ bộ là Trần Văn Trung đổi sang thự Lang trung Công bộ sung biện việc đốc công Vũ khố.


    Lấy nguyên Trấn thủ Quảng Yên là Nguyễn Văn Đoái làm Vệ uý vệ Tiền phong hữu.


    Lấy Lang trung bộ Hộ là Lê Nguyên Trung hiệp lý Hộ tào thành Gia Định, Viên ngoại lang phủ Nội vụ là Đặng Đức Thiệm thăng thự Lang trung Hộ bộ, hiệp lý Hộ tào Bắc Thành, Lang trung Vũ khố là Đoàn Văn Phú làm Lang trung bộ Hộ, chuyên làm công việc ở cục Tạo tác Bắc Thành.


    Sai Vệ uý vệ Tả nhị Vũ lâm là Nguyễn Lương Huy kiêm quản Thị vệ Nha bài, thự Phó vệ uý là Nguyễn Tiến Lâm kiêm quản bốn đội Giáo dưỡng : nhất, nhị, tam, tứ, Hiệu uý là Đoàn Quang Mật kiêm quản các đội Tân sai (lấy củi).


    Vua bảo Nội các rằng : “Từ trước đến giờ, nha Thương bạc thường đến cuối năm, phái nhân viên chia đi các hạt Gia Định, Bắc Thành, Quảng Nam để hội đồng mà thu thuế buôn bán. Ngạch thuế buôn bán đã có quy chế, quan lại địa phương sở tại cũng tự làm được, nếu lại phái người đến hội thu, cũng chỉ là thừa thôi. Vậy bãi đi”. Lại dụ rằng : Từ nay có thuyền buôn đến buôn thì cho quan địa phương theo lệ mà đánh thuế, xong rồi làm sách do nha Thương bạc chuyển tâu.


    Dựng công quán ở cửa biển Đà Nẵng, ở Quảng Nam (một toà ba gian hai chái). Phàm những khi phái viên ở Kinh đến làm việc công hay tàu ngoại quốc đến đậu, mà cần phải đòi đến để hỏi han, thì lấy đấy làm nơi làm việc công, lại cấp cho hai chiếc thuyền nhanh nhẹn (theo kiểu thuyền sai, dài 27 thước, ngang 4 thước 5 tấc, sâu 2 thước 2 tấc) để dùng đi tuần xét. Lại thấy từ trước đến nay, tấn sở gặp khi phải bốc tải hàng hoá công thì phải bắt lính trạm đến nhận lĩnh, đi lại chậm chạp, chuẩn cho từ nay cứ do viên tấn thủ liệu bắt dân lệ thuộc cùng dân phụ cận chở đi giao cho trạm Nam Hoa để theo thứ tự mà chuyển đệ (Nam Hoa sau đổi làm Nam Ổ).


    Sai thự Lang trung Hình bộ là Nguyễn Trọng Ngọc đổng lý công việc thanh tra ở thành Gia Định, về các trấn Bình Định, Phú Yên, Bình Hoà, Bình Thuận thì phái thuộc ty lục bộ đến làm.


    Hiệp trấn Hà Tiên là Nguyễn Chương Đạt nhiều lần có lỗi, nhiều lần giáng đến bốn cấp, bộ Lại theo lệ tâu xin giáng bổ làm Viên ngoại lang Công bộ.


    Giá gạo ở Kinh hơi cao ; hạ lệnh ở Kinh phàm những số lương bổng dự chi thì đến trung tuần tháng 12 cho lĩnh bằng thóc, đợi đến sang xuân thì cấp tiền, cũng lấy thóc phát thay.


    Vua bảo bầy tôi rằng : “Việc ăn của dân là rất cần, mỗi khi gặp đói kém, Trẫm lại nghĩ lập cách để tiện cho dân, nếu cứ chẩn tuất luôn, thì dễ khiến cho dân sinh lòng đòi hỏi không chán, mà mở kho phát thóc, cũng khó khỏi cái tệ lại dịch xẻo xén. Chi bằng tuỳ việc mà đặt pháp, nhân kỳ phát lương bổng, lấy thóc phát thay tiền, thì thóc gạo lưu thông, công tư đều được đủ. Thế là trong lệ thường mà ngụ ý thi ơn, trong chỗ thi ơn mà không bỏ mất lệ thường”.


    Bộ Lễ tâu rằng : “Từ trước đến nay, ba tiết lớn Nguyên đán, Đoan dương và Vạn thọ theo lệ có thiết đại triều, nay xin bớt tiết Đoan dương mà làm vào tiết Đông chí cho hợp với điển lễ”.


    Vua nói : “Bắc triều khí đất rất lạnh, cho nên làm lễ tiết Đông chí để đón tiết xuân chớm nở. Còn như triều đình ta gây dựng cơ đồ ở cõi Nam, tiết Đoan dương các đời làm lễ đã lâu ngày thì thay đổi làm gì ! Lời xin ấy không chuẩn”.


    Binh thuyền của nước Phú Lãng Sa đến đậu ở cửa biển Đà Nẵng, nói là vâng mệnh vua nước họ, muốn được một viên quan ở nha Thương bạc đến nói chuyện. Vua sai sung biện Nội các Thị giảng học sĩ Nguyễn Tri Phương đến để dò hỏi, thuyền trưởng nhất định không nói. Lại sai Thị lang Trương Đăng Quế quyền chức quan Thương bạc đến. Thuyền trưởng ấy nói rằng vua nước ấy muốn cùng nước ta giao hiếu, nhưng xa cách biển khơi không đạo đạt được, nay nghe tin nước Hồng Mao mưu đồ xâm lất đất Quảng Đông (Trung Quốc), thế tất rồi cũng lan đến nước ta, nên vua nước ấy sai đến báo tin dặn ta đừng giúp Quảng Đông.

    Trương Đăng Quế về tâu, vua cười nói rằng : “Nước ấy muốn mượn việc đó làm ơn với ta để mong đạt kế muốn giao hiếu đó thôi. Nước Hồng Mao mưu lấn nước Thanh, có can thiệp gì đến ta”. Lại sai Nguyễn Tri Phương đến bảo cho họ biết. Khi Tri Phương đã về thuyền ấy vẫn còn dùng dằng chưa đi, tự tiện lên núi Tam Thai[10] để xem xét, lại nói muốn được một người hoa tiêu cùng đi ra các hạt Bắc Thành để vẽ đồ bản. Viên tấn thủ báo về, bộ Binh tâu lên.

    Vua nói : “Vào nước người ta tất phải hỏi các điều cấm. Vượt qua hải phận còn có điều lệ nghiêm cấm huống chi muốn vào nước người mà vẽ địa đồ mang về sao họ vô lý đến thế ! Tấn thủ không biết lấy lời lẽ nghiêm nghị mà cự tuyệt, động một tý là tâu báo, sao lại không có định kiến như thế !”. Sai Tri Phương lại đến hiểu thị thuyền ấy mới đi.


    Bọn Thành thủ uý án thủ hai đài thành An Hải, Điện Hải là Lê Văn Tường, Thủ ngự Đà Nẵng là Nguyễn Văn Ngữ, Hiệp thủ là Trương Vân Loan, vì không ngăn cản được việc họ lên núi, đều bị cách chức.


    Sai Phó vệ uý vệ Ban trực hậu dinh Thần cơ là Lê Sách đến quản lĩnh biền binh trú phòng, quyền chức án thủ hai đài An Hải, Điện Hải, kiêm quản pháo đài Định Hải, Phó đội Vũ lâm là Trần Văn Duyên, Chủ sự Hộ bộ là Nguyễn Tiến Trưng quyền chức Thủ ngự và chức Thủ tấn Đà Nẵng.


    Sắc rằng từ nay phàm gặp có thuyền nước ngoài hoặc thuyền quan đến đậu ở cửa biển thì việc phái binh thuyền đi tuần xét cho viên án thủ đài hội đồng với viên trấn thủ, mà làm cho ổn thoả, nếu việc phải tâu thì làm chung tập cho chạy đệ ngay. Ghi làm lệ.


    Định lại điển lễ việc tế đàn Nam Giao.


    Bộ Lễ tâu rằng : “Năm Minh Mệnh thứ 9 (1828) chuẩn định nghi thức long trọng tế Nam Giao, tựu trung những việc tiến dâng, những vật phủ quỷ biên đậu[11] và sắp đặt ngọc lụa chuông khánh thực đã đủ cho đời sau biết được rõ ràng, duy còn có một hai điều khoản còn chưa được chu đáo. Kê cứu điển sách như lễ phần sài dùng trâu non và những tiết dâng mâm triệt cỗ thì nên bắt chước đời cổ làm, để cho đủ điển lễ lớn của triều thịnh trị. Lại xin soạn lại khúc nhạc cho hợp tiết tấu, và dựng thêm Thần khố[12] để cất đồ thờ. (Cứ hằng năm trước lễ lớn một tháng, phủ Thừa Thiên mua thêm một con trâu non, đến kỳ tế đưa đễn chỗ thần trù[13] để mổ và rửa cho sạch sẽ, rồi nhồi bằng tốc hương và lá quế đặt vào trong lò đốt, chờ khi xướng phần sài thì châm lửa vào lò để đốt. Khi nào cháy hết trâu thì thôi. Còn lễ dâng mâm thì làm vào sau lễ dâng ngọc lụa.


    Lễ dâng nghé đực ở các án chính vị và phối vị ở Viên đàn thì làm sẵn bốn cái mâm (trở) sơn đen cho tinh đẹp, đến ngày lễ lớn thì đặt con sinh lên bàn ở chính vị, hai mâm ở hai phối vị tả hữu mỗi bên một mâm, đều đặt ở án trong và quay đầu vào. Dự phái 16 viên quản vệ thân binh và cấm binh sung làm quan tư trở (phụ trách mâm), đợi khi xướng đến “tiến trở”[14] thì các quan tư trở thứ tự khiêng vào dâng, rồi rước vua đến trước các vị làm lễ. Lễ triệt soạn[15] thì làm vào sau lễ ẩm phước thụ tộ[16] . Lại chế thêm bốn mâm cỗ theo số phủ quỉ biên đậu mà chia mỗi bàn thành hai mươi sáu ô, các ô ấy đều trong bọc thiếc ngoài sơn đen và chế bốn cái bàn vuông. Đến ngày lễ lớn lấy những phẩm vật ở trong các phủ quỷ biên đậu mỗi thứ một ít đựngvào trong các ô ở mâm. Tại án chính vị và phối vị, ở dưới bàn biên đậu thì đặt sẵn bàn cỗ, đợi khi xướng “triệt soạn” thì hữu ty bưng các thứ thương bích hoàng tông[17] cất riêng ra ; các án chính vị, phối vị đều triệt cỗ. Đến khi xướng “phủng nghệ liệu sở”[18] thì đem ra đốt đi.


    Lại đổi các khúc nhạc : Khi dâng mâm thì tấu khúc “Đăng thành” ; khi triệt cỗ thì tấu khúc “Doãn thành”, bớt khúc nhạc về hai tiết phần sài và thượng hương để cho vừa đủ số chín khúc.


    Còn khúc “Khánh thành” tấu khi vua về cung, nguyên có 16 câu, nay thêm 8 câu ; khúc “Tuy thành” tấu khi tống thần nay đổi làm khúc “Hy thành”). Lại ở bốn góc tầng thứ ba của đàn mỗi góc trồng một cây đèn hạng lớn để chiếu sáng suốt đêm. Ở bên tả Thần trù phía ngoài đàn dựng nhà Thần khố năm gian lợp ngói, phàm các kỷ, bàn, tán lọng và giá đèn thường ngày vẫn chứa ở hai gian tả nhị, hữu nhị và hai chái đông tây. Sắp tới ngày thì rước long đình để bản chúc đặt ở gian chính giữa, ngọc, lụa, nậm chén, cùng biên đậu để ở hai gian tả nhất, hữu nhất. Trước một ngày, bộ thần vâng rước long đình, bản chúc đến Trai cung, để chờ vua thân điền tên ngự vào bản chúc và đem Thái thường tự đi hội đồng kiểm duyệt đồ tế để đến giờ thì bày ra.


    Vua sai đình thần bàn lại, đều lấy làm phải, bèn cho thi hành như đã bàn. (Duy một tiết dâng mâm thì ở chính vị đặt quay đầu về bắc, phối vị tả thì quay đầu về đông, phối vị hữu thì quay đầu về tây, bèn trải chiếu sẵn ở bên chỗ đặt mâm để đặt sẵn mâm sinh, chờ khi nhạc nổi và xướng “tiến trở”, vua đến đằng trước án chính vị chắp tay giơ ngang trán thì những viên tư trở quan đều bưng mâm sinh để tiến cho được tề chỉnh).


    Lại sai chế lại chén rượu ở Viên đàn. (Trước nghị định đổi dùng bằng chất bầu, phía trong chén, hai trụ, miệng rót cùng ba chân đều theo kiểu cũ, dùng chất vàng, vẫn đặt trên đài vàng. Nay cho làm bằng chất bầu trong lót vàng có đài, đặt trên cái đĩa làm bằng gỗ bạch đàn hương, hình dáng hơi giống chén).


    Chuẩn định từ nay trở đi phàm các chức quản vệ thân binh, cấm binh và cai đội thân binh, ở Kinh theo lệ được cấp phẩm phục, nếu có viên nào ra mà hiện không có can khoản gì phải xét xử thì cho được đem theo về một bộ mũ áo thường triều ; sau có điền bổ ai thì viên cai quản tư bộ đổi cấp, không phải phiên tấu xin nữa. Chép làm lệnh.


    Lấy thự Thống chế lĩnh Viện sứ viện Thượng tứ là Tạ Quang Cư làm thự Thống chế dinh Tiền phong chuyên cai quản Trung vệ, Vệ uý vệ Tiền nhị vệ Vũ lâm là Hoàng Đăng Thận làm Chưởng cơ lĩnh việc Viện sứ Thượng tứ, chuyên quản vệ Kiêu kỵ, Vệ uý vệ Tiền phong trung là Lê Thuận Tĩnh làm Vệ uý vệ Tiền nhị Vũ lâm, vẫn kiêm quản các ty Lý thiện vệ Dực bảo, Phó vệ uý vệ Long võ hữu là Phan Văn Cần làm Phó vệ uý vệ Tiền nhất Vũ lâm, thự Phó vệ uý là Nguyễn Tiến Lâm làm thự Phó vệ uý vệ Long võ hữu vẫn kiêm quản các đội Giáo dưỡng, Phó vệ uý vệ Tiền phong tiền là Nguyễn Văn Quý thăng thự Phó vệ uý vệ Tả nhất Vũ lâm, Cai đội vệ Cẩm y là Lê Văn Phú thăng thự Phó vệ uý vệ Tiền phong tiền, Phó vệ uý vệ Long võ tả là Nguyễn Đức Trường thăng thự Phó vệ uý vệ Tả nhị Võ lâm, Cai đội Vũ lâm là Hoàng Quang Thông thăng thự Phó vệ uý vệ tả Long võ, thự Phó vệ uý vệ Hổ oai trung là Tống Văn Tự thăng thự Phó vệ uý vệ Hữu nhất Vũ lâm, Cai đội vệ Cẩm y là Trần Đình Uẩn thăng thự Phó vệ uý vệ Hổ oai trung.


    Các hạt ở Bắc Thành ít mưa.


    Vua dụ bộ Hộ rằng : “ở Kinh gần đây nắng mưa điều hoà lúa má xanh tốt, thế mà cứ bọn Hồ Bôi ở Sơn Nam, Lê Văn Thường ở Bắc Ninh, Nguyễn Đình Phổ ở Hải Dương, Lê Phúc Bảo ở Sơn Tây tâu báo thiếu mưa, làm cho người ta không yên lòng được. Phải tư ngay hỏi các địa phương ấy đã được mưa chưa, việc nông thuận tiện hay không thì kíp làm tập riêng tấu ngay”. Liền sau đó các hạt báo là đã có mưa, vua rất vui lòng.


    Ngày Kỷ Hợi, tế hợp hưởng, vua thân đến Thế miếu làm lễ. Tả thị lang bộ Công là Đặng Chương đọc chúc đến chỗ tên vua, đọc nhỏ đi. Khi làm lễ xong, vua bảo bầy tôi rằng : “Bề tôi xưng tên ở trước mặt vua, coi xưng tên ở trước mặt cha là lễ đó. Tôn Miếu là trọng há nên kiêng tên ! Từ nay trở đi, phàm gặp những lễ tế Giao, tế Miếu, khi đọc đến tên của Trẫm, cứ kính cẩn mà đọc to bất tất phải kiêng. Kiêm quản Thái thường tự là Phan Huy Thực vì để thuộc viên tự viết văn chúc, khoản thức không hợp bị phạt ba tháng bổng.


    Vua thấy từ trước đến nay, hộ tịch là do bộ Hộ, binh ngạch thì do bộ Binh chưa từng đối chiếu nhau, nên trong đó họ tên tuổi và quê quán nhiều chỗ không phù nhau, nên sắc rằng từ nay, hằng năm đến kỳ làm sổ ngạch binh thì phủ Thừa Thiên và các thành trấn ở ngoài trước hết phải đem những thân biền[19] binh lính ở trong hạt, mà so sánh với hộ tịch, nếu có sai lầm thì theo thực mà cải chính lại rồi theo lệ do bộ Binh đệ nộp. Bộ Binh đem các hạng ngạch binh so sánh với đinh tịch của bộ Hộ, cốt sao cho đúng đắn để tiện tra cứu.


    Gọi 2.000 biền binh thuộc Ngũ quân ở Bắc Thành đến hạ tuần tháng 2 sang năm đến Kinh để thao diễn.

    Đổi định lại lệ thuế của người Thanh, người Man, người Nùng ở các trấn Bắc Thành (Sơn Tây, Bắc Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Quảng Yên, Tuyên Quang, Hưng Hoá). Trước kia sổ ngạch người Thanh ở các trấn gọi là Bắc khách, nay chuẩn lời bàn của quan Bắc Thành đổi làm Minh Hương, làm thuộc hộ, làm khách hộ. Bộ Hộ nhân tâu rằng : “Những người Thanh ấy và người Man, người Nùng lệ thuế từ trước đến nay gọi là gia (nhà) táo (bếp) tên gọi không giống nhau, hoặc nộp bằng bạc hoặc nộp bằng tiền nhiều ít khác nhau (người Thanh thì chỉ có mỗi nhà nộp bạc 1 lạng 2 đồng cân hoặc 5 đồng cân, hoặc nộp tiền 1 quan ; người Man có khi 2 người làm một bếp, có khi một người làm một bếp, mỗi bếp hoặc nộp bạc 4 lạng hay 2 lạng, hoặc nộp tiền 1 quan hay 2 quan ; người Nùng hoặc mỗi nhà nộp 2 lạng bạc, hoặc mỗi người nộp 5 đồng cân bạc), chủ yếu là đều noi theo chế độ cũ, chưa đủ làm chuẩn. Nay xin đổi định phép thuế, sổ đều lấy người tính suất,



    [1] Mộc đĩnh: xuồng gỗ

    [2] Nhị vương : Tuyên vương là con thứ 9 của Nguyễn Phúc Khoát và Mục vương là con Tuyên vương đều ở xã Long Hà, huyện Hương Thuỷ.

    [3] Đền Dục Đức : thờ Thái Bảo quốc công họ Nguyễn và phu nhân họ Phùng, đền làm từ đời Gia Long, sau đổi là đền Diễn Quốc công.

    [4] Đền Dụ Khánh : thờ Thọ quốc công họ Trần và phu nhân họ Lê, đền làm từ đời Minh Mệnh.

    [5] Anh Duệ : tức là Hoàng tử Cảnh.

    [6] Đền Thiệu Hoá quận vương : con thứ chín Gia Long.

    [7] Đền hai bà họ Hồ, họ Phạm : Gia phi họ Phạm về triều trước và Tá thiên Nhân hoàng hậu, hợp thờ một đền ở ngoài Kinh thành

    [8] Đền Triển Thân : thờ các hoàng tử, công chúa mất sớm

    [9] Xuân huyên : cây xuân cây huyên, người ta thường dùng để chỉ cha mẹ.

    [10] Tam Thai: núi Non nước

    [11] Phủ quỷ : đồ đựng xôi lễ. Biên : đồ đan bằng tre để đựng quả. Đậu : đồ bằng gỗ để đựng chất nước.)

    [12] Thần khố : kho để những đồ tế ở đông bắc Giao đàn

    [13] Thần trù : chỗ bếp để làm cỗ tế, cũng ở đông bắc Giao đàn.

    [14] Dâng mâm đặt con sinh

    [15] Triệt bỏ cỗ bàn

    [16] Ẩm phước thụ tộ : chủ tế uống rượu và ăn thịt tế.

    [17] Thượng bích hoàng tông : những thứ ngọc đời xưa dùng trong việc tế tự.

    [18] Phủng nghệ liệu sở : bưng đến chỗ đốt.

    [19] Thân là người làm quan văn. Biền là người làm quan võ
  • Đang tải...
  • Chia sẻ trang này