0060.0013 - @chinhsv (đã soát xong)

1/2/16
0060.0013 - @chinhsv (đã soát xong)
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    thuế đều lấy bạc thay tiền. Còn những hạng Minh Hương thuộc hộ, khách hộ mới đổi và những người Man đã biên vào sổ hộ tịch từ lâu không khác gì ngạch cũ Minh Hương thì mỗi năm thu thuế mỗi người 2 lạng bạc. Duy có người Nùng, sống về nghề phát rừng làm rẫy, nay đây mai đó bất thường, so với dân thổ trước có khác thì xin thu một nửa thuế”. Vua cho là phải.

    Nêu thưởng những người con hiếu tử, tiết phụ các địa phương. Trước là các địa phương kính tuân ân chiếu xét hỏi để tâu lên, bộ Lễ lại làm danh sách nghị thưởng chia hai hạng bình thứ dâng lên. Vua dụ rằng : “Trẫm từ khi cầm quyền đến nay dạy con hiếu làm tôi trung, luôn để tâm đến việc vun đắp luân thường. Mấy nay các địa phương tiết thứ tâu báo những sự trạng thực đáng hiếu tiết đáng nêu gương, người ta cảm khích nức lòng, như thế thực đáng khen ngợi. Nhưng nêu thưởng là điển lớn, có quan hệ đến phong hoá tất phải có chỗ phân biệt thì danh mới xứng với thực. Xét bộ thần nguyên nghĩ bình hạng 10 người, tựu trung có người con hiếu là Lê Văn Trình, người vợ tiết là Nguyễn Thị Khánh, Nguyễn Thị Phương, nết tốt tiết trinh có thể duy trì đạo lý, khuyến khích phong tục cho đều thăng lên hạng ưu, và thưởng mỗi người 40 lạng bạc, đoạn may ngoài và đoạn lót trong mỗi thứ 2 tấm, một bức biển ngạch và nhà nước dựng nhà treo biển để tỏ đặc cách. Ngoài ra từ Vũ Thị Truyền đến Đinh Thị Viên 7 người thì cho theo bình hạng, đều thưởng mỗi người 30 lạng bạc, đoạn may ngoài và đoạt lót trong mỗi thứ một tấm và một bức biển ngạch, để cho có thứ bậc khác nhau. Thứ hạng từ Lê Thị Bản đến Ngô Thị Thao 7 người, đều có sự trạng rõ rệt đáng ghi, Nguyễn Thị Quý đến Nguyễn Thị Phượng 4 người, là vợ chức quan mà giữ tiết được đều thưởng cho mỗi người 20 lạng bạc. Còn 13 người thứ hạng nữa, sự trạng đều tầm thường, không cần nghị thưởng. (Hạng ưu 3 người : 1. Lê Văn Trình, người xã Mỹ Anh, huyện Quỳnh Lưu, là người thuần cẩn, thờ cha mẹ có hiếu hạnh, mẹ thường bị chứng đau bụng, hơn một năm không khỏi, thầy thuốc nói chắc là ăn lầm phải thịt công, phải có cái dạ dày con nhím mà uống thì mới khỏi. Trình vào rừng tìm kiếm mãi không được, một hôm cầu đảo ở đền đêm nằm mộng thấy thần bảo rằng : “Người có hiếu hạnh cho ngươi một con nhím ở phía đông đền”. Ngày mai quả nhiên bắt được con nhím ở đây đem về làm thuốc cho mẹ uống, bệnh mẹ mới khỏi. Đầu năm Minh Mệnh cha Trình bị thổ phỉ bắt giam ở trong núi, đòi chuộc 150 lạng bạc. Trình vơ vét hết cửa nhà được 90 lạng, vào núi xin chuộc, bọn giặc thấy số bạc không đủ muốn chém người cha. Trình kêu khóc xin chết thay cha. Bọn giặc cảm là người có hiếu, tha cho. Về nhà rước cha đến tránh ở phủ thành, buôn bán để phụng dưỡng. Sau cha chết, Trình làm nhà tranh ở mộ một năm, khi hết tang, lại dốc hết gia tài, rước linh cữu cha về làng táng tế đủ lễ, không có suy tị gì với anh em, người làng đều khen ngợi. 2. Nguyễn Thị Khánh, người xã Nguyệt Áo, huyện La Sơn, trấn Nghệ An, khi 16 tuổi lấy người làng là Nguyễn Lai, đã có sính lễ nhưng chưa về ở nhà chồng, thì người chồng bỗng phải đi lính thú ở Quy Nhơn, chưa được bao lâu thì chết ở nơi thú. Thị được tin buồn, tức thì từ giã cha mẹ về nhà chồng chịu tang, và ở luôn phụng dưỡng cha mẹ chồng. Khi hết tang thị bỏ tiền riêng mượn người đến Quy Nhơn lấy hài cốt của chồng đưa về làng an táng rồi thắt cổ để chết theo chồng, nhờ người họ cứu sống được. Sau đó vẫn ở nhà chồng nuôi cha mẹ chồng, lại lập người cháu để thừa tự cho chồng. 3. Nguyễn Thị Phương, người xã Văn Trưng, huyện Bạch Hạc, trấn Sơn Tây, lấy người làng là Văn Đăng Bích. Năm 23 tuổi, chồng chết, không có con, thị giữ tiết thờ cha mẹ chồng. Cha mẹ đẻ vẫn thường khuyên đi lấy chồng, thị thề không lấy ai nữa. Đến khi cha mẹ chồng chết, bỏ tiền tống táng chu tất, lại lấy vợ cho em chồng là Văn Đăng Điền. Thời loạn Tây Sơn có viên võ phân suất làm chỉ huy nguỵ tên là An mến sắc đẹp, sắm lễ vật định lấy ép. Thị trốn về nhà cha nấp không ra khỏi cửa buồng hằng mấy năm. Khi nguỵ An đi, thị lại về nhà chồng, giữ trọn tiết cho đến khi chết.

    Hạng bình 7 người : 1. Vũ Thị Truyền, người làng Bất Hủ, huyện Quỳnh Lưu, trấn Nghệ An, hơi có nhan sắc ; năm 15 tuổi lấy người làng là Đỗ Danh Sỹ, sinh được 1 con trai. Năm 20 tuổi chồng chết, thị giữ chí, thờ cha mẹ chồng, nuôi con thơ. Có nhà hào phú nhiều lần dạm hỏi, thị bèn chặt một ngón tay phải thề không lấy chồng, cuối cùng giữ trọn được tiết. 2. Lê Thị Hiệt, người làng Thông Lãng, huyện Hưng Nguyên, trấn Nghệ An, có chút nhan sắc, năm 17 tuổi lấy người làng là Cao Đình Toản mới được 4 tháng thì chồng chết, nhiều lần muốn tự tử bị người nhà ngăn giữ. Khi hết tang, nhiều nhà cường hào muốn lấy. Thị bôi nhọ mặt giả ốm để tránh, trọn đời không đổi tiết. 3. Bùi Thị Chính, người làng Hào Kiệt, huyện Thiên Bản, trấn Nam Định, năm 16 tuổi lấy người làng là Phạm Danh Hoạt, được 3 năm chồng chết không có con, thị giữ tiết thờ cha mẹ chồng. Cha mẹ đẻ muốn bảo cải giá, thị không bằng lòng. Khoảng đầu đời Gia Long có tên thổ phỉ thích sắc đẹp của thị tìm bắt, thị lẻn vào vườn rậm thắt cổ, được người làng cứu sống lại. Tên thổ phỉ cho là người có nghĩa nên thôi. 4. Đặng Thị Duyên, người làng Động Trung, huyện Chân Định, trấn Nam Định, năm 16 tuổi lấy người làng là Nguyễn Đình Chức, sinh một con trai, đến năm 21 tuổi, chồng chết, ở goá giữ tiết. Thời loạn Tây Sơn, có võ phân suất ở huyện là ngụy đô ty Diên muốn ép lấy. Thị cắt tóc bôi bùn vào mặt, chạy ra đồng, lúc khóc, lúc cười, người ta cho là điên, tên Diên mới thôi. Lại có người hào phú trong làng muốn lấy, thị nghiêm sắc mặt, lấy nghĩa mà trách để cự tuyệt, rồi giữ trọn tiết. 5. Phan Thị Đốc, người xã Yên Lâm, huyện Tân Định, trấn Bình Hoà lấy người cùng huyện là Lê Minh Thức, sinh một trai một gái. Chồng chết, giữ chí thờ cha mẹ chồng. Sau có tên cường hào muốn ép lấy, cha mẹ đẻ cũng khuyên lấy chồng. Thị thắp hương khấn chồng, cắt tóc mà thề giữ tiết. Cha mẹ thấy bền lòng như thế thôi không ép nữa, bèn giữ trọn tiết. 6. Mai Thị Vãng người xã Kim Xuyến, huyện Nga Sơn, trấn Thanh Hoa, năm 18 tuổi lấy người huyện Hậu Lộc là Thang Phương Xuân, sinh được 3 con gái. Năm 25 tuổi chồng chết, thị giữ tiết nương tựa vào người anh chồng, cắt tóc thề không lấy ai nữa. 7. Đinh Thị Viên, người làng Gia Trạng, huyện Đại An, trấn Nam Định, năm 19 tuổi, lấy người làng là Đinh Bá Bái. Năm 22 tuổi chồng chết, không có con, cường hào trong làng nhiều người muốn lấy, cha mẹ chồng và cha mẹ đẻ cũng khuyên cải giá. Thị đập trán vào đá thề không đổi tiết. Đến già vết thương trên trán vẫn còn.

    Hạng thứ 11 người : 1. Lê Thị Bản, người làng Lộc Du, huyện Thượng Phước, trấn Sơn Nam, năm 17 tuổi lấy người làng là Tạ Bá Khôi, mới 4 tháng thì chồng chết, thị giữ chí nuôi cha mẹ chồng để giữ trọn tiết. 2. Phan Thị Nam, người làng An Đồng, huyện La Sơn, trấn Nghệ An, có chút nhan sắc, năm 17 tuổi lấy người cùng làng là Phạm Đình Thọ. Năm 23 tuổi, chồng chết không có con giữ chí thờ cha mẹ chồng. Nhà quan và nhà hào phú nhiều lần muốn ép lấy, cha mẹ chồng cũng khuyên lấy, thị không theo, giữ trọn được tiết. 3. Phan Thị Đoán, người làng Dương Hồi, huyện Đại An, trấn Nam Định, năm 18 tuổi, lấy người làng là Phạm Xuân Kính, được 3 năm chồng chết không có con, ở goá giữ chí. Nhà hào phú trong làng nhiều người muốn lấy, cha mẹ đẻ và cha mẹ chồng thương còn trẻ tuổi, đều khuyên lấy chồng. Thị kêu khóc, nhịn ăn 2 ngày, hàng xóm láng giềng cho là người có nghĩa mà khuyên giải rồi việc ấy thôi. 4. Phạm Thị Ninh, người xã Hào Kiệt, huyện Thiên Bản, trấn Nam Định, năm 15 tuổi lấy người làng là Vũ Đình Nhuệ, được 3 năm, chồng chết không có con, ở goá giữ chí. Có người hào phú mến sắc đẹp muốn lấy, cha mẹ đẻ cũng khuyên. Thị giậm chân mà khóc, nhịn ăn 3 ngày người làng yên ủi khuyên giải, từ đó không bị ép lấy chồng nữa. 5. Đỗ Thị Tình, người làng La Ngạn, huyện Đại An, trấn Nam Định, năm 20 tuổi lấy chồng người làng là Nguyễn Công Linh, năm 23 tuổi chồng chết, không có con, thị ở goá giữ chí. Hào trưởng trong làng nhiều người muốn lấy, cha mẹ đẻ và cha mẹ chồng cũng khuyên cải giá, thị không nghe. 6. Triệu Thị Quyến, người làng Đông Lĩnh, huyện Đại An, trấn Nam Định, năm 18 tuổi, lấy người làng là Phạm Đức Sảng, năm 21 tuổi chồng chết, giữ chí thờ cha mẹ chồng. Nhà giàu nhiều người muốn lấy thị nhất định không chịu đổi tiết. 7. Ngô Thị Thao, người làng Hoài Hữu, huyện Thanh Quan, trấn Nam Định, năm 16 tuổi lấy chồng người làng là Nguyễn Thế Thuần, sinh một trai. Năm 18 tuổi chồng chết, giữ chí. Có tên thổ phỉ muốn ép lấy, thị giả điên được thoát. 8. Nguyễn Thị Quý, người làng An Hoà, huyện Bình Dương, trấn Phiên An, là vợ Khâm sai chưởng Trung dinh đô thống chế Tống Viết Phước, sinh được một trai. Viết Phước tử trận năm thị 24 tuổi, đến nay đã 53 tuổi, giữ tiết không thay đổi, đã được ân cấp tiền để nuôi thân. 9. Trương Thị Thanh, người làng Hoà Mỹ, huyện Bình Dương, trấn Phiên An là vợ viên Khâm sai thuộc nội cai cơ, quản Long điện thị vệ Nguyễn Văn Liêm, sinh một gái, năm 22 tuổi, chồng chết giữ tiết, đến nay đã 69 tuổi, đã được ân cấp tiền gạo để nuôi thân. 10. Trương Thị Bảo, người làng Hoà Mỹ, huyện Bình Dương, trấn Phiên An, là vợ Khâm sai thuộc nội cai cơ quản Tiểu sai tri Tượng chính Trương Phúc Luật, sinh một trai, năm 30 tuổi chồng chết giữ tiết, đến nay 69 tuổi, đã được ân cấp cho tiền gạo để nuôi thân. 11. Người cùng làng với Thị Bảo là Nguyễn Thị Phượng, vợ Cai bạ Quảng Bình Nguyễn Công Khiêm, sinh hai con một trai một gái, năm 26 tuổi, chồng chết, đến nay 53 tuổi giữ tiết không đổi).

    Hơn 200 dân man ở Mường Vanh thuộc Quảng Trị, chạy sang ở nguồn An Đại, thuộc Quảng Bình, nói là từ khi Sai trưởng là A Điền Cáo bị tội, nhân dân sợ hãi chạy tản đi, xin cùng với dân man thuộc xứ này hằng năm nộp cống. Trấn thần Quảng Bình tâu lên. Vua chuẩn lời bàn của bộ Hộ cho lệ vào sổ Quảng Bình, chiểu theo lệ thuế đất mới phụ ở Thanh - Nghệ mà thu thuế (mỗi người hằng năm nộp 2 đồng cân bạc).

    Chuẩn định từ nay, phàm nhân viên mới được thăng thự tri phủ tri huyện, thì số tiền gạo dưỡng liêm chi cấp theo một lệ với hạng thực thụ. Ghi làm lệnh.

    Chưởng cơ thống quản thập cơ Uy thắng ở Hậu quân Bắc Thành là Phan Bá Hùng chết, lấy Phó thống Hậu quân là Vũ Văn Thân làm Vệ uý thống quản thập cơ Uy thắng, lĩnh Quản phủ Vĩnh Tường là Vũ Đình Di làm Phó thống thập cơ Uy thắng. Lấy Phó vệ uý vệ Lạc dũng là Phạm Hữu Tâm làm Phó vệ uý vệ Ban trực trung quân Thần sách.

    Quan Bắc Thành tâu rằng : “Các sở cửa quan bến đò trong hạt Bắc Thành có thuyền công ty ở phố An Lương châu Vạn Ninh, không có người đấu giá. Hỏi ra thì những người lĩnh trưng cũ đều nói rằng năm trước những khách buôn nước Thanh, phần nhiều chở hàng hoá bằng đường bộ. Khi đến phố thì thuê thuyền chở đi hai trấn Quảng Yên, Hải Dương và đến thành. Lái buôn ai đứng chiêu tập thuyền ghe mà chở, thì mỗi năm phải nộp tiền thuế là 5000 quan. Mấy năm gần đây đường bộ phần nhiều bị nghẽn, người buôn không đi người lĩnh trưng thường phải bù thuế xin nên bãi đi”.

    Bộ Hộ bàn tâu cho rằng ngạch thuế thuyền ấy đặt ra cốt là đánh thuế những hàng hoá nước Thanh, 20 năm nay đã thành định lệ, nay bọn lái buôn xảo trá thác cớ chẳng qua là mong được giảm thuế để kiếm lợi thôi sao nên mà đình bãi ngay được! Xin hạ lệnh cho thành thần chuyển sức cho trấn Quảng Yên truyền bảo bọn thuyền hộ ở phố ấy rằng, phàm có người Thanh đến buôn bán thuê chở hàng hoá thì cho cứ đường cũ mà đi, nhưng những chỗ quan yếu trên đường thuỷ, thuyền bè tất phải qua lại, thì phái viên của thành hội đồng và phái viên của trấn chia nhau ngồi thu thuế, cứ 3 tháng một lần báo về bộ biết. Vua theo lời bàn.

    Hạ lệnh cho các địa phương từ Nghệ An đến Bắc Thành khuyên bảo dân trồng cây.

    Vua dụ Nội các rằng : “Trẫm từ thân cầm chính quyền đến nay, thường để ý mở nguồn lợi để cho dân được sung túc, đã từng ra lệnh cho trong ngoài kinh thành trồng các cây có tiếng như cây nam mai và cây mít ở khắp nơi, đại khái những cây ấy đã thành cây gỗ dùng được. Nên phải truyền chỉ cho từ Nghệ An trở ra các quan sở tại phải sức khắp cho quân và dân ở trong thành và hai bên đường cái quan thì trồng cây mít, ở bờ đê ven sông thì trồng cây liễu, và thường phải vun bón bảo vệ cho cây được lớn, đề phòng dùng vào việc công. Hạn trong 3 năm, cứ số cây hiện đã trồng, kê thành sách tâu lên. Nên thong thả mà khuyên bảo, đừng đốc thúc khẩn cấp mà hại cho dân”.

    Người Bình Định là Lê Văn Lễ làm thư nặc danh tố giác bọn Nguyễn Văn Thể che giấu nòi giống Tây Sơn là Nguyễn Văn Lương (con Nguyễn Văn Nhạc) và Nguyễn Văn Trượng (con Nguyễn Văn Đức, Đức là anh tên Lương). Quan trấn thần bắt được bọn Thể, nghiêm giam rồi mật tấu lên.

    Vua sai ngay Tả tham tri Hình bộ là Trương Minh Giảng lĩnh cờ bài khâm sai, đem theo thuộc viên ở bộ và trấn phủ vệ Cẩm y đến nơi để tra xét. Những tên phạm bị bắt đều nói rằng hai tên Lương và Trượng nghe tin lùng bắt đã trốn đi, nếu không ở Thạch Thành trấn Phú Yên, thì ở trong hạt Gia Định. Giảng tâu rõ duyên do. Vua bèn sai truyền chỉ cho các quan địa phương từ trấn Phú Yên trở vào Nam đến Gia Định, cho đi mọi nơi dò bắt, lại treo giải thưởng cho quân dân ai bắt được hai tên phạm ấy giải nộp quan thì thưởng cho 100 lạng bạc, thám báo được sự thực thì thưởng cho 50 lạng bạc, nếu dung ẩn và dẫn đường cho phạm đi trốn thì xử cùng tội.

    Làm lại mái hiên các công đường lục bộ, đằng trước, đằng sau hai bên tả bên hữu công đường thượng thư và công đường tả hữu tham tri đều một mái, đằng trước, đằng sau công đường tả hữu thị lang đều một mái, mặt trước hai dãy nhà ty viện tả hữu đều một mái. Năm trước chỉ phát cho lá dừa, mây và tre, để gác mà tre, đến nay sáu bộ tâu xin làm lại, trên dùng mái gỗ lợp ngói, dưới đắp nền đất, ngoài bó thềm gạch cho được kiên cố. Vua y cho.

    Đắp lại ba sở đê mới ở Sơn Tây và Sơn Nam (Sơn Tây một sở tại xã An Quán huyện An Sơn, dài 217 trượng lẻ, Sơn Nam hai sở, một sở ở xã Tử Dương huyện Sơn Minh, dài 126 trượng lẻ, một sở ở xã Lưu Khê huyện Thượng Phước dài 90 trượng).

    Cho huyện Tam Dương, trấn Sơn Tây đổi thuộc về phủ Vĩnh Tường, huyện Phù Ninh đổi thuộc về phủ Đoan Hùng. Huyện Tam Dương nguyên trước do phủ Đoan Hùng thống hạt, mà đất thì ở gần phủ Vĩnh Tường ; huyện Phù Ninh, nguyên trước do phủ Vĩnh Tường thống hạt, mà đất thì ở gần phủ Đoan Hùng, vì đường sá cận tiện, nên đổi lệ như thế.

    Sai Hữu thị lang Hình bộ là Hà Duy Phiên quyền làm công việc Lễ bộ.

    Chuẩn định, từ nay trở đi phàm quan binh thăng bổ ra làm quan ngoài mà nhận được chỉ vào sau ngày phong ấn, nếu nói thăng bổ có việc quan hệ khẩn cấp thì cho do bộ tâu xin, cho đi nhận chức ngay, còn thì đều cho lưu lại đến tiết Nguyên đán theo ban vào chầu mừng chờ đến sau ngày khai ấn mới đi. Ghi làm lệ mãi mãi.

    Giặc trốn ở Quảng Yên là Nguyễn Bảo, tụ họp hơn 10 chiếc thuyền, ẩn hiện ở hải phận Trực Cát.

    Trấn thủ Nguyễn Duy Tân cùng với thự Phó vệ uý vệ Tuyển phong hữu do thành phái đến là Phan Văn Đức đem quân đi tuần bắt, đêm đậu thuyền ở sông Phục Lễ (thuộc huyện Thuỷ Đường, trấn Hải Dương, thông với Trực Cát), giặc chợt xông đến đánh, binh thuyền đầu cuối không tiếp ứng được với nhau, Tân bị giặc giết, binh bị thương và chết nhiều, bỏ thuyền lên bờ chạy. Đức ở đằng sau chỉ thúc thuyền đi theo bắn súng để hưởng ứng, đến sáng mai mới đốc quân chặn đánh, chém được bốn đầu giặc. Giặc tan vỡ, bắt được 8 chiếc thuyền cùng nhiều súng ống khí giới. Bảo chạy thoát, đồ đảng thì trốn nấp vào bụi lau sậy ở bờ sông, bị dân sở tại bắt được 14 đứa đem nộp. Việc tâu lên, Phan Văn Đức vì không cứu chủ tướng trước, bị cách lưu. Đến khi thành thần tâu lên, xét rõ tình trạng hỏng việc và công trạng của biền binh lại thắng thì vua bảo bộ Hình rằng : “Việc này Nguyễn Duy Tân điều độ sai lầm để bọn giặc nhỏ thừa cơ sinh chuyện, có phạm đến quân luật. Nhưng nghĩ bị thiệt mạng tại trận, tình cũng đáng thương, vậy chuẩn cho chiểu nguyên hàm mà cấp tuất. Hiệp trấn Lê Đạo Quảng không biết đề phòng trước, phạt 6 tháng bổng. Phan Văn Đức ứng cứu hơi chậm nhưng đã biết hết sức chống giặc suốt đêm, đến trận ban ngày lại hăng hái tiến lên, rồi để giành được thắng lợi, thì cho đổi giáng hai cấp lưu. Những biền binh ra trận cứ chém được một đầu giặc thì thưởng 1 lạng bạc, ai bị chết thì thưởng 3 quan tiền, bị thương thì thưởng 2 quan. Tổng lý dân phu thì thưởng chung cho 100 quan”. Rồi thấy giặc đã trốn xa, sai triệt quân về.

    Phó thống chế Thuỷ sư là Trương Văn Tín chết, cho 300 quan tiền, 2 cây gấm Tống.

    Đổi thuyền Tam đao thuộc thành Gia Định làm đội Gia nhuệ.

    Trấn thần Ninh Bình tâu rằng hai cơ Tiền và Tả thuộc hạt Ninh Bình, mỗi cơ chia làm 3 hiệu, Trung hiệu 4 đội, Tiền hiệu và Hậu hiệu mỗi hiệu 3 đội, từ trước đến nay đã thành sổ ngạch, nay xin bỏ những chữ Trung hiệu, Tiền hiệu, Hậu hiệu cứ theo thứ tự đổi làm mỗi cơ 10 đội, để cho danh hiệu ăn khớp với danh hiệu ở Hữu cơ và Hậu cơ. Vua y cho.








    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN LXXI

    THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ

    Tân mão, năm Minh Mệnh thứ 12 [1831] (Thanh Đạo Quang năm thứ 11), mùa xuân, tháng giêng, mồng 1, cho hai ban văn võ từ chánh ngũ phẩm trở lên yến và thưởng, gián hoặc có viên nào còn bị giáng cấp, không được dự thưởng, thì cũng gia ân thưởng cho mỗi người 1 lạng bạc. Uỷ viên các địa phương từ chánh ngũ phẩm trở lên được chiếu theo quan Kinh mà dự yến thưởng, Tòng ngũ phẩm trở xuống đều được dự yến, lại gia ân đều thưởng mỗi người 2 lạng bạc ; những viên sung chức hành tẩu ở Nội các thì Tòng ngũ phẩm trở xuống cũng thưởng mỗi người 2 lạng bạc. Về sau lấy làm lệ thường (Trước kia, quan ngoài từ tứ phẩm trở lên mới được dự yến thưởng, ngũ phẩm trở xuống chỉ thưởng mỗi người 1 lạng bạc).

    Quảng Bình tâu báo được mưa. Vua phê bảo rằng : “Tiết đầu xuân nhiều phúc, mừng tiếp tin lành mưa ngọt. Kính cẩn ơn trời, Trẫm cùng dân chúng các người đều được hưởng phúc đó”.

    Ở Kinh sư giá gạo cao. Vua dụ bộ Hộ rằng : “Kinh kỳ là chỗ đô hội người bốn phương tụ tập, giá gạo ngày một tăng lên. Hơn nữa các hạt năm ngoái giá gạo cũng lên cao. Nay gặp khi giáp hạt gạo ăn bên ngoài chưa được đầy đủ, gia ơn từ các hoàng tử tước công, và các quan lớn nhỏ, ăn lương năm lương tháng, đều được trích ra tiền lương một tháng, chuẩn cho vào kỳ tháng giêng, cứ 1 quan tiền thì phát thay bằng 1 hộc thóc, nếu có ai bị xử giáng phạt thì cũng cho chiếu nguyên phẩm trật cũ mà cấp phát để cho hột gạo lưu thông, quan dân đều được nhờ ơn”. Lại cho lại dịch các nha cùng các hạng biền binh ở Kinh cũng được phát một tháng tiền lương bằng gạo như thế.

    Cho Phó vệ uý vệ Dương võ quân Thần sách là Nguyễn Văn Phượng thăng thự Trấn thủ Quảng Yên. Cho Thành thủ uý Nguyễn Văn Lượng và Lê Văn Hiếu chức hàm Phó vệ uý quân Thần sách. Lượng là Án thủ đài Điện Hải kiêm quản pháo đài Định Hải. Hiếu là Án thủ đài An Hải. Sắc cho vệ Ban trực trung đương ban trú phòng ở hai đài Điện Hải, An Hải, chỉ phái từ suất đội trở xuống đến binh đinh, giao cho bọn Lượng hiệp đồng chuyên quản, còn quản vệ thì ở lại Kinh để hầu, đợi khi vệ binh mãn ban về ngũ thì cai quản để sai phái việc công. Từ sau hằng năm đổi phái biền binh các vệ Ban trực quân Thần sách thì cũng theo lệ ấy.

    Vua ngự giá ra thăm phía đông Giao thấy lúa má tốt, rất vui lòng, thưởng cho các dân cư hai bên dọc đường 2.000 quan tiền. Vua bảo thị thần rằng : “Trẫm nhân rỗi việc, đi tuần những chỗ đi qua, nhân dân đặt nhiều lễ nghi, Trẫm không lấy cái đó làm đẹp mắt, chỉ mừng thấy lúa xanh tốt mà thôi”. Rồi đưa bài thơ ngự chế cho xem.

    Uỷ viên các địa phương nhiều người bỏ trực, bộ Lễ hặc tâu. Vua nói : “Uỷ viên đến Kinh, đã dụ cho ngày ngày phải trực để có hỏi han, mà còn dám bỏ vắng, khinh nhờn như thế thì ngày thường tiếp dân làm việc như thế nào có thể biết được”. Rồi phạt bổng và cho trở về.

    Thự Hữu tham tri Hình bộ là Nguyễn Công Trứ và thự Hiệp trấn Nam Định là Nguyễn Nhược Sơn đều bị phạt giáng chức. Trứ trước đi doanh điền ở Nam Định có tên quyền sai đội trưởng ở trấn là Phí Quý Trại có tiếng là hào phú, từng được theo đi để sai phái, đến nay Nhược Sơn vào chầu, Trại theo đi. Trứ với Nhược Sơn cùng bảo cử Trại làm huyện thừa huyện Tiền Hải, Tả thị lang Hộ bộ là Hoàng Quýnh trước đã làm việc ở Nam Định biết Trại không có tài năng gì khác, chỉ lo lợi riêng mà cầu cạnh, bèn dâng sớ hặc, đại lược nói rằng : “Trại chỉ là một kẻ hào phú ở Nam Định, ruộng đất công tư bị nó bao chiếm, dân nghèo vô sản nghiệp bị nó sai khiến, nếu việc cất nhắc này mà đắt, không những bọn sĩ phu khoa mục cống cử làm phủ huyện ở ngoài xấu hổ phải đứng cùng hàng mà một huyện Tiền Hải, tất lại sẽ là một nơi sào huyệt những kẻ trốn tránh. Huống chi quan tước là do các tiên đế cùng Thế tổ Cao hoàng đế để lại cho hoàng thượng, để đãi kẻ hiền tài trong thiên hạ, cho nhà nước dùng, cho nên dù một tự hay nửa cấp hoàng thượng cũng chưa từng lấy tình thân ái mà cho riêng ai. Hai gã kia nghĩ thế nào, mà dám lấy quan tước của trìêu đình làm cái quà của mình để thù đáp riêng. Xin trị tội để ngăn chặn con đường cầu cạnh, mà răn những kẻ bề tôi dối vua làm riêng”.

    Vua xuống chỉ khiến bọn Trứ tâu trả lời và giao cho đình thần đối chất nghị xử. Khi lời nghị tâu lên xin đều xử cách chức. Vua đặc ơn đổi giáng bổ Trứ làm tri huyện Kinh huyện, giáng bổ Nhược Sơn làm Tri huyện Tiền Hải. Phạt Quý Trại 100 trượng và truy thu lại văn bằng của thành, bắt phải về dân.

    Lấy Lang trung hiệp lý Hình tào Bắc Thành và Đoàn Khiêm Quang thăng thự Hiệp trấn trấn Nam Định, Tham hiệp Bắc Ninh là Bùi Nguyên Thọ làm Lang trung Hình bộ, hiệp lý Hình tào Bắc Thành, thự Tham hiệp Tuyên Quang là Phan Thế Chấn là Tham hiệp Bắc Ninh, thự Đốc học Bình Định là Trần Lâm đổi bổ làm Viên ngoại lang Binh bộ và thăng thự Tham hiệp Tuyên Quang. Lâm đến lỵ sở liền chết, gia ân cho thực thụ Tham hiệp và chiếu lệ cấp tuất.

    Vua thấy đất Hà Tiên rộng rãi bát ngát, mà ruộng nương chưa mở mang, làng mạc còn thưa thớt, muốn một phen kinh lý để mở rộng địa lợi và ổn định dân cư, dụ cho thành thần Gia Định, cùng đốc suất ba tào hết lòng trù tính, làm thế nào để khiến những dân không nghề nghiệp, đến chỗ đất chưa khẩn hết, chia nhau lập ra làng mạc, cày cấy làm ruộng trồng râu để làm cái lợi muôn đời. Trù hoạch công việc thế nào, thì làm tập tâu lên, vừa gặp có việc ngoài biên báo về, việc ấy bỏ lại.

    Ngày Nhâm Tuất, tế Xuân hưởng.

    Sai quan thanh tra bộ Hộ. Lấy Thống chế Hậu dinh quân Thần sách là Nguyễn Văn Quế sung chức Đổng lý, Tả thị lang là Đặng Chương sung Phó đổng lý, Lang trung Binh bộ là Dương Văn Phong và Hàn lâm Thừa chỉ sung biện các vụ là Cao Hữu Dực sung hiệp lý.

    Bắt đầu đặt chức thị lang thương trường, bớt chức giám đốc ở Kinh thương. Lấy nguyên thự Hiệp trấn Quảng Ngãi là Trần Danh Bửu làm Hữu thị lang thương trường, đúc ấn Thương trường quan phòng bằng đồng và dấu kiềm bằng ngà cấp cho.

    Bớt chức giám đốc Mộc thương, đặt thêm một viên Lang trung Công bộ chuyên coi công việc ở Mộc thương.

    Sai khắc bản Ngự chế thi văn sơ tập.

    Trước là sáu bộ và Nội các tâu xin xem các bài thơ văn ngự chế từ năm Minh Mệnh thứ 11 (1830) trở về trước khắc bản in làm sơ tập, để sáng tỏ nền văn trị vua không cho. Đến nay lại cùng xin lại, vua bèn cho.

    Vua thân làm bài tựa tập thơ rằng :

    “Thơ ta làm ra, từ năm Bính Tuất (Minh Mệnh thứ 6 [1826]) trở về trước, cũng có một đôi bài coi ra còn nhạt nhẽo, rồi cũng mất mát đi. Từ năm Đinh Hợi (Minh Mệnh thứ 8 [1827]) về sau, gặp việc là cầm bút, thơ ngày một nhiều không nỡ bỏ đi, mới sai chép thành tập, là tạm để làm vui khi rỗi việc đó thôi. Đã có lời xin đem khắc bản in, ta không cho, vì tự nghĩ, những thơ ta làm đó phần nhiều là mình tự dạy mình về đạo kính trời yêu dân, so sánh lúc tạnh lúc mưa để xem thời tiết, không có lời hoa hoè chải chuốt để cho người ta thích nghe. Không như cái học của thư sinh, tìm từng chương trích từng câu mà muốn đua đẹp tranh hay với các văn nhân mặc khách đâu. Vả lại, các bậc đế vương từ xưa làm thơ văn phần nhiều là mượn những kẻ từ thần. Theo ý ta xem thì tuy chốn Hàn lâm Bí các là để thay lời vua nói, dùng vào cáo sắc mệnh lệnh thì được, còn như văn thơ thì vốn là gốc ở lòng phát tự chí, nếu có người làm thay thì không phải là chí của mình, hà tất lại nhận cái hư danh ấy làm gì. Huống chi vua chúa không phải lấy việc hay thơ làm chức vụ. Nghiêu Thuấn ngày xưa có làm thơ đâu, mà người ta phải khen Nghiêu Thuấn. Thế mới biết thơ văn là một việc thừa đó thôi, việc gì phải khoe tài bằng thơ mà mượn người làm thay làm gì. Cho nên thơ văn ta làm, một chữ một câu đều do tự ý mình, tôi con trong triều đều biết cả. Năm ngoái sáu bộ và Nội các cùng nhau khẩn khoản xin khắc in sơ tập thi văn ngự chế, ta cũng chưa cho. Nay lại xin lại. Ta nghĩ nếu không cho làm thì phụ lòng mong muốn của người ta mong muốn, mà gần như là kiểu cách. Nước Việt ta vốn có tiếng là nước văn hiến, từ các triều xưa dựng nước cũng đã có nhiều bậc vua chúa tài giỏi, những thơ văn làm ra tất nhiên phải có, mà sách vở không chép, đến nay vẫn thiếu, chỉ có Lê Thánh Tông trước thuật rất nhiều, một vài bài còn lại, người ta đọc lấy làm khoái trá, truyền tụng đến nay, nhưng tiếc là cũng tản mát, không thành tập thành quyển, lại không có bản in để lại. Nay nếu đem những thơ văn ngự chế ban ra thì cũng là một việc hay trong làng văn nghệ nước ta, theo lẽ không có gì là hại, vì thế chuẩn cho làm như lời thỉnh cầu.

    Hãy đơn cử một việc mà nói : Trẫm hằng ngày lúc nào rỗi việc một chút cũng còn chăm việc thi thư, huống chi những kẻ văn học, lấy đấy mà được hiển vinh, nổi tiếng há lại chẳng lo dùi mài cố gắng sao ! Lấy điều ấy mà biết cảm phát phấn khởi mà đến được chỗ thành công thì tập thơ này cũng có ích cho bọn văn học các ngươi vậy”.

    Vua lại dụ Nội các rằng : “Trong bản Ngự chế văn sơ tập có các bài dụ chỉ do tay ta soạn năm trước đặt ở đầu quyển thì cứ thế mà khắc in cũng đủ, bất tất phải làm tựa”.

    Tìm mua thơ văn của Lê Thánh Tông.

    Vua dụ cho Nội các rằng : “Nước Việt ta mở nước bằng văn hiến, các bậc vua hiền đời đều có, duy Lê Thánh Tông thì không phải đời nào cũng có. Những phép hay chính tốt chép cả ở trong sử sách, lại còn khi rảnh việc thì lấy văn nghệ làm vui, trước tác rất nhiều, tiếng hay phong nhã vẫn còn văng vẳng bên tai mọi người. Trẫm nhớ đến cổ nhân rất lấy làm kính mến. Tuy đời đã xa, lời nói đã mất, văn chương tuy đã tản mát, nhưng ở trong rừng nho chăm học tất vẫn có người trân
  • Chia sẻ trang này