0060.0018

24/12/15
0060.0018
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    sá và các thứ gỗ lạt, nên đo bằng trượng, tính toán thì cứ biên ghi là trượng và thước, không được dùng chữ “tầm” như trước nữa”.


    Trấn thủ Phiên An Nguyễn Hữu Thuyên, Hiệp trấn Phạm Vũ Phác, nguyên thự Tham hiệp Nguyễn Thừa Giảng, vì xử án không đúng bị dân trong hạt kiện, vua ra lệnh đều phải giải chức, đợi xét xử.


    Cho Phó vệ uý ở Ban trực Tả vệ quân Thần sách là Trần Hữu thăng thự Trấn thủ Phiên An, Binh bộ Lang trung hiệp lý Gia Định Binh tào là Nguyễn Văn Điển tạm quyền Hiệp trấn, Hình bộ Lang trung theo làm việc ở Hình tào là Phan Phu tạm quyền Tham hiệp.


    Khi án xử xong, Thuyên và Phác phải giáng xuống chánh thất phẩm, Giảng phải giáng xuống Chánh lục phẩm, hậu bổ do bộ.


    Ngày Bính dần. Vua thân đi cày ruộng tịch điền, người dắt trâu bước đi không hợp với nhịp điệu. Vua thương là tuổi già, không nỡ đánh mắng, sắc sai từ nay những người lão nông sung vào việc dắt trâu, đỡ cày phải dùng hạng người chạc 50, 60 tuổi, cốt để lúc đi lúc đứng cho đúng nhịp, nếu khi tiến khi lui sai hàng lối thì phạt nặng ; viên Kinh doãn cũng sẽ bị giao xuống bàn xử. Chiều hôm ấy, ngự giá đến nghỉ tại nhà Lương tạ ((1) Lương tạ : nhà để nghỉ mát.).


    Ngày Đinh mão. Vua đến thăm đài Trấn Hải, ngày hôm sau hồi loan.


    Hai mặt tiền và tả Kinh thành đã xây xong, thưởng cho các đổng lý là Trần Văn Năng, Tống Phước Lương, Trần Văn Cường, Nguyễn Văn Trọng mỗi người một thứ kỷ lục và 3 tấm sa ; quản vệ mỗi người 2 tấm sa ; và cho chung biền binh hơn 17.600 quan tiền. Lại cho họ ăn yến một bữa, xem trò chơi vui 3 ngày, sắc sai cứ mỗi tháng hai lần, ngày mồng một và ngày rằm, vệ thì quản vệ, đội thì suất đội, đều chiếu theo xem xét suốt một lượt, hễ thấy đâu hơi lở một chút vôi hoặc đất sứt mẻ hay là cây cỏ mọc lên, tức thì bắt lính sửa sang dẫy cắt ngay, cốt để cho hết thảy mọi chỗ đều chỉnh đốn sạch sẽ. Đề đốc Kinh thành cũng phải cứ 3 tháng một lần, phân phái người đi khám xét, nếu chỗ nào không được sạch sẽ chỉnh đốn thì vạch ra tham hặc để trừng trị. Đến năm sau mặt hữu và mặt sau, xong việc xây đắp sửa sang, cũng làm theo lệ này.


    Xây hai cổng chòi chính bắc và tây bắc ở mặt sau Kinh thành.


    Vua được tin những thuyền nhà Thanh đến buôn bán, phần nhiều khởi hành từ Quảng Châu ra cửa biển, chở những hàng Quảng Đông, lại nói dối là hàng Quỳnh Châu để mong được giảm thuế, vua bèn sau bộ Hộ tư đến các thành trấn từ nay những thuyền buôn nếu chở nhiều hàng hoá mà không phải ít ỏi như hàng Quỳnh Châu thì phải đánh thuế theo lệ hàng Quảng Châu.


    Tiết Hạ chí. Trước đây, vua cho rằng cổ nhân mỗi năm cứ đến ngày Hạ chí và Đông chí, đều có cho lường bóng mặt trời, cân đất và than để thí nghiệm, bèn sai Khâm thiên giám đến những ngày ấy, theo đúng phép mà cân, nghiệm rồi tâu lên. Đến nay bọn giám chính Hoàng Công Dương, giám phó Đinh Xưởng vẫn không tuân hành, nên đều sai phạt trượng cả, viên kiêm quản Khâm thiên giám Nguyễn Khoa Minh thì phạt 6 tháng lương.


    Chuẩn định từ nay, các chức Lang trung, Viên ngoại lang, Chủ sự và Tư vụ ở Vũ khố, cũng theo lệ như ty viên trong sáu bộ, mỗi ngày đêm thay lượt nhau một người vào túc trực.


    Phái viên thuyền lớn Uy phượng là Vệ uý Đoàn Dũ về đến Bình Hoà, trong thuyền có viên bị cách chức theo đi làm việc chuộc tội là nguyên ngân bài thị vệ Vũ Hữu Đường lên bờ, lẻn trốn đi.


    Vua được tin dụ bộ Binh rằng : “Vũ Hữu Đường là tôi tớ từ khi Trẫm chưa lên ngôi thường được dạy bảo đã cất nhắc cho lên quan chức, hằng ngày hầu chầu bên cạnh nhưng tính nó không tốt, cam lòng lười biếng chơi bời, thường bỏ không lên hầu trực, cứ bắt được lại trốn đi hàng trăm, hàng chục lần. Năm ngoái đã toan xử tội nặng, nhưng nghĩ chưa nỡ, mới xuống chỉ tha cho xiềng xích, cho đi theo đường biển để gắng sức chuộc tội, nay lại cam tâm cố phạm, rất là đáng ghét. Vậy truyền chỉ cho các địa phương bất cứ quan, quân, dân chúng hễ ai bắt được đích phạm Vũ Hữu Đường thưởng cho 30 lạng bạc, cáo giác mà bắt được đúng thì thưởng 20 lạng; nếu dung túng chứa chấp và chỉ dẫn đường lối để đến nỗi nó xa lánh được thì cũng cùng tội như phạm nhân. Đoàn Dũ không quản thúc được tên Đường tức thì bắt giải chức, cho ở ngoại để tầm nã, nếu quá hạn một tháng mà không bắt được tất phải trị tội nặng”. Liền đó, Đường bị trấn Phú Yên bắt được, khoá tay giải về Kinh, giam cấm nghiêm ngặt lâu rồi lại tha. Đoàn Dũ phải phạt 3 tháng lương, rồi lại chuẩn cho phục chức.


    Khâm sai Cai cơ làm Quản cơ Hoà thắng hưu trí là Nguyễn Văn Cải có công theo đi thành Vọng Các, nay bị bệnh chết. Vua được tin, thương xót truy tặng làm Thần sách Phó vệ uý, thưởng thêm 100 quan tiền.


    Vũ khố chủ thủ là bọn Lê Công Dực cân thu số kẽm của Bắc Thành nộp thiếu đến hơn 1.000 cân, đến khi phái người cân lại thì dôi ra 500 cân.


    Vua nói : “Đó đều do bọn chúng cố ý làm nặng làm nhẹ, để hòng chấm mút về sau”, bèn sai khoá tay chúng lại giao cho bộ Hình nghiêm xét. Khi án đã thành, đều phát vãng đến đồn thú ở Ai Lao làm lính.


    Lúa chiêm trấn Quảng Nam bị tổn hại, quan trấn cho rằng 4 huyện Lễ Dương, Duy Xuyên, Duyên Phước và Hoà Vinh bị hại nặng hơn, tâu xin số thóc tô phải đóng năm nay cho dân được thay nộp bằng tiền.


    Vua bảo bộ Hộ rằng : “Trẫm thà để sự giàu có ở dân còn hơn. Quan trấn tâu xin tuy không nói đến huyện Hà Đông, nhưng cùng bọc, cùng loài, đối đãi cùng một lòng nhân, há nên phân biệt ? Vậy ra lệnh nhất luật cho suốt cả trấn được thay nộp như thế”.


    Định rõ lệ bắn đại bác ở hai pháo đài Điện Hải và An Hải trong cửa biển Đà Nẵng thuộc trấn Quảng Nam (khi có tàu đồng lớn vào hải phận, bắn 3 phát súng thì 2 đài cũng đều bắn 3 phát súng ; nếu có nhiều thuyền lớn cùng vào một lúc dầu có bắn nhiều phát súng, hai đài cũng chỉ bắn mỗi đài 3 phát).


    Tu bổ điện Phụng Tiên.


    ống chạy giấy trạm của Bắc Thành đệ đến, bộ Binh mở ra xem thấy những tập tâu có nhiều chỗ co gấp nhăn nhúm, quan bộ Binh hặc tâu lên. Vua sai lấy một tập ra và dụ rằng : “Phan Văn Thuý ngươi và viên chức các tào thử xem, lễ thờ vua có nên như thế này không ?”. Thuý sợ hãi, dâng sớ xin nhận tội. Vua đặc cách tha cho.


    Thự Hiệp trấn Bình Thuận là Lê Hữu Đức bị lỗi, phạt xuống đến 5 cấp, giáng bổ làm Hàn lâm viện Tu soạn.


    Tu bổ điện Càn Nguyên và dải vũ hai bên tả, hữu điện Cần Chính.


    Định thể lệ xét công các phủ huyện khuyên dân trồng trọt.


    Trước kia vua cho rằng, đất ở các hạt phần nhiều bỏ không, vì khi xét thành tích các phủ huyện chưa có việc ghi công về sự khuyên dân trồng trọt, nên đã sắc chỉ ba bộ Lại, Hộ, Công xét định chương trình đệ tâu. Đến nay nghị dâng lên, cho là trong loại thực vật, chỉ có cây mít, quả có thể ăn, gỗ có thể làm rường cột, càng là thiết dùng. Vậy xin từ Quảng Bình vào Nam, Nghệ An ra Bắc, bên đường cái quan và ven sông đều cho trồng một loại thứ cây ấy. Còn tất cả những chỗ hai bên đường lớn, đường nhỏ trong cả nước, và những chỗ bên sông, bên ngòi, bờ ao, chân rừng, gò đống, hiện còn bỏ hoang thì phủ huyện sở tại phải sức khắp lượt cho dân đều nên tuỳ từng thổ ngơi, hoặc có thể cấy được lúa và lúa miến hoặc trồng dâu, gai, hoặc có thể trồng được mít, không cứ là quân hay dân, thực hộ hay khách hộ, cho phép ai khai khẩn trồng trọt trước thì người nấy được. Nếu là ruộng đất tư, thì ra lệnh cho chủ ruộng đất tự khai khẩn lấy, cũng kể bắt đầu từ năm tự báo việc khai khẩn ấy. Mãn 3 năm, làm thành danh sách báo lên bộ, lại kể đủ 3 năm nữa, sẽ chiếu theo số đã trồng trọt được nhiều hay ít và thành thích như thế nào, chia ra từng hạng mà xét công. Nếu đã tới 3 năm mà đất bỏ hoang còn nhiều, thì xét hặc nghị xử, để phân biệt người chăm, kẻ lười. Số ruộng đất canh trưng đó, sau 6 năm, khi đã xét thành tích rồi, đều cho theo vào hạng ruộng đất tư bắt đầu đánh thuế.


    Vua nghe theo lời kiến nghị ấy, dụ Nội các rằng : “Việc mở mang ruộng đất, khuyến khích làm ruộng trồng dâu, thực có ích lợi lớn cho quốc kế dân sinh, cho nên các vương giả xưa không ai là không chăm lo khuyến khích giúp đỡ dân, để cho đất không có nguồn lợi bỏ sót, dân không có sức người để thừa, rồi sau vương đạo mới được thành tựu.


    “Nước nhà ta, bờ cõi rất rộng, địa lợi rất tốt, nhưng những đất cày cấy được còn chưa được mở mang hết, tức như phủ Hà Hoa thuộc Nghệ An đất bỏ hoang trông bát ngát không biết là mấy nghìn, mấy trăm mẫu, thì những chỗ khác như thế chắc cũng không phải là ít. Phải nên chú ý hơn nữa vào việc khai khẩn trồng trọt, mong ruộng đất ngày thêm màu mỡ.


    “Vậy hạ lệnh cho bộ Hộ truyền chỉ đi các đại thần đứng đầu các địa phương, chuyển sức cho các viên phủ, huyện đều xét xem ở trong hạt những ruộng đất còn bỏ hoang, sức bắt phải khai khẩn trồng trọt, những đợt báo việc khai khẩn và đợi xét việc thành tựu đều chiểu theo điều khoản trong lời nghị của bộ mà thi hành. Đó là một điều cốt yếu mở mang mối lợi, bồi bổ đời sống cho nhân dân, mọi người đều phải hết lòng làm việc, không được coi là giấy tờ suông ; nhưng cũng không nên đốc thúc khẩn bách quá, đến nỗi làm hại cho dân. Phải làm thế nào tìm phương pháp mà dạy bảo để cho người chăm thì được khuyến khích, kẻ lười thì biết răn chừa, hết thảy đều nô nức chăm chỉ, mà không sinh ra mối tệ khác, để cho ngoài đồng không có đất bỏ không, trong nước không có người lêu lổng, mới là không phụ chức phận của mình. Trong việc này, càng có thể biết được sự dụng tâm làm việc của các ngươi như thế nào”.


    Cho Binh bộ Lang trung Phan Đăng Huyên làm Công bộ Lang trung, sung làm đốc công trong sở thợ thuyền ở Vũ khố.


    Đoàn Cảnh Thạc, thự Phó vệ uý vệ Bắc Thành, mùa hạ trước đốc tải bè gỗ ở Gia Định, gặp bão bị giạt đến huyện Điện Bạch nhà Thanh, người Thanh hộ tống cho về lại bị sóng gió ngăn trở, bè gỗ bị tan nát mất cả.


    Vua sai truyền dụ cho Quảng Yên tư sang Khâm châu nhà Thanh liệu lý giúp [Cảnh Thạc] để về đường bộ. Đến nay Cảnh Thạc cùng với 28 biền binh cùng đi đều về đến Kinh.


    Vua nói : “Bè gỗ không đủ tiếc, chỉ nghĩ bọn biền binh hai lần gặp nạn gió bão lênh đênh trôi giạt bấy lâu, là đáng thương !”. Rồi cho Cảnh Thạc được thực thụ [Phó vệ uý] cấp cho áo mặc, các biền binh cũng đều thưởng cho áo mặc và tiền, rồi cho về hàng ngũ cả.











    Chính biên



    đệ nhị kỷ - quyển lxxiv



    thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế



    Tân mão, Minh Mệnh năm thứ 12 [1831], mùa hạ, tháng 6. Sơn Tây, gạo kém. Vua chuẩn cho dân trấn ấy thuế vụ chiêm năm nay cùng số thóc gạo [thuế] thiếu từ năm trước đều được tính giá nộp bằng tiền. Phạt quan trấn 3 tháng lương vì tâu báo chậm.


    Thăng Lễ bộ Viên ngoại lang Nguyễn Thường Trân làm thự Tham hiệp Tuyên Quang.


    Quan Bắc Thành tâu : “Số lính 2 cơ Bắc thuận thứ nhất và Bắc thuận thứ ba chỉ có hơn 400, xin dồn vào 1 cơ Bắc Thuận thứ nhất”. Vua y cho.


    Dùng nguyên thự Hiệp trấn Cao Bằng Hoàng Quốc Điều quyền thự Tả thị lang Hộ bộ.


    Thượng trà viện sứ Vũ Văn Giải làm Vệ uý Tiền vệ dinh Tiền phong, vẫn lĩnh chức Thượng trà viện sứ, kiêm quản các đội thị vệ Ngân bài, Nha bài cùng các đội Thượng thiện, Hoà thanh, Thanh bình. Thăng bổ thự Phó vệ uý ở Kinh tượng nhất vệ Lê Văn Thuỵ làm Vệ uý dinh Thần cơ vẫn kiêm quản các tượng cơ ở Nam, Trị, Quảng. Cho Vệ uý Hồ Văn Đa làm Vệ uý Hậu vệ dinh Tiền phong, vẫn kiêm quản các tượng cơ ở Ngãi, Bình, Phú, Hoà, Thuận, Định. Cho Vệ uý Nguyễn Văn Thị làm Vệ uý Tả vệ dinh Hổ oai, vẫn kiêm quản các tượng cơ ở An ((1) An : tức Nghệ An.), Hoa ((2) Hoa : tức Thanh Hoa.), Ninh, Bắc. Thăng Vệ uý Hậu vệ dinh Long võ Bùi Công Huyên làm thự Vệ uý vệ Hữu nhị ở Hữu dực dinh Vũ lâm, vẫn kiêm quản các đội Kim thương, Ngân thương. Cho Quản cơ cơ Hậu tiệp ở Tiền quân Nguyễn Văn Cáo làm Phó vệ uý vệ Túc vệ dinh Thần sách.


    Cho biền binh Bắc Thành thao diễn ở Kinh trở về đội ngũ. Đầu mùa xuân, các biền binh ấy theo lời triệu tập về Kinh thao diễn. Nhân sai đi xây đắp bờ phía bắc sông Ngự Hà. Đến bấy giờ, công việc xong, thưởng cho mỗi quản cơ 1 thứ kỷ lục, từ suất đội đến lính mỗi người một tháng tiền lương. Thưởng thêm cho quản cơ 4 lạng bạc, suất đội 2 lạng, tri bạ 1 lạng. Lại cho ăn yến, xem chèo hát 1 lần. Lính, người nào chết, cấp thêm cho 2 quan tiền tuất và 1 tấm vải.


    Thự Công bộ Hữu tham tri quản lý Nội vụ phủ Ngô Phước Hội và Nội vụ Lang trung Trần Công Chương vì phạm tội, bị cách chức.


    Vua dụ Nội các : “Nội vụ là nơi chứa để hết thảy của công, phải nên kiểm xét từng khoản từng thứ kê rõ số mục thì mới thực là thận trọng và mới ngăn ngừa được sự xâm lạm. Thế mà lũ Ngô Phước Hội, chỉ bằng cứ vào sự kiểm xét của lại dịch, sai lầm rất nhiều. Thậm chí bỏ sót của kho, không vào sổ xuất nhập, đã quá nửa năm, mới biết mà đưa việc ra. Lại cuối năm ngoái, theo sách tổng [kho] thiếu đến hơn 20 lạng vàng, [bọn Phước Hội] cũng không nghe biết, kịp khi Trẫm hỏi đến, mới tra xét ra. Thế thì chức phận ở đâu ? Vậy hạ lệnh bộ Hình xét xử”. Hai người đều phải cách chức, nhưng vẫn cho làm hành tẩu ở Nội vụ phủ để gắng sức làm việc chuộc lỗi.


    Nội các Thị độc học sĩ Nguyễn Tri Phương làm việc tầm thường, giáng bổ làm Nội vụ phủ Viên ngoại lang thự Lang trung. Cho Nội vụ Chủ sự Trần Duy Trinh làm thự Viên ngoại lang, cho cùng giữ ấn quan phòng của Nội vụ phủ ; khi có làm bản tâu, cả hai phải cùng ký và đề tên vào.


    Dùng Thừa Thiên Phủ thừa Nguyễn Huy Chiểu làm Hàn lâm viện Thị độc học sĩ, sung làm công việc ở Nội các, Hình bộ thự Lang trung Trương Phước Đĩnh thay làm thự Thừa Thiên Phủ thừa.


    Bộ Lễ tâu : “Từ đời xưa việc phụng thờ ở tôn miếu trong thì hết lòng thành, ngoài thì đủ lễ vật, cho nên lễ nhạc rõ ràng đầy đủ, cảm cách thiêng liêng, đó mới là đạo hiếu bất di bất dịch của đế vương. Lễ cúng tế của bản triều cũng đã rõ ràng có trật tự, nhưng trong đó còn nhiều cái noi theo nếp cũ, chưa được hợp với ý nghĩa đời xưa như nậm chén, lụa, hộp đựng lụa, phạn gỗ vuông, phạn gỗ tròn, mâm bồng tre, bát gỗ cao chân, cho đến âm nhạc nên chế thêm, nghi tiết nên định lại, tất phải một phen tham khảo cho đủ lễ điển. Vậy nên bàn rõ từng khoản để tâu :


    (1. Đồ thờ :


    a. Nậm và chén. Các chỗ thờ các vị Tiên đế, tiền hậu ở các miếu, mỗi chỗ chế thêm 3 chén 1 đĩa, cộng 72 chén, 24 đĩa, đều dùng bằng sứ và pha lê tráng màu vàng, vẽ rồng mây. Nậm hình con trâu, nậm hình voi, nậm không chân, nậm hình hồ, nậm hình núi, mỗi thứ 1 cái. Lại mỗi gian thờ 5 nậm mỗi thứ 1 cái kiểu ấy. Các hạng nậm mỗi thứ 36 cái đều bằng đồng mạ vàng, đủ cả khăn phủ màu vàng cùng cái giuộc. Hằng năm, 5 lễ hưởng, chén đĩa bày hết cả ra. Mùa xuân, dùng nậm hình con trâu ; mùa hạ dùng nậm hình voi ; mùa thu dùng nậm không chân ; mùa đông dùng nậm hình hồ. Tế hợp dùng nậm hình núi. Mỗi gian thờ có 1 cái nậm đựng nước lã để trên án có bày những bát đựng dưa mắm đựng canh nhưng không rót. Mỗi vị thờ có 1 cái nậm đựng rượu để ở trước thần vị, dùng để rót dâng. Còn như ngày giỗ, mồng một tết, mồng 5 tháng 5, ngày rằm mồng một và khi nhân có việ mà cáo lễ, vẫn dùng nậm đĩa, chén cũ bằng bạc.


    Các thân huân, công thần được dự thờ mỗi vị thêm 3 chén, 1 đĩa, 1 nậm. Nậm dùng nậm hình hồ. Tất cả 75 cái chén, nậm đĩa mỗi thứ 25 cái, đều bằng thau. Đến như ngày đản ((1) Ngày đản : ngày sinh nhật.), ngày giỗ ở điện Phụng Tiên cùng các lễ thời tiết, rằm, mồng một, vẫn dùng nậm chén bằng pha lê.


    b. Cái đăng ((2) Đăng : bát to.), cái hình ((3) Hình : như cái đỉnh, có nắp, 2 tai, 3 chân dùng đựng canh.). Các vị tiên đế tiền hậu các miếu, mỗi vị thờ 1 cái đăng, 1 cái hình, cộng mỗi thứ 2 cái. Đăng làm bằng sứ, hoặc bằng pha lê, ngoài mạ màu vàng, vẽ rồng mây, lòng trắng, miệng bịt vàng, để đựng nước xuýt ((4) Nguyên văn là “thái canh”, tức nước luộc thịt, nước xáo hay nước xuýt. ). Cái hình làm bằng đồng trổ rồng mạ vàng để đựng canh.


    Các vị được dự thì ở tả hữu vu ((5) Hai nhà giải vũ ở 2 bên trước tôn miếu.) mỗi vị thờ 1 cái hình cộng 25 cái, đều làm bằng nhau, không chạm trổ.


    c. Cái phủ ((6) Thứ phạn vuông bằng gỗ.), cái quỹ ((7) Thứ phạn tròn bằng gỗ.). ở các miếu 12 bàn thờ và 19 ban các vị được dự thờ, mỗi ban thờ có 1 phủ, 1 quỹ, đều làm bằng gỗ. Phủ, quỹ thờ ở các miếu mỗi thứ đều 12 cái, sơn son, bịt vàng, vẽ rồng mây, trong lót thau. Phủ, qũy ở ban các vị được dự thờ, mỗi thứ 19 cái, đều sơn son bịt bạc, vẽ mây, trong lót thiếc. Phủ để đựng xôi, qũy để đựng cơm.


    d. Cái biên ((1) Mâm bằng tre.), cái đậu ((2) Bát gỗ có nắp, cao chân.2). Ban thờ các miếu ở mỗi án, biên, đậu mỗi thứ đều 12 cái ; ban thờ các vị thân huân mỗi án có 6 cái ; ban thờ các vị công thần mỗi án có 4 cái. Biên đan bằng tre, đậu tiện bằng gỗ. Các án ở ban thờ các miếu, cộng có 144 cái biên, đều sơn màu vàng, núm và vành, sơn son, bịt vàng, và 144 cái đậu đều sơn son, bịt vàng, vẽ rồng mây, trong lót thau. Các án ở ban các vị được dự thờ, biên có 92 cái, đều sơn son, núm và vành bịt bạc, đậu có 92 cái, sơn son bịt bạc, vẽ mây trong lót thiếc. Biên để đựng quả phẩm, đậu để đựng dưa mắm.


    2. Lễ phẩm :


    a. Lụa và hộp đựng lụa. Các vị tiên đế, tiên hậu ở các miếu, mỗi vị thờ 1 tấm lụa gọi là lụa phụng tiên ((3) Phụng tiên : thờ tổ tiên.3), cộng 24 tấm, đều dài 9 thước. Những vị thân huân được dự thờ, mỗi vị 1 tấm lụa gọi là lụa “triển thân” ((4) Triển thân : mở rộng tình thân.4), cộng 8 tấm, đều dài 7 thước. Các công thần, mỗi án thờ 1 tấm lụa gọi là lụa “báo công” ((5) Báo công : báo đáp công lao.5) cộng 11 tấm, đều dài 5 thước, tất cả đều màu trắng. Hai đầu tấm lụa dệt thành chữ, và đều dựng vào hộp. Các án thờ các miếu có 12 cái hộp ngoài thếp vàng trong sơn son, mép và chân trang sức bằng vàng. Các bàn những vị được dự thờ có 19 cái hộp, đều sơn son, mép và chân trang sức bằng bạc. Tất cả có đủ khăn phủ màu vàng, màu đỏ. Hằng năn, lễ hưởng cứ trước kỳ làm lễ, Nội vụ phủ đưa giao tơ công cho quan phần việc thuê thợ dệt lụa ấy, đến ngày làm lễ dâng lên.


    b. Xôi thịt. Lệ cũ : Triệu miếu, Thái miếu, Hưng miếu, mỗi ban thờ dâng 1 trâu, 1 dê, 1 lợn, và 1 mâm xôi to, 2 mâm thau đơm xôi lúa tịch điền ((6) Tịch điền : ruộng nhà vua thân đi cày, lấy lúa làm lễ cúng tế.6), 1 cỗ nấu hạng nhất. ở Thế miếu, 3 trâu, 3 dê, 3 lợn và 3 mâm xôi to, 2 mâm thau đơm xôi lúa tịch điền, 3 cỗ nấu hạng nhất. Tất cả đều vẫn làm theo như cũ. Các ban các vị được dự thờ, mỗi ban thờ 1 cỗ nấu hạng 3 thêm 1 con lợn, 1 mâm xôi.


    3. Âm nhạc :


    a. Bài nhạc. Lệ trước tuần tham thần ((7) Tham thần : lễ bắt đầu chào thần.7) tấu bài nhạc Hàm hoà ; tuần dâng rượu thứ nhất tấu bài Thọ hoà ; tuần rượu thứ 2, tấu bài Dự hoà ; tuần rượu cuối cùng, tấu bài Ninh hoà ; tuần từ thần ((8) Từ thần : lễ tạ thần.8), tấu bài An hoà ; tuần vọng liệu ((9) Vọng liệu : đốt tờ văn tế.9), tấu bài Ung hoà. Cộng 6 bài nhạc. Nay thêm tuần dâng lụa, tấu bài Gia hoà ; tuần hạ cỗ tấu bài Túc hoà ; tuần dâng nước chè tấu bài Mỹ hoà cho đủ 9 bài nhạc. Lại thêm khi tế lễ xong, nhà vua về cung, tấu bài nhạc Khánh hoà.


    b. Nhạc khí. Chiếu theo toàn bộ nhạc khí tế Giao, chế thêm ra 3 bộ nữa, mỗi bộ 1 cái chuông to, 1 cái khánh to, chuông nhỏ khánh nhỏ mỗi thứ 12 cái. Hằng năm, 5 lễ hưởng, ở trước sân bên tả bên hữu các miếu, bày toàn bộ nhạc khí, rồi tiếp đến nhạc bộ bằng tiếng tơ, tiếng trúc. Cứ chiếu mỗi bộ chọn lấy 6 người ở thự Hoà thanh, đội mũ mặc áo sung vào chức đánh chuông đánh khánh. Đến lúc tâu nhạc, cứ mỗi một bài nhạc, thì trước hết đánh 3 tiếng chuông to. Khi đã cử nhạc rồi thì đánh chuông nhỏ, khánh nhỏ hoà với tiếng đàn, tiếng phách. Khi khúc nhạc hết, thì đánh 3 tiếng khánh to để kết thúc.


    c. Múa nhạc. Hằng năm, 5 lễ tạ hưởng, Thái miếu, Thế miếu đều dùng múa bát dật. Mỗi bộ phận múa điệu văn, múa điệu võ đều chọn trong đội Thanh bình lấy 2 người làm vũ sư, 64 người làm vũ sinh, có đủ áo mũ và đồ để múa. Điệu võ : múa khiên, búa ; điệu văn : múa sáo tre, cờ lông, chia hàng đứng ở phía dưới chỗ treo nhạc khí. Hai bên đông, tây hướng lại với nhau. Đợi đến khi xướng dâng tuần rượu thứ nhất, người giữ chuông đánh 3 tiếng chuông to, nhạc cử lên thì vũ sư về điệu võ cầm cờ tinh dẫn vũ sinh đến chỗ lát gạch bên tả bên hữu trước sân miếu, quay mặt phía bắc [hướng vào trong miếu] đứng bày làm 8 hàng, múa cái khiên, cái búa. Khi ca sinh tấu bản nhạc xong, người giữ khánh đánh 3 tiếng khánh to, thì những người múa đều trở về đứng chỗ cũ. Đến tuần rượu thứ hai, vũ sư về điệu văn cầm cờ tiết dẫn vũ sinh vào hàng, múa sáo tre, cờ lông. Tuần rượu cuối cùng, cũng như tuần rượu thứ hai.


    4. Nghi tiết :


    Những quan vâng mệnh làm lễ tế ở 8 ban thờ tả hữu Thái miếu, phàm các tuần dâng hương, dâng lụa, dâng rượu, đều quỳ lạy để tỏ ý nghĩa cung kính thay nhà vua làm lễ. Các quan phân hiến ở dải vũ hai bên nhà Thái miếu, Thế miếu, đều theo lạy ở trước sân chính miếu, phía ngoài gác. Sau tuần đọc chúc, họ chia nhau đến các ban các vị được dự thờ tuần dâng lụa, dâng rượu đều làm riêng một tuần phân hiến. Ba tuần dâng rượu xong, lại về chỗ cũ, theo lạy để tỏ rằng việc lễ thống thuộc về bậc tôn quý. Còn các nghi tiết khác đều theo như cũ).


    Nghị ấy tâu lên, vua sai đình thần bàn lại, thì đều cho là bộ Lễ dựa vào lễ cổ, và châm chước với tình hình ngày nay như thế đều đã thoả đáng. Duy có 8 ban thờ tả hữu Thái miếu theo lệ trước, chọn phái hoàng tử, các tước công 4 người, văn võ đại thần 4 người vào thừa tế. Tra sách Ngũ lễ thông khảo, chế độ dưới thời Khai Nguyên đời Đường thì 5 lần tế hưởng ở Thái miếu, nên chọn trong các tông tử và các tự quận vương, người nào có đức vọng thì cho tạm quyền chức tam công ((1) Tam công : Thái sư, Thái phó, Thái bảo.) để làm việc, những quan họ khác thì không được thay. Theo điển lệ nhà Thanh thì lễ Hợp hưởng, ở trước thần vị các tổ các tôn, có sai quan làm lễ thay, những việc dâng hương, chỉ phái hoàng tử thân vương mà thôi. Bởi vì việc kính tế ở Tôn miếu, người cùng họ thân mà thần với người dựa nhau, trong chỗ huyết mạch mới dễ thông cảm. Cho nên các đời phái uỷ việc tế tất châm chước chọn người trong họ, ý nghĩa ấy cũng nên lượng dùng. Vậy xin từ nay, phàm 5 lễ hưởng cùng các tiết mồng một tết, mồng 5 tháng 5, ở 8 ban thờ tả hữu Thái miếu chỉ chuyên phái hoàng tử và các tước công đến thừa tế.


    Vua dụ : “Dù tôi hay con thì lòng tôn thân cũng là một cả, có gì khác đâu. Chuẩn định từ nay, gặp mọi lễ tiết, quan thừa tế đều do bộ Lễ đề cử trước, Trẫm sẽ tự chọn, phái các hoàng tử, các tước công, hoặc các quan văn, võ đại thần cũng được. Còn các điều khác đều chuẩn y lời nghị, và cho bắt đầu cử hành từ lễ Xuân hưởng năm tới”. Vua liền hạ lệnh : 5 thứ nậm rượu thờ đều làm nắp đậy. Những chữ ở tấm lụa thờ thì lụa hạng nhất, đầu tấm dệt chữ vàng, lụa hạng nhì, hạng ba, dệt chữ bạc, để tỏ vẻ trang nghiêm kính cẩn.


    Bộ Lễ lại bàn thêm : văn tế cùng lụa thờ nên đặt chỗ đốt. Đặt thêm lò đốt và cái chậu đốt để dùng vào việc tế lễ. Vua chuẩn y lời bàn (Trước sân Thái miếu có 2 lò đốt ở phía đông, phía tây. Nay đặt thêm 1 lò đốt ở chính giữa dưới thềm về phía nam lối đi. Lại đặt ở phía đông và phía tây 4 cái chậu đốt ở mé trên phía bắc cái lò đốt cũ. Từ nay gặp lễ hưởng thì văn tế cùng lụa thờ ở án giữa đem đốt ở cái lò trước lối đi. Lụa thờ ở các án bên tả, bên hữu đốt ở cái chậu phía đông và phía tây. Hễ gặp các lễ về tuần tiết, ngày rằm, mồng một hay cáo yết thì văn tế và giấy vàng giấy bạc ở ban thờ gian giữa đốt ở cái lò trước lối đi. Còn giấy vàng giấy bạc của ban thờ bên tả bên hữu đều đốt ở lò cũ ở phía đông, phía tây. Triệu miếu, Hưng miếu, Thế miếu về mé tây trước sân mỗi nơi trước có 1 cái lò đốt nay đều dời đến dưới thềm giữa phía nam lối đi trước miếu).


    Vua cho rằng các thành của các phủ huyện Tĩnh Gia, Diễn Châu, Hà Hoa, Thạch Hà thuộc 2 hạt Thanh Nghệ xây đắp trước đây, so với quy chế thành các phủ huyện [do bộ] mới tư ra Bắc Thành, thì có hơi thấp. Sắc cho bộ Công vẽ kiểu xây cao hơn, tư ra quan trấn trù tính nhân công vật liệu xây đắp thêm lên.


    Đặt [6 người] lễ sinh ở nhà Nhu viễn (ở thành Nam Vang).


    Đắp cửa ải Hải Sơn ở trên núi Hải Vân, đặt tên là núi Cao An. Thưởng cho biền binh làm việc ấy tiền lương một tháng. Sắc cho từ nay về sau, khi có chỉ ân thưởng