0060.0017

24/12/15
0060.0017
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    chuyển cấp cho quan Phiên, không nên nhận không của người ta cho. Và răn từ nay nên cẩn thận những việc như thế, thà rằng thiệt người trên mà lợi người dưới, đừng để người phương xa còn có điều nói mình về sau.


    Chuẩn định từ nay, phàm ban văn nào thường trực, cứ một Thượng thư bộ này thì một Tham tri hoặc một Thị lang một bộ khác xen vào. Những ty thuộc 2 bộ này đều lệ phải theo ban đi trực, vẫn được trực và ngủ đêm ở triều đường bên hữu ; còn 4 bộ mà đường quan không ở trong ban thường trực thì chuẩn cho các Lang trung, Viên ngoại đều trực và ngủ đêm ở giải vũ bên hữu, để phòng khi vua có việc gì hỏi đến, còn Chủ sự trở xuống không được dự. Việc này ghi lại làm lệ.


    Định lệ về bạc chứa ở kho các địa phương. (Bắc Thành thường chứa 30.000 lạng bạc, thành Gia Định 10.000 lạng, Nghệ An 8.000 lạng, Thanh Hoa 5.000 lạng. Quảng Nam 4.000 lạng, Bình Định 3.000 lạng, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Bình Hoà, Bình Thuận, Phú Yên, Sơn Nam, Nam Định, Bắc Ninh, Hải Dương, Sơn Tây đều 2.000 lạng, Ninh Bình, Vĩnh Thanh, Định Tường, Phan An, Biên Hoà, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hưng Hoá, Cao Bằng, Quảng Yên đều 1.000 lạng; Hà Tiên 500 lạng, còn dư ra đến gấp đôi trở lên trấn nào thuộc về thành nào thì nộp về thành, rồi 2 thành và các trấn chuyên hạt đều nộp về Kinh. Còn như vàng thì số hiện chứa ở kho số thường năm thu vào đều nộp hết về Kinh).


    Huyện Trình Cố thuộc trấn Thanh Hoa tranh dân Mán Sầm Bản châu Ninh Biên thuộc trấn Hưng Hoá là thuộc về địa phận huyện mình. Việc ấy tâu lên, vua sai Bắc Thành và Thanh Hoa hội khám. Khi án tâu lên, xin lấy sông Mã làm giới hạn : phía nam sông thuộc Thanh Hoa, phía bắc sông thuộc Hưng Hoá. Dân Mán ấy ở bên sông, gần huyện Trình Cố mà xa châu Ninh Biên, đổi cho lệ thuộc về huyện Trình Cố, để khỏi tranh giành. Vua nghe theo.











    Chính biên



    đệ nhị kỷ - quyển lxxiii



    thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế



    Tân mão, Minh Mệnh năm thứ 12 (1831), mùa hạ, tháng 4, mồng 1, làm lễ Hạ hưởng ((1) Hạ hưởng : lễ hợp tế các tổ tiên về mùa hạ.).


    Quan Bắc Thành tâu nói : “Dân hạt Bắc Thành trước nộp sản vật (được miễn lính), nay bắt phải về để chịu ra lính, số dân quê ở 85 xã thôn thuộc 5 nội trấn tuyển lựa làm lính được 826 người. Xin trích lấy 500 người dồn thành đội ngũ, đặt làm một cơ. Rồi lựa ra đặt dưới quyền coi quản của các viên có hàm Quản cơ, Phó quản cơ trong thành và những viên Cai đội thừa ngạch cho lệ thuộc vào thành sai phái ; còn thì bổ sung vào số thiếu trong năm quân”.


    Vua nghe theo, cho đặt tên là cơ Bắc An (cấp cho 150 súng điểu sang, 150 giáo dài, 1 cờ vuông, 40 cờ đuôi nheo, 41 cái đầu cán cờ và chiêng, trống, thanh la đồng mỗi thứ 1 chiếc).


    Dân Nùng thuộc Lạng Sơn có cái trại gọi Bạch Bố (vải trắng), số đinh hơn 670 người, hạng ráng hằng năm phải nộp thuế 1 tấm vải trắng, thay cho số tiền phải nộp là 1 quan 2 tiền ; hạng lão thì nộp một nửa. Quan Bắc Thành tâu xin đổi thu thuế bằng bạc, mỗi người phải nộp 8 đồng cân bạc, và bỏ cái tên trại Bạch Bố. Vua nghe theo.


    Xây đắp đợt thứ ba ở mặt trong phía tả của kinh thành (Xây gạch cũng như kiểu mặt trước). Sai Thống chế Trần Văn Long và Nguyễn Văn Trọng trông công việc.


    Quan thành Gia Định tâu nói : “Các cơ giản binh lựa vào các trấn thuộc thành Gia Định theo lệ đã định mỗi cơ đặt một Quản cơ hoặc một Phó quản cơ ; nếu gặp khi có việc, viên cai quản chợt vì duyên cớ gì phải sai phái đi nơi khác, phải lấy viên khác quyền thay thì binh sĩ không phải là chỗ được vỗ về đã quen sợ khó được cái hiệu quả dễ dàng như cánh tay sai khiến ngón tay. Vậy xin xét xem cơ nào có Quản cơ thì thêm một Phó quản cơ, cơ nào có Phó quản cơ rồi thì đặt thêm một Quản cơ, để cho đủ số mỗi cơ 2 viên. Vua chuẩn y lời tâu.


    Chuẩn định thưởng cấp áo mùa xuân cho cháu trai, cháu gái nhà vua và con trai, con gái các tước công từ 10 đến 14 tuổi làm một bậc, 15 tuổi trở lên làm một bậc ; nếu con trai đã có chức quan, con gái đã lấy chồng thì thôi không cấp nữa.


    Quân ở hai cơ An, Thuận thuộc Nghệ An phần nhiều trốn đi, không thành đội ngũ, sai dồn lại làm 3 đội Nhất, Nhì và Ba.


    Trấn thần Quảng Trị tâu xin thu tiền thóc ngạch thuế 2 tổng trong huyện Đăng Xương (tiền hơn 4.100 quan thóc hơn 5.400 hộc) đem chưa ở kho thành Vĩnh Ninh thuộc Cam Lộ để phòng khi chi dùng đến. Vua y cho.


    Đổi định lại các hiệu thuyền ở Kinh : thuyền hiệu chữ : “ba ” đổi làm thuyền hiệu chữ “bình ” thuyền hiệu chữ “lãng ” đổi làm thuyền hiệu chữ “định ”, đánh số thứ tự từ 1 đến 20 ; thuyền ở các trấn ngoài : thuyền hiệu chữ “ba” đổi làm thuyền hiệu chữ “an”, thuyền hiệu chữ “lãng” đổi làm thuyền hiệu chữ “tĩnh”, cũng đánh số bắt đầu từ 1 trở đi, nhưng phải thêm chữ tên trấn thành ở trên chữ “an”, chữ “tĩnh” để dễ phân biệt (thí dụ : thuyền hiệu chữ “ba” ở Gia Định đổi là “Gia An”, thuyền hiệu chữ “lãng” đổi là “Gia Tĩnh” ; ở Bắc Thành : thuyền hiệu chữ “lãng” đổi là “Bắc Tĩnh” ; ở Nghệ An : thuyền hiệu chữ “ba” đổi là “Nghệ An”, thuyền hiệu chữ “lãng” đổi là “Nghệ Tĩnh”). Liền ra lệnh : ở Kinh do bộ Công, ở các trấn ngoài do quan địa phương, phải lường xét lại số trọng tải thích hợp của thuyền, lập thành danh sách tâu lên để lưu chiểu vĩnh viễn tuân thành.


    Vua lại thấy các hiệu thuyền bọc đồng đỗ ở giang phận Võng Trì thuộc hạt Thanh Phước và vụng Trà thuộc trấn Quảng Nam, từ trước đến nay chỉ do suất đội trông coi, nên hạ sắc từ nay [mỗi nơi] đều phải thêm 1 viên quản vệ thuỷ quân, cứ hằng tháng thay phiên coi giữ, lại phải chịu trách nhiệm về việc thời thường huấn luyện thuỷ thủ sửa sang buồm cột buồm, và tất cả các đồ dùng trong thuyền nếu có cái gì hư hỏng. Nhưng nếu [thuyền đó] đã được sai phái lâu ngày, thì mới được tâu xin cấp cho những dụng cụ khác. Sắc dụ này đặt làm lệ vĩnh viễn.


    Ban hàn thử biểu cho Cao Bằng để trắc nghiệm khí hậu.


    Định lệ xem xét đo đạc các cửa bể ven biển.


    Vua dụ cho toà Nội các rằng : “Nước nhà ta mở mang bờ cõi, tới mãi biển nam, hằng năm thuyền bè vận tải qua lại, đã có lệ thường, đường biển chỗ nào khó dễ nông sâu, phải nên thuộc hết.


    “Vậy truyền chỉ cho các quan địa phương ra lệnh cho các viên coi đồn cửa bể trong hạt, bắt đầu từ năm nay phàm những cửa biển sở tại, rộng, hẹp, nông sâu thế nào phải xem xét đo đạc cho tường tận hơn những cửa ven biển gần bờ, nếu có đống đá, ghềnh đá, bãi cát nông, bãi cát ngầm, mà thuyền bè cần phải tránh, đều phải chua rõ là cách với bờ bao nhiêu trượng, thước ; nếu cách bờ xa, khó xem xét đo đạc, cũng phải ước lược xem xa gần mấy dặm, đi bộ mấy giờ mấy khắc thì vào đến bờ, và ở chỗ ấy trông lên núi trên bờ xem hình nó lớn hay nhỏ, hình giống cái gì, nhất nhất phải biên kê hết cả ra, để cho dễ nhận. Hằng năm cứ vào khoảng tháng 6 tháng 7 tiếp giáp nhau, sở tại gửi bản biên kê đó đến bộ Công để lục giao cho thuỷ quân và các thành trấn lưu chiểu. Việc đó cốt để cho sự đi biển được thuận lợi; nếu làm sai thì những viên đóng giữ các đồn cửa bể tức thì bị chiểu luật nặng trị tội. Rồi lại chuẩn cho bộ Công tư đi các địa phương chiếu theo hải phận trong hạt, vẽ thành bảo đồ nộp bộ để căn cứ xét dùng.


    Dọc đường các hạt Bình Định, Phú Yên, Bình Hoà và Bình Thuận, gần đây, có nhiều ác thú gây ra tai nạn. Vua được tin sai truyền chỉ cho các quan địa phương đều chiểu theo những đoạn đường cái thuộc hạt mình tuỳ tiện đặt kế ; hoặc mộ những tay bắn giỏi, hoặc đặt ra hầm, cạm để trừ ác thú ; chỗ nào cỏ cây rậm rạp thì phát quang đi.


    Ra lệnh cho các địa phương trồng gai.


    Vua dụ cho toà Nội các rằng : “Vỏ cây gai là một thứ cần dùng nhiều, thừng, chão dùng cho thuyền bè tất phải cần đến nó. Vả lại, giống nó rất mạnh, rất dễ trồng chỉ phải cái dân gian không chiụ trồng nhiều. Vậy ra lệnh cho bộ Hộ tư sức cho phủ Thừa Thiên và các thành trấn đều phải chọn những ruộng đất công tư 1, 2, trăm mẫu, thuê dân trồng gai, mỗi năm hai lần lấy vỏ đem nộp. Sau lại sắc cho mỗi hạt chỉ chọn trồng độ trên dưới 50 mẫu, để dễ làm, dân khỏi đau khổ.


    Ra lệnh cho Bắc Thành chọn mua những ngựa tốt của tỉnh Vân Nam.


    Vua dụ cho toà Nội các rằng : “Người ta truyền nói là đất Điền Trì ((1) Điền Trì : một tên khác của tỉnh Vân Nam.) có nhiều rồng, về mùa hè, giao cấu với giống ngựa, cho nên ngựa ở Vân Nam thường phần nhiều giống loài rồng. Tuy việc ấy chưa chắc có, nhưng ngựa sản ở đất ấy có nhiều con tốt. Vậy ra lệnh cho bộ Binh tư đi Bắc Thành chuyển sức cho các trấn Hưng Hoá, Cao Bằng, Tuyên Quang, phái người đến nơi ấy hỏi mua lấy 1, 2 con, cốt sao được những con cao lớn mà chạy giỏi, và nhân tiện chọn mua những thứ châu ngọc và đồ chơi quý báu (như hồng bảo thạch, tức hạt châu hoả tề, tục gọi đá hồng lựu, và ngọc bích, ngọc phí thuý, đã làm thành đồ vật như thao quạt có ngọc đeo ((1) Chữ Hán là “phiến truỵ” ( ).1) và cái chặn giấy)”. Sau đó, Tuyên Quang mua một con ngựa đực (sắc đen, cao 3 thước ta) 1 chuỗi bảo thạch (gọi là triều châu) dâng lên. Vua phái cho hơn 100 lạng bạc.


    Lại sai các trấn Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Hoà đều chọn mua thứ ngựa trắng tốt, độ 2, 3 con, để lựa chọn vào chuồng ngựa Thiên nhàn.


    Triệu Hình bộ Hữu tham tri Trương Minh Giảng về Kinh cung chức. Trước kia Giảng được phái đi Bình Định, tra bắt những con cháu dòng dõi Tây Sơn còn sót lại, trước sau bắt được các thân thuộc của nguỵ và phạm nhân chứa chấp hơn 100 người ; lại phái Cẩm y binh Lê Công Chất, Nguyễn Văn Hoà bí mật đến trấn Gia Định, tiếp tục bắt được dòng dõi nguỵ là Nguyễn Văn Đức và con là Nguyễn Văn Đâu đem về lên án.


    Vua bèn triệu Trương Minh Giảng về, uỷ cho thự Hiệp trấn Hoàng Văn Quyền lĩnh quân và thuyền áp giải phạm nhân về Kinh đợi chỉ.


    Lại thấy Nguyễn Văn Lương, Nguyễn Văn Trượng còn lọt lưới, bèn sai vẽ hình dạng truyền đưa đến các địa phương từ Quảng Nam tới Gia Định, nghiêm sức cho quân, dân trong hạt, hết lòng do thám, ai bắt được hai tên phạm ấy hay tố giác báo được đúng đích thực đều thưởng cho 50 lạng bạc, lại theo luật thưởng cho, quân thì chức quân, dân thì được dân quan.


    Rồi trấn Vĩnh Thanh căn cứ vào tin báo của thám tử Mai Văn Cự, vây bắt được Nguyễn Văn Lương đem nộp (trước kia Lương và Trượng nghe tin nã bắt, bèn đổi họ đổi tên, đáp theo thuyền công vận tải vào Nam của đốc vận Trần Văn Tha, để trốn vào Gia Định. Khi đến Cần Thơ, Tha tình nghi, tố cáo với thủ ngự Lê Thiện Anh. Anh cho là không phải, thả cho đi) giao cả cho bộ Hình chiểu luật định nghĩ.


    Lại sai đình thần xét lại án của dòng dõi nguỵ là Nguyễn Văn Lương, Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Văn Đâu, đều chém ngang lưng, ném thây xuống bể, thân thuộc và con gái của nguỵ cùng con của đồng đảng nguỵ là Trần Quang Tồn (con nguỵ Thiếu phó Trần Quang Diệu), kẻ phạm tội chứa chấp nguỵ là Nguyễn Văn Thể cộng 15 tên đều trảm quyết.


    Những thân thuộc của nguỵ còn nhỏ tuổi và Lê Thiện Anh khinh thường thả dòng dõi nguỵ, Trần Văn Tha tri tình mà cố ý tha, cộng 14 tên phạm đều phải án chém nhưng được giam đợi lệnh. Lại phát vãng làm quân, làm nô lệ, và bị tội đồ, tội lưu tất cả hơn 40 tên phạm. Còn bao nhiêu đều tha.


    Cẩm y binh Lê Công Chất, Nguyễn Văn Hoá, đều thưởng thụ Chánh đội trưởng và cho thêm 50 lạng bạc ; thám tử Mai Văn Cự, thưởng 50 lạng bạc, tha thuế thân ; Lê Văn Lễ vì tố cáo phác giác ra án nguỵ này, thưởng thụ Chánh cửu phẩm bá hộ và 100 lạng bạc.


    Đặt chức Giáo thụ ở các phủ Điện Bàn, Quy Nhơn, Tân Bình, Phước Long, Định Viễn, Kiến An, Thiệu Phong, Quảng Bình, Thọ Xuân, Trường Khánh, còn những huyện kiêm lý trước có huấn đạo đều rút bớt đi.


    Đặt thêm đội thứ 8 thự Thanh bình ((1) Thự Thanh bình : ban hát.) lấy 50 ca công biệt tính ở Bắc Thành sung vào, miễn cho cả thuế thân, đi lính và dao dịch. Ra lệnh cho bộ Lễ đem gộp cả vào với các đội thứ 4, thứ 5, thứ 6, thứ 7 của các trấn Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thanh Hoa, Nghệ An mới đặt ra, châm chước nghĩ đặt các điều lệ, đưa về Kinh diễn tập và chiếu kỳ đến ban diễn tập, tập xong cho về, chuẩn định thi hành.


    (1. Gọi đến diễn tập trong hạn 3 tháng, chia làm 2 lần 3 đội của Quảng Nam, Quảng Ngãi, Nghệ An, nhằm trung tuần tháng 6 năm nay đến Kinh, trung tuần tháng 9 cho về ; 2 đội Thanh Hoa và Bắc Thành nhằm trung tuần tháng 9 đến Kinh, trung tuần tháng 12 cho về.


    2. Việc chiếu kỳ gọi đến phải tề trực từ 10 hôm trước ngày lễ hưởng để biểu diễn lại, sau khi lễ xong 1 ngày cho về. Ba đội Quảng Nam, Quảng Ngãi, Nghệ An, mỗi đội 2 ban, ngày 28 tháng 12 năm nay, một ban phải đến đủ, đến mồng 9 tháng giêng sang năm cho về ; ngày 21 tháng 3, một ban phải đến đủ, đến mồng 2 tháng 4 cho về, ngày 21 tháng 6, lại một ban đến đủ, đến mồng 2 tháng 7 cho về, ngày 21 tháng 9, lại một ban đến đủ, đến mồng 2 tháng 10 cho về ; ngày mồng 5 tháng 12 lại một ban đến đủ, phải chầu hầu lễ hợp hưởng, lưu lại đợi đến năm sau, khi lễ Xuân hưởng xong mới cho về. Hai đội Thanh Hoa, Bắc Thành, mỗi đội 2 ban vì đường xa, nên trung tuần tháng 12 năm nay diễn tập hết hạn, cho một ban về, còn một ban phải ở lại, đợi sang năm 2 lễ Xuân hưởng, Hạ hưởng xong, đến mồng 1 tháng 4 cho về ; ngày 21 tháng 6, một ban đến đủ, phải đợi sau khi Thu hưởng, Đông hưởng xong, mồng 2 tháng 10 mới cho về, mồng 5 tháng 12, lại một ban đến đủ chầu hầu lễ hợp hưởng, rồi lưu lại đợi năm sau 2 lễ Xuân hưởng, Hạ hưởng xong mới cho về. Từ đây trở đi hằng năm, các ban cứ chiều kỳ, lần lượt ứng trực [như thế] làm thường lệ mãi mãi. Các lễ ở đàn Xã, đàn Tắc miếu đế vương các đời và Văn miếu trong hai kỳ tế vào tháng trọng xuân và tháng trọng thu, hợp dùng cả điệu múa bát dật, lấy các người ứng trực trong 2 đội Thanh Hoa và Bắc Thành theo với 3 đội ở Kinh để cùng làm việc.


    3. Sự chi cấp tiền và gạo, mỗi người mỗi tháng được 1 quan tiền, 1 phương gạo, kể bắt đầu từ ngày hiện đến diễn tập và ngày đến ban, tính từng ngày mà cấp.


    Trong 7 đội, người nào quán ở Thanh Hoa rồi đó được chuẩn cho chiếu theo kỳ hạn cùng đến ban với các đội Quảng Nam, Quảng Ngãi và Nghệ An).


    Lúa chiêm ở Thừa Thiên được mùa to.


    Định lệ tính cấp lương ăn đi đường cho binh lính từ Kinh sư vào Nam. Hồi đầu năm Gia Long [1802], bàn cấp lương ăn đi đường, cứ lấy từ trấn sở này đến trấn sở khác làm một kỳ lĩnh lương, mỗi ngày đi 2 trạm trên dưới 8, 9 nghìn trượng. Từ trước đến giờ, từ Kinh đi ra Bắc, cứ theo thế mà cấp, đều đã vừa phải. (Kinh sư đến Quảng Bình 4 ngày, Quảng Bình đến Nghệ An 5 ngày, Nghệ An đến Thanh Hoa 4 ngày, Thanh Hoa đến Bắc Thành 5 ngày, từ Bắc Thành trở về Kinh cũng thế). Duy có đường đi vào Nam, hoặc căn cứ vào độ đường ngựa trạm, hoặc căn cứ vào số dặm đường còn chưa thống nhất ; nay mới chuẩn cho bộ Hộ nghị định, cứ dọc đường từ Kinh đến Gia Định số trạm của các trấn nhiều ít tuy khác nhau, nhưng cứ thống nhất lấy mỗi ngày đi trên dưới 8, 9 nghìn trượng làm mức ; đi hay về đều theo lệ ấy thi hành. (Từ Kinh sư đến trấn thành Quảng Nam, cấp 3 ngày lương ; từ Quảng Nam đến Quảng Ngãi cấp 3 ngày lương ; từ Quảng Ngãi đến Bình Định cấp 4 ngày lương ; từ Bình Định đến Phú Yên cấp 2 ngày lương ; từ Phú Yên đến Bình Hoà cấp 4 ngày lương ; từ Bình Hoà đến Bình Thuận cấp 4 ngày lương ; từ Bình Thuận đến Gia Định cấp 8 ngày rưỡi).


    Phái viên thuyền Định dương là bọn Nguyễn Trọng Tính, Trần Chấn, trước được phái sang xứ Tiểu tây, ngày thuyền về, gặp bão giạt vào giới phận nước Miến Điện, hơn một năm mới về đến Kinh, những viên chức văn võ đi chuyến ấy phần nhiều bị ốm chết.


    Vua thương họ chết về việc công, truy tặng Phó vệ uý Nguyễn Văn Quân làm Tòng tam phẩm Vệ uý, Cai đội là Lê Văn Đàm làm Phó quản cơ ; còn những người khác đều tặng cho tiền tuất có thứ bậc khác nhau.


    Thuyền Phấn bằng từ xứ Tiểu tây về, cũng gặp bão. Cai đội gia hàm Phó vệ uý Nguyễn Văn Lễ chết ở dọc đường, tặng hàm Phó vệ uý chánh tứ phẩm ; những binh lính chết phải thuỷ táng đều được cho tiền tuất mỗi người 5 lạng bạc, phát về gia đình.


    Vua lại bảo bộ Lễ : “Hai chiếc thuyền ấy xông pha sóng gió, mà nay đều được yên lành phần nhiều là nhờ thần lực phù hộ, vậy gia phong 2 chữ “phổ trạch” ((1) Phổ trạch : ra ơn rộng khắp. 1) cho thần Thiên hậu.


    Phái viên đi lấy vàng ở trấn Quảng Nam là Trương Phước Đĩnh, mãn hạn 2 tháng, lấy được hơn 84 lạng vàng cám, đem về dâng. Vua lại sai Nội các Thừa chỉ Trương Văn Uyển đem theo thị vệ, hộ vệ lại tiếp tục lấy nữa. Điều 1.000 người quân và dân để làm việc cũng hạn trong 1 tháng, sau lại đổi làm nửa tháng. Trải qua mấy hạn, nhưng số vàng cám lấy được ngày càng ít đi, bèn bãi bỏ việc này.


    Tiết Vạn thọ. Vua dụ bộ Lại và bộ Binh lập thành danh sách những quan chức văn, võ trong Kinh, ngoài trấn, từ năm Minh Mệnh thứ 11 (1830) trở về trước, vì việc công, phải giáng chức, tâu lên để vua liệu lượng cho khai phục.


    Nước Chân Lạp sai sứ đến cống. Sứ đến Gia Định quan trấn Gia Định tâu lên. Vua dụ miễn cho sứ bộ đến Kinh và ban cho Phiên vương, sắc thư, lụa màu, lại cho sứ bộ bạc lạng có thứ bậc khác nhau.


    Chín châu ở phủ Cam Lộ vào cống. Vua thưởng cho các thổ tri châu mũ áo thường triều mỗi người một bộ. Ban tặng ưu hậu rồi cho về.


    Định lệnh kiểm soát thuyền chở lậu thuốc phiện.


    Vua dụ Nội các rằng : “Thuốc phiện do ngoại phiên chế ra chuyển bán cho những kẻ ngu ngốc ngoan cố, làm bại hoại nhân tâm, có quan hệ đến phong tục không phải là nhỏ. Năm trước đã nhiều lần nghiêm cấm thuyền buôn ngoại quốc chở lậu thuốc phiện, đã viết thành điều lệ rõ ràng. Lại nghĩ đến những quan thuyền nước ta đôi khi có phái đi ngoại quốc, cũng cần phải nghiêm lệnh cấm để ngăn ngừa mối tệ”.


    “Vậy bắt đầu từ năm nay phàm những quan thuyền đi việc công ở ngoại quốc trở về, tạm đỗ ở hạt nào, thì quan địa phương lập tức phái quân lính phải để ý đề phòng càng hơn, nếu có kẻ đem thuốc phiện lên bờ, lập tức bắt cả người và tang vật tâu lên, thuyền nào đỗ hẳn ở cửa bể Đà Nẵng thì do quan trấn, đỗ hẳn ở Kinh thì do phái viên 2 bộ Binh, Hình, hội đồng với thị vệ, đến lấy cung chắc chắn và khám xét cẩn thận, nếu vì tình riêng mà bao che cho nhau, khi việc phát giác thì người phạm sẽ phải trị tội nặng, mà viên kiểm sát cũng bị nghiêm xử”.


    Sai Vệ uý Hậu vệ dinh Long võ là Bùi Công Huyên kiêm quản các đội Ngân thương.


    Tháng 5. Đổi bổ Hình bộ Tả thị lang kiêm Đại lý Tự khanh Đoàn Khiêm Quang làm thự Phủ doãn Thừa Thiên. Trước đây Đoàn Khiêm Quang đang làm thự Hiệp trấn Nam Định thì nhận được lệnh mới, liền có chỉ cho lưu lại Thanh Hoa, hội đồng với Nguyễn Kim Bảng và Lê Vạn Công chuyên việc điều tra cái án lái buôn người Thanh mang thuốc phiện do quan quân đi tuần biển bắt được, Quang xét xử có nhiều điều không đúng. Đến nay về Kinh, vua dụ bộ Lại rằng : “Đoàn Khiêm Quang đã được bổ vào chức quan Kinh, vừa mới cho thử làm việc hình, mà xét cái án lái buôn người Thanh, rất trái với ý nghĩa pháp luật, thực là phụ cái ý Trẫm muốm đào tạo cho, đáng lý ra giao cho bộ nghiêm xét, nhưng nay hãy tạm phạt nhẹ, chuẩn cho đổi thự hàm Tam phẩm. Thế rồi bổ cho chức [thự Phủ doãn] này.



    Dùng Hình bộ Hữu thị lang Hà Duy Phiên làm Tả thị lang kiêm Đại lý Tự khanh, Hộ bộ Hữu thị lang Hoàng Công Tài làm Hình bộ Hữu thị lang, Trần Chấn có hàm Hiệp trấn làm Hộ bộ Hữu thị lang.


    Dùng Vệ uý Hổ oai Hậu vệ là Nguyễn Văn Thận làm Vệ uý vệ Hữu dực tả nhị dinh Vũ lâm, Phó vệ uý vệ Tiền bảo nhị là Nguyễn Trọng Tính làm Phó vệ uý Hậu vệ dinh Hổ oai thự Vệ uý.


    Khởi phục cho mấy viên bị cách là Nguyễn Trọng Vũ làm Vũ khố Tư vụ, Nguyễn Đình Tân là Nội vụ phủ Tư vụ, Đặng Văn Khải được truy thụ Lễ bộ Viên ngoại lang (Bọn Nguyễn Trọng Vũ trước vì việc đi sứ bị lỗi phải cách chức. Tân và Khải được phái theo thuyền đi biển để làm việc chuộc tội, Khải chết ở dọc đường).


    Lễ bộ Tả tham tri kiêm quản Thái thường tự Nguyễn Đăng Tuân vì bị bệnh, xin về hưu, chuẩn cho nghỉ gia hạn 2 tháng để điều dưỡng. Vua sai Hộ bộ Thượng thư Phan Huy Thực kiêm quản Thái thường tự.


    Tù phạm ở Thái Nguyên, nhân lúc chiều tối quân canh ngục đi chơi, vượt ngục trốn ra, quan quân lại bắt lại được. Quan Bắc Thành đem việc tâu lên, vua dụ bộ Hình rằng : “Thành hạt đã mấy lần xảy việc vượt ngục, thế mà còn có sự canh phòng sơ sót như thế, vậy há có vì cớ bắt lại được ngay mà cho khoan miễn không?”. Rồi phạt Cai đội coi ngục là Trịnh Văn Tiêu phải cách chức, lính canh ngục đều phạt 100 trượng, còn viên đề lao và quan trấn phải giáng, phải phạt có khác nhau.


    Nguyên Trấn thủ Hà Tiên hưu trí là Tống Phước Giáo chết. Phước Giáo trước theo đi Vọng Các, có nhiều công lao. Buổi đầu trung hưng, Phước Giáo từng đánh nhau với giặc, bị trúng đạn mù một mắt. Đến nay ốm chết, quan trấn thành tâu lên. Vua thương xót ra lệnh ngoài lệ cấp tuất thưởng thêm cho 2 cây gấm Tống, 200 quan tiền, lại cấp cho 1 người coi mộ.


    Sai bộ Hình xét xử cho xong những án còn đọng.


    Vua dụ Nội các : “Bộ Hình đặt ra nhân viên hiện đã đầy đủ, gần đây lại mới đặt lại ra ngạch viên Đại lý để làm việc tưởng không phải là thiếu người, thế mà việc án còn chồng chất lại nhiều. Vậy truyền chỉ : phải chia nhau mà xét xử ngay, dù án nặng, án nhẹ đều hạn trong một tháng phải làm xong xuôi. Trước hết phải biên kê rõ viên nào được chia cho cho xét những án nào rồi gửi vào Nội các lưu chiểu sau này. Hễ để chậm trễ thì trách cứ vào người ấy”.


    Sau đó lại sắc cho nhân viên Đại lý tự theo bộ Hình làm việc : phàm có tấu sớ, án từ gì được chuyên làm đều phải liên danh ký tên.


    Quan coi việc đê ở Bắc Thành là bọn Lê Đại Cương tâu nói : “Các nơi sửa chữa đê đều đã xong cả, từ tiết tiểu mãn đầu mùa hạ, thường có những trận mưa lớn, nước sông dâng mau, to hơn nước mùa xuân đến hơn 13 thước, nay mới xuống dần, nhưng các đê điều không quan ngại gì”


    Vua phê bảo : “Nay đê điều đã nhất luật làm xong, nước sông tuy dâng mau, mà đê điều đều được vững chắc, xem tờ tâu, ta rất yên lòng. Các ngươi đã cẩn thận lại nên cẩn thận thêm, sao cho sông lặng sóng êm, dân yên, vật thịnh. Đó là điều mong mỏi thiết tha của ta đấy”.


    Sai Hữu thị lang bộ Lễ sung làm công việc Nội các là Trương Đăng Quế quyền trông coi công việc bộ Công.


    Bộ Công tâu nói : Từ trước đến nay, những vật liệu cần dùng vào mọi công việc, chưa có thể thức lưu hành nhất định. ở Kinh thì lấy những việc làm rồi làm lệ, còn các thành trấn ở ngoài thì chỉ là tuỳ việc liệu làm, không khỏi có chỗ hơn kém khác nhau về vật liệu. Đến khi sổ chi dùng vật liệu đưa đến Bộ, Bộ tư giao cho Vũ khố xét lại, nhất luật lấy mực lệ ở Kinh mà tính, nhiều thì chi bội lên, ít thì là kém lệ, đến nỗi xin bác, xin bồi, giấy má phiền bận mà các thành trấn cũng vẫn chưa biết lệ định như thế nào. Vậy xin sắc cho Vũ khố chiếu theo lệ ở Kinh, suy tính cho rõ thêm, như các số ngói gạch, vôi, mật và giấy bản cần dùng vào việc làm nhà cửa, kho tàng, đình miếu thì lấy chiều dài 1 thước, chiều ngang 1 thước làm tiêu chuẩn ; các số gạch, đá, vôi, mật, giấy, rơm cần dùng vào việc xây thành, tường vách, bờ hào, và cầu cống, thì lấy bề cao 1 trượng, bề rộng 1 trượng làm tiêu chuẩn, cho đến những thứ đinh sắt đóng ván gỗ đồng, thau làm khí giới, than gỗ để rèn đồ sắt, cùng những số thành khí và số hao là bao nhiêu, nhất thiết các vật liệu cần dùng đến mọi công việc [xây dựng, chế tạo] đều chiếu từng khoản mà châm chước, liệu lượng, lập thành quy thức nhất định, tâu xin khâm định rồi sao gửi cho trong Kinh ngoài trấn tuân thành”.


    Vua nghe theo lời nghị ấy.


    Vua dụ Nội các rằng : “8 thước gọi là một tầm, gấp đôi tầm là gọi là thường, nhiều chỗ chú giải như vậy, thế mà từ trước đến giờ, thường lấy 5 thước làm 1 tầm, thực là noi theo những cái sai lầm, nếu cứ lần nữa không đổi, thực là sai cả nghĩa chữ. Vậy hạ lệnh cho sai bộ Công thông tri cho các nha môn, từ nay, phàm đường
  • Chia sẻ trang này