0060.0016

24/12/15
0060.0016
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    Vua dụ : “Cái mưu đánh nước người ta, cơ mật quan trọng biết là chừng nào, mà vua tôi nước họ lại khinh thường để tiết lộ cho người ngoài biết được, hoặc giả Hạt Xà Bông từ trước đến giờ vẫn lẩn lút, nay mới thu thập quân tàn, toan lại cử sự và nói thác dựa vào uy thế của triều đình ta để doạ nạt người Xiêm, cho nên nước Xiêm mới có cử động đột ngột này để tự phòng bị đó thôi. Vả lại không cứ lời của thám tử thực hư thế nào chưa rõ, nhưng cái kế biên phòng vẫn phải như việc giọi nhà từ lúc chưa mưa. Huống chi việc binh có thể không đúng, nhưng không có thể không phòng bị ; phòng bị sẵn thì gặp việc có thể không lo. Vậy những biền binh ở thành hạt, nên đình chỉ ngay tất cả công việc để cùng với các hiệu ở đồn điền, chăm chỉ thao diễn. Cho đến khí giới súng ống, quân nhu cũng phải chuẩn bị trước. Nếu tiếp được tin đích thực, một mặt phải làm tờ phi tâu lên, một mặt phải tùy cơ phòng ngự. Trọng binh hiện đóng ở Kinh sẽ liên tiếp đến mau cũng chưa muộn gì”.


    Lai dụ cho Trấn thủ Bình Thuận là Hoàng Văn Trạm, Trấn thủ Bình Hoà là Nguyễn Quế, Phú Yên thì phái uỷ Phó quản cơ, đều quản lĩnh binh thuyền đến ngay Gia Định đóng lại phòng bị theo sự điều khiển của thành thần.


    Khi dụ đến trấn Phú Yên thì gặp lúc Phó quản cơ thuộc trấn là Trần Văn Song bị bệnh, Hiệp trấn Nguyễn Công Liêu và Tham hiệp Hồ Sỹ Lâm đều khuyên Trấn thủ Nguyễn Văn Hợp thân đi. Hợp cho là không có chỉ rõ ràng không chịu đi, bèn uỷ suất đội đi thay. Bọn Công Liêu đem việc tâu lên. Viên ngoại lang bộ Binh là Nguyễn Văn Toán thảo lời chỉ cho là Hợp khéo tìm cách trốn tránh, làm phiếu nghĩ giáng một cấp, phiếu ấy đường quan Binh bộ chưa được xem đến. Đến khi phiếu nghĩ dâng lên, vua bảo Nội các rằng : “Nguyễn Văn Hợp tuy là người tầm thường, không thấu suốt lý lẽ, nhưng việc này theo lý là đúng. Trấn thủ có chức nhiệm về bờ cõi, nếu thực có giặc ngoài xâm lăng mặt biển không yên dù không có chỉ rõ ràng cũng phải thống suất binh thuyền đi chống giữ ngay. Nay việc ở ngoài nghìn dặm, chưa biết chắc đã có tình hình ngoại hoạn hay không, há nên thiện tiện dời bỏ chức nhiệm. Thế thì Nguyễn Văn Hợp không đi là phải, mà bọn Công Liêu khuyên đi là không phải. Nay bộ Binh muốn buộc Hợp vào tội, sao kiến thức sai lầm như thế”. Rồi triệu đường quan là Lê Đăng Doanh và Lê Văn Đức đến để quở trách.


    Lại thấy từ trước đến nay, sáu bộ có nghĩ soạn lời chỉ thì chỉ viết là bộ ty phụng thảo, mà đường quan không đứng tên, sắc rằng : “Từ nay về sau, phàm có nghĩ thảo lời chỉ trình lên thì ở cuối tờ giấy phải viết rõ những chữ : “Bộ ty là viên nào phụng thảo, đường quan là viên nào phụng duyệt”. Nếu trong đó có chỗ sự lý không hợp thì tuỳ theo nặng nhẹ mà phân biệt trừng phạt. Ghi làm lệ”.


    Cho Thống chế Hậu dinh quân Thần sách là Nguyễn Văn Quế quản lý biền binh thành Gia Định, và hiệp cùng Tổng trấn Lê Văn Duyệt làm công việc thành, phàm có việc gì phải tâu thì cùng ký tên, sai hữu ty chế ấn quan phòng bằng ngà cấp cho (khắc những chữ triện “Quản lý Gia Định biền binh quan phòng”). Quế vào bệ từ, vua cho 200 lạng bạc, 20 tấm sa lụa, phái 30 biền binh vệ Ban trực hậu đi hộ tống.


    Lấy thự Thống chế Tiền phong là Tạ Quang Cự đổi bổ thự Thống chế Hậu dinh quân Thần sách thay cho Nguyễn Văn Quế, sung đổng lý thanh tra công việc bộ Hộ, hội đồng với những viên phó đổng lý và hiệp lý đã phái trước để tra xét.


    Lê Văn Duyệt lại dâng sớ nói về việc phái người do thám tình trạng quan dân nước Chân Lạp theo ta hay không. Phàm những quan Phiên có thân thích ở nước Xiêm thì đều có vẻ trông ngóng, chỉ có một mình Chiêu Chuỳ Tôn La A Suất, còn biết lo về Xiêm mà trù tính nhiều đường, còn ngoài ra thì chỉ khoanh tay mà thôi. Còn như dân Phiên thì quá nửa là hai lòng. Nhưng việc quân và tình hình biên giới ở thành trong sớ tâu không thể nói hết được, xin uỷ viên Thị lang Hình tào là Võ Du về Kinh để diện tâu về việc cơ yếu. Lại xin phái thêm Phó tướng Nguyễn Văn Xuân, với tinh binh ba vệ vài mươi chiếc thuyền to tải thêm súng lớn, vải sại và lương thực để phòng dùng việc quân.


    Vua dụ : “Cái việc người Xiêm làm bậy, Trẫm đoán hẳn là không có. Năm trước họ giết hành nhân của ta bắt thổ ty của ta, ta không hỏi tội nó, chỉ lấy hoà hiếu làm đầu, thì nó còn nói gì được nữa, mà lại khinh thường hành động càn dỡ như thế. Túng sử nó mờ tối cả lẽ trời lòng người, bỏ hoà hiếu, chác cừu thù, mà gây chuyện ra trước thì đã có trời đất soi xét, thiên hạ quan chiêm mà lý thẳng là mạnh, nghĩa lớn rõ ràng, trời giúp nước ta, người bỏ nước nó, nó dù ngang ngược cũng không sợ gì. Huống chi khanh tuy già yếu mà danh vọng vẫn còn, nên trấn tĩnh để phục lòng người không nên phô trương mà động tai mắt người ta ! Gia Định vẫn có tiếng là quân mạnh vốn không thiếu người, há lẽ vì cái bọn giặc nhỏ ở Chà Và năm trước, nhân tên quan võ hèn kém Nguyễn Văn Nghi làm hỏng việc mà cho là biền binh hạt ấy không ngăn chống được giặc hay sao ? Nay quân lương khí giới đã sẵn đầy đủ, khanh nên yên tâm, mà điều khiển, mặt ngoài làm ra như không có việc gì mà bề trong vẫn ngấm ngầm phòng bị. Rồi phái người đi trinh thám khắp mọi nơi đường thuỷ đường bộ, nếu có tin đích thực là người Xiêm vào cướp thì một mặt làm tờ tâu cho phi ngựa báo lên, một mặt phái biền binh tuỳ cơ đánh giữ. Vả lại Gia Định và thuộc hạt Chân Lạp, đường sông có nhiều ngả, nếu khi biền binh ở thành bất tất phải tranh giành thắng lợi, về mặt đường bộ có thể cứ chặn đóng ở các nơi ngã ba sông. Thời chúng bay sang thế nào được, rồi trong thời gian không đầy một tháng quân ở Kinh đã đường thuỷ đường bộ tiếp tục kéo đến thì cũng không muộn gì. Nay ở Kinh đã chỉnh bị trước rồi, ngươi không nên quá lo.


    “Lại nữa, Chân Lạp là nước thần thuộc của ta, nên lưu ý việc yên ủi, vỗ về lòng người là thượng sách, không nên vì một vài đứa giặc cướp như bọn Chiết Ma mà coi họ như người ngoài, thì tức là đẩy họ đi theo giặc, rất là thất sách, nên phải nghĩ kỹ.


    “Lại nay mới sai Thống chế Nguyễn Văn Quế đến cai quản biền binh ở Gia Định và làm việc thành, phàm công việc gì, ngươi nên cùng y và các tào một lòng vì nước, giữ đạo công bình chính trực, không có yêu ai ghét sai, cho đến các quan trong trấn và các hàng tướng tá, cũng nên đem lòng thành thực mà đối xử, người nào chức chưa được xứng đáng thì cất nhắc lên, người hiền tài thì khuyên thưởng cho, cốt sao làm phấn khởi được sỹ khí, tiến cử được nhân tài, để dùng vào việc nước. Trẫm đã đinh ninh dặn bảo người nên càng gắng sức thêm lên”.


    Vừa được vài ngày Lê Văn Duyệt có tờ tâu về nói : “Cứ người Chân Lạp thám báo, nhân dịp vua Phiên (Chân Lạp) sắp sửa làm lễ kỳ Phước báo hiếu cho mẹ, nước Xiêm có sai Phi Nhã Chất Tri hộ tống em vua Phiên là Nặc Yêm, Nặc Dun về nước, hiện đã đến đất Bang Khương (địa danh nước Xiêm, giáp với phủ Bắc Tầm Bôn nước Chân Lạp). Chúng mượn cớ nói việc báo hiếu sự thực là có ý dòm dỏ việc ngoài biên giới quan trọng, khẩn xin truyền bảo cho tuân hành”.


    Vua dụ : “Chân Lạp là phên giậu của ta, há nên để cho nó gậm nhấm. Tin đó nếu quả có thực, nên tư sức cho vua Phiên chuyển báo cho Nặc Yêm, Nặc Dun rằng: các người ấy đối với vua Phiên tình tuy là anh em, nghĩa là vua tôi danh phận đã rõ ràng nếu thực lòng có hiếu với mẹ, cho đem theo vài mươi đầy tớ cũng đủ, còn như đem đại binh đến thì tức là tranh giành với vua Phiên, sự bất kính còn gì hơn, thì quyết không thể tiếp được. Nếu bọn ấy không dám trái, sớm biết nghĩ lại, không những tình anh em chúng không đến nỗi tổn thương, mà ta với nước Xiêm cũng vẫn giữ được hoà hiếu như cũ, không thế thì là họ tự gây hiềm khích trước, ai phải ai trái đã rõ ràng thì chuẩn cho phái ngay trọng binh chia đi đóng giữ các trấn Châu Đốc, Hà Tiên, giương thanh thế trước để trấn áp, làm tiêu tan tà tâm của họ đi. Nếu họ cứ nhất định kéo đến xâm lấn ta thì lập tức phân phái quân đi chống giặc. Lại uỷ cho viên bảo hộ đến thành Nam Vang, gia tâm đề phòng giúp đỡ, nếu xảy có việc biến thì đem vua Phiên và các quan Phiên về thành (Gia Định) sẽ có cách xử trí.


    “Nay nên chọn phái người nào làm được việc đi thám xét tình hình biên giới. Không nên chỉ bằng vào lời nói của người Lạp, nhỡ ra sai lầm. Vả lại, ngươi là người đứng đầu chuyên trách ở ngoài công việc biên cương quân sự vốn đã quen lắm, nên làm thế nào hết mưu kế, tuỳ cơ điều khiển, cốt sao được vẹn toàn mới tốt”.


    Duyệt lại được tin quân Xiêm tiến đóng Bắc Tầm Bôn bèn sai viên bảo hộ Nguyễn Văn Tuyên đem hơn 2.000 biền binh đến thành Nam Vang hộ vệ, rồi đem việc tục tâu lên.


    Vua dụ rằng : “Xem cách cử động của người Xiêm còn chưa lộ ra tình hình muốn sinh chuyện. Lời của thám tử nói lần trước, chẳng qua chỉ là truyền hư chắc không phải là tin đích thực. Nhưng thận trọng việc biên phòng thì phái quân đi cũng không phải là không nên, nếu đến tuần tháng tư mà bờ cõi Chân Lạp quả đã yên tĩnh, thì tức khắc rút quân ta về, không nên ở lâu”.


    Sai bộ Binh truyền sắc chỉ cho quan trấn Nghệ An phái người nào làm được việc ngầm đến thành nước Vạn Tượng thám thính xem có quân Xiêm đóng đồn đó không, tin tức tên Hạt Xà Bông và tình hình động tĩnh của nước Xiêm ra sao, phải kíp tâu về ngay.


    Quan trấn Nghệ An liền tâu nói : “Thám tử đến thành nước Vạn Tượng, thấy thành ấy bỏ hoang rậm, không có người ở cũng không có quân Xiêm đóng đồn, chỉ có vài mươi tên quân thổ đóng giữ ở đồn Nùng Khai, để chiêu tập dân Vạn Tượng lác đác còn sót lại mà thôi. Hỏi bọn quân thổ ấy đều nói từ sau khi A Nỗ thua, Hạt Xà Bông chạy trốn vào rừng, không biết còn sống hay chết, lòng nghi của vua Xiêm nay đã bớt, không còn nhắc đến việc Hạt Xà Bông nữa”.


    Vua bảo bộ Binh rằng : “Gần đây thành Gia Định thám báo việc nước Xiêm, đều là nghe thấy người ta nói cả, nay cứ trấn Nghệ An tâu phái viên đã được thật mắt trông thấy tình hình hoàn toàn không có việc gì đáng kể, nên đem tập ấy lược sao ra gửi cho Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Quế xem rõ để suốt được tình hình ngoài biên”. Lại ra lệnh cho 3 trấn Bình Thuận, Bình Hoà, Phú Yên đều rút quân về, thưởng cho người phái thám của Nghệ An 15 lạng bạc.


    Vua nghe thấy việc chi lĩnh thóc gạo quân lương ở kho Kinh phần nhiều lộn xộn, gian dối, sắc cho từ nay phàm các hạng biền binh lĩnh lương, thuộc về vệ hay cơ thì 1 quản vệ hay Quản cơ, 2 suất đội, thuộc riêng đội thì 1 suất đội hoặc đội trưởng, đều phải đến tận kho mà quản nhận, nếu dung túng cho binh lính làm rầm rộ và lừa dối thì tội ở người cai quản.


    Trấn thủ Thanh Hoa Hồ Văn Trương, nguyên Tham hiệp mới đổi đi Tham hiệp Nam Định là Nguyễn Văn Thắng, đều có tội bị mất chức.


    Trước kia, bọn Hồ Văn Trương khoán mua gỗ lim, dung túng cho người nhà và lại thuộc thông đồng nhau nắm mua tất cả, lạm chi tiền công hơn 50.000 quan, gặp khi Nguyễn Kim Bảng đi trù tính việc làm kho tàng và đóng thuyền bè, xét biết được tình trạng, đem việc hặc tâu.


    Vua dụ cho Nội các rằng : “Việc đặt giá gỗ lim là việc ích nước lợi dân, không tiếc phí tổn lớn, thế mà bọn kia không giữ phép công làm việc, lại dung túng cho người nhà và lại dịch, tạ sự kiếm lợi riêng, nhiều món không thể kể xiết ; nhũng tệ như thế, thực là đáng ghét. Nay lập tức cách chức Hồ Văn Trương, Nguyễn Văn Thắng và cùng với bọn lại dịch can liên vào việc này đều cho điều tra tận quê quán niêm phong gia sản phòng để bắt bồi”.


    Rồi sai Hữu thị lang bộ Binh là Lê Vạn Công lĩnh bài khâm sai, đem ty thuộc 6 bộ và ty trấn phủ đến hội đồng với Nguyễn Kim Bảng nghiêm ngặt tra xét, Nguyên Hiệp trấn Tôn Thất Lương vì là đồng sự cũng bị giải chức để đợi án.


    Khi án thành, thủ phạm là Nguyễn Văn Thắng bị chém, giam đợi chỉ, Hồ Văn Trương bị tội thắt cổ cho chết, được giam đợi chỉ, Tôn Thất Lương xét ra tang không vào đến tay, bị cách chức, phát vãng đài Trấn Hải để gắng sức chuộc tội, Hồ Văn Trương rồi chết ở trong ngục.


    Cho Chưởng cơ lĩnh Trấn thủ Hải Dương là Nguyễn Đình Phổ lĩnh Trấn thủ Thanh Hoa, thự Thống chế Nguyễn Văn Quyền lĩnh Trấn thủ Hải Dương.


    Đổi bổ Đốc học trấn Quảng Bình là Nguyễn Quỳnh làm Viên ngoại lang bộ Hộ, thự chức Lang trung trong bộ, Đốc học trấn Nghệ An là Đặng Huy Dư làm Viên ngoại lang Lễ bộ thự chức Lang trung, Đốc học Quảng Ngãi là Nguyễn Hữu Đạo làm Viên ngoại lang Binh bộ thự thức Lang trung, Đốc học Thanh Hoa là Đoàn Bá Trinh làm Viên ngoại lang Hình bộ thự chức Lang trung, Đốc học Quảng Nam là Trần Lê Hiệu làm Viên ngoại lang Công bộ thự chức Lang trung, cho Viên ngoại lang Hình bộ Lê Văn Luyện làm Đốc học Sơn Nam, Chủ sự bộ Hình Trần Văn Tự làm Đốc học Phiên An, Chủ sự Lại bộ Nguyễn Xuân Thiều làm Đốc học Quảng Trị, thự Chủ sự kho gỗ Trịnh Ngọc Lâm thự chức Đốc học Quảng Bình, Tu soạn viện Hàn lâm Nguyễn Hữu Tố thự chức Đốc học Quảng Nam, Tư vụ Lễ bộ Hoàng Quốc Bảo thự chức Đốc học Nghệ An, Biên tu viện Hàn lâm Đào Trinh thự chức Đốc học Biên Hoà, Giáo thụ phủ Tĩnh Gia Nguyễn Dinh Xưởng thự chức Đốc học Thanh Hoa.


    Vua cho là bộ Công xếp đặt hiện đã đủ người, sai bọn Nguyễn Tú, Nguyễn Trung Mậu và Hoàng Văn Diễn quyền lĩnh ấn, triện bộ Công để làm việc, Lê Đăng Doanh không phải kiêm lĩnh nữa.


    Bộ Lại tâu : “Từ trước đến nay quan viên ở toà Nội các từ Chánh tứ phẩm trở lên đều sung làm công việc trong Các, từ Chánh ngũ phẩm trở xuống, hoặc có người sung làm công việc Nội các, cũng có người sung vào chức hành tẩu ((1) Chức quan tập sự.) ở Các. Vả lại thể thống triều đình, chức lớn chức nhỏ cùng nối tiếp nhau, việc cất nhắc các quan chức mỗi ngạch, mỗi bậc một khác. Trong toà Nội các quan từ Tứ phẩm trở lên đều có trách nhiệm cai quản, đều nên sung làm công việc của Các, còn như Ngũ phẩm trở xuống đều là thuộc viên, xin chiểu đình nghị năm thứ 10 [1829] đều cho sung chức hành tẩu ở Nội các để cho có phân biệt”. Vua nghe lời tâu.


    Cho Thống chế Tả dinh quân Thần sách là Đỗ Quý kiêm quản ty Thương bạc, Thống chế quân Tiền phong là Phạm Văn Lý kiêm quản ty Tào chính.


    Chủ thủ ty Vũ khố là Trần Văn Đạo thông đồng với thợ trong cục, ăn cắp đồng đỏ, việc phát giác đem giết.


    Vua nhân nghĩ rằng : “Từ trước đến giờ, việc chế tạo các đồ vật, số nguyên vật liệu cần dùng bao nhiêu, đều do viện Tượng mục chiểu số mà lĩnh, khiến cho kẻ bậy bạ được nhân đó mà làm gian, bèn chuẩn định từ nay nhất thiết nguyên vật liệu cần dùng vào việc chế tạo đều do viên đốc công phải châm chước liệu tính công việc xem dùng hết bao nhiêu kê thành đơn do bộ Công nhận thực để lĩnh rồi sẽ đưa giao cho thợ làm. Việc này ghi làm lệ”.


    Bộ Lễ tâu : “Chức quan học chính ở nhà Quốc tử giám nguyên đặt ra 3 viên, mà các tôn sinh học ở Giám chỉ có trên dưới 60 người, xin từ nay bớt đi 1 chức học chính, chỉ đặt 2 viên và xin sai ghi việc này làm lệ”.


    Định lại lệ thuế thuyền buôn của ngoại quốc. (Trước kia chuẩn định lệ thuế, những thuyền đến buôn bán ở Gia Định của các xứ : Quảng Châu, Thiều Châu, Nam Hùng Châu, Huệ Châu, Triệu Khánh, Phước Kiến, Triết Giang, Mã Cao và các nước Tây dương, cứ bề ngang thuyền từ 25 thước đến 14 thước, mỗi thước tiền thuế 140 quan, bề ngang từ 13 thước đến 11 thước, mỗi thước 90 quan ; từ 10 thước đến 9 thước mỗi thước 70 quan, 6 thước đến 7 thước mỗi thước 35 quan. Thuyền của Triều Châu, bề ngang 25 thước đến 14 thước, mỗi thước 110 quan ; 13 thước đến 11 thước, mỗi thước 70 quan, 10 thước đến 9 thước, mỗi thước 50 quan ; 8 thước đến 7 thước, mỗi thước 30 quan. Nếu các thuyền nói trên đến buôn ở Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình, thuế giảm đi 4/10, đến Quảng Ngãi, Thanh Hoa, Nghệ An giảm 3/10, đến Bình Thuận, Bình Hoà, Phú Yên, Bình Định, Quảng Nam, Bắc Thành giảm 2/10. Duy thuyền ngang từ 26 thước trở lên, chưa có định ngạch. Đến nay mới định rõ : “Phàm các thuyền đến buôn bán ở Gia Định : A/ Bề ngang từ 26 thước đến 29 thước : thuyền của Quảng Châu... cho chí các nước Tây dương, mỗi thước 160 quan ; B/ Thuyền bề ngang từ 30 thước đến 36 thước : thuyền của Quảng Châu... cho đến các nước Tây dương, mỗi thước tiền thuế 180 quan, thuyền của Triều Châu, mỗi thước 130 quan. Nếu đến buôn bán ở Kinh và các thành trấn, đều chiểu lệ giảm dần xuống”).


    Vua đi tuần du đến đài Trấn Hải, thưởng cho các quan quân đã dựng cái rạp nghỉ mát, the và tiền mỗi người một khác. Hạ sắc lệnh, từ nay trở đi những khi ngự giá đi tuần du, các quan văn võ đến phiên thường trực ở triều, nếu không phải đi hỗ giá, đều được lưu lại nha để làm việc, không phải đến thường trực và ngủ lại ban đêm, đợi khi ngự giá về cung, liền chiểu lệ đã định mà thi hành.


    Cho Nguyễn Hữu Thức làm Lang trung Lễ bộ, Trần Văn Trung làm Lang trung Công bộ, vẫn sung làm việc ở sở đốc công ty Vũ khố.


    Các trấn Thanh Hoa, Ninh Bình làm sổ địa bạ, ra lệnh phàm những dân ở ven rừng núi và các huyện mới đặt ra, đều cho đình hoãn (về Thanh Hoa 3 huyện : Cẩm Thuỷ, Thạch Thành và Quảng Địa thuộc phủ Thiệu Hoá ; châu Thọ Xuân, Lang Chánh và Quan Da thuộc phủ Thọ Xuân ; 2 tổng Như Lăng, Lãng Lăng thuộc huyện Nông Cống. Về Nghệ An thì : 4 huyện Tương Dương, Hội Nguyên, Kỳ Sơn, Vĩnh Hoà ; 7 tổng Đường Khê, Phác Lỗ, Lâm La, Nghĩa Hưng, Thuần Cam, Hạ Sưu và Nhiêu Hợp thuộc huyện Quỳnh Lưu ; 5 xã Cự Lâm, Tri Chỉ, Dương Xá, Tiên Kỳ và Đồng Xâm thuộc huyện Đông Thành. Về Ninh Bình thì : 4 huyện Lạc Thổ, Phụng Hoá, Yên Hoá và Kim Sơn).


    Trấn Thanh Hoa tâu xin nay nhân kỳ làm sổ xin nghiêm sức cho lý dịch đều cứ những ruộng đất bỏ hoang đã thành ngạch và ruộng đất công tư hiện cày cấy được mà bỏ hoang phải theo sự thực mà biên vào sổ. Ruộng đất công bỏ hoang thì cho dân xã đều khai khẩn ruộng đất tư bỏ hoang thì chủ ruộng tự khai khẩn lấy ; nếu có chỗ nào ẩn lậu không khai mà để người khác khẩn trưng thì người ta khẩn trưng trước người ta được ruộng, mà lý dịch thì bị chiểu luật cố ý phạm tội, gia bậc trừng trị.


    Trấn Ninh Bình cũng tâu xin : “Phàm những ruộng nào trong sổ điền năm trước biên là công, năm sau vô cố biên là tư, và ruộng cấy chiêm lại biên là ruộng cấy mùa, ruộng thực cấy được lại biên là ruộng bỏ hoang đều bắt phải cải chính lại. Xã nào nhiều ruộng xin rút bớt ra để bù cho xã ít, thì cho trừ đi không phải vào sổ, ruộng bỏ hoang tất phải là dân xã không có sức khai khẩn được, mới cho người xã khác khẩn canh, nếu dân này lưu tán đi mà dân khác cày cấy để nộp thuế, thì cho cai tổng làm sổ thay”. Vua đều cho lời tâu là phải.


    Thự Hữu thị lang Binh bộ làm việc Binh tào thành Gia Định là Trần Đăng Nghi mất, truy bổ cho hàm Thị lang, chiểu phẩm trật cấp tiền tuất. Cho Phủ doãn Thừa Thiên Bạch Xuân Nguyên làm Hữu thị lang Binh bộ làm công việc Binh tào thành Gia Định.


    Những người do Kinh phái đi tuần ngoài biển là Vệ uý Nguyễn Lương Huy đi tuần đến hải phận đồn đồng muối thuộc Nam Định và Phó vệ uý Đoãn Dưỡng đi tuần đến hải phận đồn cửa biển Càn Hải thuộc Nghệ An đều thiện tiện đi bắt những thuyền buôn của người Thanh khám xét thấy có thuốc phiện, nhân đó dung túng cho thuộc hạ cướp lấy của cải, đem người và thuyền cùng tang vật giao cho đồn Biện Sơn canh giữ rồi đi chỗ khác.


    Việc đến tai vua, hạ lệnh phải rút quân về, giao xuống cho bộ Hình xét xử còn những can phạm và thuyền buôn, thì giao cho viên Khâm phái ở Thanh Hoa là Nguyễn Kim Bảng, Lê Vạn Công cùng nhau tra hỏi, nghĩ xử. Chính phạm phải tội lưu, chủ thuyền phải tội đồ, lái thuyền và chân sào phạt trượng, hoá vật và thuyền đều tịch thu. Khi bộ Hình xét lại thì các lái thuyền và chân sào cũng phạt tội đồ.


    Khi án tâu lên, vua bảo Nội các rằng : “Chở trộm thuốc phiện xử tội như thế, thực không oan uổng gì, duy đáng giận cho biền binh đi tuần ngoài biển mượn tiếng là bắt giặc, mà bắt người cướp của làm như một kẻ cướp ; thực ra không phải là chúng biết có thuốc phiện mà bắt. Vả lại những của cải trong thuyền rất nhiều, quyết không phải hết thảy là của tên chính phạm. Ta muốn châm chước liệu lượng thi ân để tỏ sự phân biệt và làm rõ công bằng, duy trong án, xét ra bọn kia có nói là thông tin cho các nhà buôn bán ở Bắc Thành, việc này không khỏi có sự trên dưới mưu mô, xoay xở, dùng nhiều cách đút lót cậy cục nhau. Nay nếu ra ân, không những những kẻ buôn gian buôn lậu không biết gì đã không có lòng cảm kích mà còn cho rằng đồng tiền là có thế lực, rồi thì những kẻ thân cận với bọn quyền thế xui giục và huênh hoang khoác lác làm lộn bậy cả lẽ phải trong nước, thành ra ta bị bọn chúng mê hoặc mà làm sai pháp luật, dung túng kẻ gian. Như thế thì xa gần nghe tiếng càng sinh lắm sự tham lam đen tối, mà những kẻ phú thương gian lậu ngày thêm kiêu căng thì quốc thể còn ra gì nữa.


    Vậy ra lệnh cho bộ Lại truyền sắc chỉ cho quan Bắc Thành, đòi tất cả các lái buôn người Thanh đến, đem chỉ dụ tuyên rõ cho biết rằng : “Triều đình ta hình phép rất nghiêm, không ví như nước nhà Thanh các ngươi bán quan buôn tội, trên dưới bị bưng bít, đút lót thì được kiện, có tiền thì làm quan. Các ngươi đền nên tự xét mà kịp thời hối lỗi, nếu từ trước đến giờ có sợ tội tiếc của mà đến nha môn nào, quan chức nào, đem tiền của đút lót cầu cạnh, có nhận hay từ chối ? nhất thiết thú rõ ra, thì được miễn tội, nếu thú không hết hay không thực, sau này bị phát giác thì không những kẻ nhận của đút phải theo luật nặng trị tội, mà những người đưa của đút, cũng phải tội lừa dối, xử tử không tha”.


    Quan Bắc Thành 2, 3, lần tra hỏi họ đều nói là do chiếc thuyền ấy đã chở hàng hoá của những nhà buôn bán trong thành góp vốn buôn chung. Cho nên viết thư biện bạch với nhau về buôn bán, tịnh không tình trạng đút lót thỉnh thác gì cả. Quan Bắc Thành tâu lên, vua sai đình thần chiểu án xét, đều đồng ý nghị tội.


    Người mang thuốc phiện phải tội thắt cổ nhưng còn đợi lệnh, chủ thuyền và bọn đầu mục đàn em đều phải tội phát lưu, của cải trong thuyền đều sung công, lái thuyền và chân sào đều phạt đánh bằng trượng rồi tha, những của cải riêng của hành khách đáp thuyền đều trả lại hết ; viên võ quan phạm tội Nguyễn Lương Huy phải tội chém đầu hãy giam đợi lệnh, nhưng trước hết hãy đánh 100 hồng côn, thuộc hạ là thủ phạm Hồ Văn Mão, phải trảm quyết đem đầu đến bêu ở cửa biển Thanh Hoa, Nam Định trong 3 ngày, tòng phạm đều phát vãng sung quân. Còn Đoàn Dưỡng, tra hỏi chưa chịu thú nhận thì cách chức giao cho bộ Hình giam cấm. Trước kia Đoàn Dưỡng đến hải phận Quảng Yên có người lái buôn nhà Thanh là Trần Quý (năm trước vì việc bắt được giặc biển là Lý Công Đồng đã được lĩnh thưởng) lĩnh bằng của trấn Quảng Yên đi thám bắt giặc biển họp nhiều những thuyền đánh cá; người Trung Quốc đỗ ở vùng Cát (Bà ?) mang theo khí giới lừa gạt cướp bóc nhân dân, Dưỡng nhân khi chúng đến chào, ập vây bắt lấy, bắt sống hơn 100 tên, đâm giết và chúng bị rơi xuống nước chết rất nhiều, lại bắt được mấy chục chiếc thuyền. Việc tâu lên vua giao xuống cho bộ Hình nghị xử, Quý phải tội chém đầu nhưng giam đợi lệnh, còn đồ đảng thì phát vãng đi các đồn trại biên giới làm quân, những kẻ a dua thì phạt đánh bằng trượng rồi tha. Quan trấn Quảng Yên vì đã sơ suất tuần phòng, giáng 2 cấp. Đoàn Dưỡng tự tiện giết người có tội, phải xử tội đồ. Nay y còn can vào cái án trước nhưng đã chết ở trong ngục.


    Chuẩn y lệ nộp thuế thay bằng tiền cho những hộ làm nghề nến sáp ở Gia Định.


    Gỗ lạt ở trong kho gỗ phần nhiều mục nát, bộ Công xin đem làm củi đun, khi sai kiểm xét lại còn có thể dùng được, bảo Nội các rằng : “Những mạt cưa đầu tre một tí cũng không nên bỏ, thế mà bộ Công không chịu kiểm xét kỹ muốn bỏ tuốt cả đi, rất không có ý tiếc của. Vậy phải truyền chỉ nghiêm sức, cái gỗ nào còn có thể dùng được, thì cứ để ở kho, tuỳ việc mà dùng, còn thì cân giao cho thuỷ quân Thừa Thiên để dùng với việc đốt uốn những tấm gỗ ván và để đốt nung gạch ngói”.


    Các trấn Sơn Nam, Hải Dương, giá gạo lên cao. Vua nghe thấy xuống dụ chuẩn cho thuế vụ hạ năm nay cùng số thuế nộp bằng thóc gạo năm xưa còn đọng lại và số thóc cho vay năm ngoái, cho dân đều được nộp trả bằng tiền.


    Cho Nguyễn Khả Bằng thự Vệ uý vệ Hữu nhị quân Vũ Lâm, làm Chưởng cơ lĩnh Trấn thủ Thanh Hoa, Chưởng cơ lĩnh Trấn thủ Thanh Hoa Nguyễn Đình Phổ lấy chức ấy thống quản 10 cơ Kiên nhuệ Tả quân Bắc Thành.


    Giáng bổ Trấn thủ Sơn Nam bị cách lưu là Hồ Bôi làm Phó vệ uý vệ Nghiêm võ quân Thần sách và cho Phó vệ uý vệ Nghiêm võ là Nguyễn Văn Cận thăng thự Trấn thủ trấn Sơn Nam.


    Cho Đô thống Nguyễn Văn Hiếu làm Đô thống Trung dinh quân Thần sách vẫn lĩnh chức Trấn thủ Nghệ An, Phó đô Thống chế trung doanh là Đoàn Văn Trường làm Thống chế Hữu dinh, Phó vệ uý Tả vệ dinh Hổ oai là Nguyễn Văn Dụ thăng thự Phó vệ uý vệ Hữu nhị quân Vũ lâm, Phó vệ uý vệ Tráng võ là Tô Huệ Vân thăng thự Vệ uý vệ Tuyển phong hữu, Phó vệ uý vệ Oai võ là Nguyễn Hữu Cần, Phó vệ uý vệ Tráng võ là Tống Văn Uyển đều thăng thự Vệ uý.


    Cho Nguyễn Hựu Vân đội trưởng ngành trưởng nhà vua làm Phó sứ từ tế ty Từ tế để trông giữ Nguyên miếu ((1) Nguyên miếu : miếu lập ở làng quê hương nhà vua.).


    Quan Bắc Thành tâu nói ; “Những quân lựa chọn vào 5 quân thuộc Bắc Thành, trước đã được nghị chuẩn cho lệ thuộc vào 5 trấn nội, mỗi trấn đều 1 cơ, và đóng ở đồn các phủ rồi lần lượt cứ 6 tháng lại một lần đổi phiên, nhưng cơ đội phần nhiều không đủ số, người thường thường phải phái thêm, không khỏi thêm bận mà 6 tháng một lần đổi, cũng là thay đổi mau quá. Xin từ nay trở đi, những biền binh cho đi lệ thuộc các trấn cứ mỗi trấn 500 người, mỗi phủ 150 người, và các cơ đội đều đủ số người. Thảng hoặc cơ đội nào có thiếu người, thì sẽ lấy ở cơ đội khác bù vào cho đủ, và ấn định cứ một năm thay đổi một lần. Lại 2 đội cơ Hữu dực Thuỷ quân coi giữ thuyền công ở Hải Dương, trước vẫn cứ 6 tháng đổi phiên một lần. Nay xin chiểu lệ của 5 quân chia cho lệ thuộc về đồn thuỷ Nam Định, mỗi năm đổi phiên một lần”. Vua đều nghe theo.


    Đổi định lại lệ cấp áo mặc về mùa xuân, cho quan viên văn võ.


    Vua cho là từ trước đến nay, văn ban từ Lang trung trở lên cấp cho áo hàng màu mặc về mùa xuân, mà Điển bạ, Đãi chiếu hàng Bát, Cửu phẩm ở Nội các, cùng Chánh đội trưởng, thí sai Suất đội vào hàng Thất phẩm, võ ban ở các quân cũng được dự, đều là theo lối cũ, chưa phải là công bằng. Bàn đổi định lại từ nay, phàm văn võ từ Chánh ngũ phẩm và thự Tứ phẩm trở lên thì cấp cho áo hàng màu, nếu có chức Tam phẩm trở lên mà bị giáng cấp xuống dưới Chánh ngũ phẩm thì cũng chuẩn cho chiếu theo cấp giáng xuống ấy mà cấp cho áo màu đối với phẩm cấp mình, còn ngoài ra đều chuẩn phẩm trật mà cấp bằng tiền.


    Ra lệnh cho Quốc tử giám lựa chọn đề cử những Giám sinh có học rộng biết nhiều, kê tên tâu lên. Quan trong Giám dâng sớ cử 7 người giao cho bộ Lễ xét thực, chỉ có một người có thể dùng được. Tế tửu Nguyễn Huy Hựu, Tư nghiệp Phạm Đình Thoan vì lạm cử phải phạt 3 tháng lương.


    Trấn Gia Định mua voi ở Chân Lạp, quan Phiên nhân tặng riêng cho Lê Văn Duyệt 1 con. Duyệt xin đem biên cả con voi này vào ngạch. Vua đặc ân cho 40 lạng bạc, sai
  • Chia sẻ trang này