0060.0019

24/12/15
0060.0019
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    thì chỉ suất đội trở lên mới được chiếu lệ lương của họ mà cấp ; còn các suất thập dẫu có lương theo lệ cũng chỉ chiếu cấp tiền lương nhất luật như binh lính.


    Chế thuyền hiệu chữ “Bình ” kiểu mới. Trước đây vận tải ván gỗ Gia Định đi đường biển, chuyên dùng đóng bè, xông pha sóng gió, sự chuyên chở thường thường không được toàn vẹn. Vua nghĩ những thuyền hiệu, trong khoang có nhiều ngăn, nếu thay đổi lại, liệu bỏ ngăn mà cho thông luôn thì có thể chứa được ván dài, bèn sai Lê Văn Đức, Hà (Tông) Quyền, Trương Đăng Quế hội đồng nghĩ cách đóng thuyền kiểu mới để dâng lên. (Theo kiểu thuyền chữ “Bình” số 2 từ ngăn mũi thuyền đến ngăn lái thuyền dài 9 trượng 5 tấc. Xà ngang trung tâm dài 1 trượng 6 thước 5 tấc, lòng sâu 1 thước 2 tấc. Nay triệt bỏ ván ngăn. ở dưới chỗ lát ván bằng, đem chở gỗ ván thông tính từ ván dài 6 trượng 5 thước đến 2 trượng, thì chứa được 238 tấm các hạng ván nặng nước 271.620 cân. Chiếu lệ trọng tải cũ, còn thiếu 28.380 cân, dành cho chỗ củi nước nấu ăn. Chỗ ván bưng đằng mũi thuyền mở hai cửa nhỏ vuông ngang dọc đều 1 thước 5 tấc, để tiện việc đem đặt tấm ván. Việc xong thì bôi dầu buộc dây lại cho được vững bền).


    Sắc bộ Công phái tay lành nghề trong cơ Kiên chu đi Gia Định theo mẫu chỉ bảo trông coi đóng một chiếc thuyền đợi đến tháng 4 sang năm, chở ván gỗ ở thành về Kinh nộp luôn thể. Khi thuyền đóng xong vận đến Kinh. Vua khen là nhanh chóng tiện lợi, thuởng cho lũ Đức mỗi người một thứ kỷ lục và 2 tấm sa.


    Vua dụ Nội các : “Nay sắp đến kỳ nước lên to, chính là lúc cần phải săn sóc đê điều. Gần đây nghe nói Sơn Nam mưa to luôn mãi, tuy mừng lúa được nước cấy, nhưng lại lo nước sông lên to. Vậy sai bộ Công truyền chỉ cho các viên Đê chính Lê Đại Cương xét xem nước sông có lên to hay không, và mức nước ở cột đo ven sông lên xuống thế nào, kíp phi tâu vua biết.


    Lũ Lê Đại Cương tâu : “Nước sông nay đã rút xuống hơn lúc thường, mực nước ở cột đo nước cao hơn mực thường ngoại 10 thước. Vả, nghiệm ra trước giờ nước sông dẫy to, phần nhiều vì nước ở trên nguồn đổ về. Còn như các trấn đông, tây, nam, bắc thành hạt, dẫu mưa nhiều, cũng không đến nỗi làm nước sông lên to lắm. Lại, hằng năm nước to hay vào tuần mạt phục ((1) Mạt phục : có 3 ngày phục là sơ phục, trung phục và mạt phục. Mạt phục là ngày canh đầu, sau lập thu thường vào thượng tuần tháng 7.) hiện đã phân phái ty thuộc đến các phần đê tuần tra xem xét và dự bị vật liệu hộ đê”. Vua phê bảo : “Xem tờ tâu, ta hơi yên lòng”.


    Chế thứ dấu làm tin để cấp phát cho các kho tàng ở Kinh. (Kho Thương trường, kho Nội tàng, phủ Nội vụ, kho Vũ khố, kho thuốc súng, mỗi kho một cái, theo cách thức dấu tín của sáu bộ, dấu làm bằng sừng trâu khắc chữ chìm, như “Thương trường tín tích” ((1) Nghĩa là “dấu tin của kho Thương trường”.), ngoài ra cũng theo lệ ấy mà làm. Phàm niêm phong cửa kho đều có miếng da giáp nhau, dùng cánh kiến đốt chảy ra rồi lấy dấu tin đóng vào).


    Bộ Hộ tâu : “Sở Nội tàng thuộc bộ quản giữ, thì dấu tín ấy do bộ giữ, còn các dấu tín khác xin giao cho quản viên giữ để tiện làm việc niêm phong”. Vua nói : “Kho tàng là việc trọng đại nhưng nếu giao cho quản viên cầm giữ thì hình như coi nhẹ, nếu do bộ giữ cả thì đến lúc có việc lại lịch kịch rầy rà. Vậy chuẩn định : phàm đến cuối năm phong ấn ((2) Phong ấn : cất ấn, nghỉ việc quan.2), phủ Nội vụ, kho Nội tàng, kho Thương trường thì do bộ Hộ ; Vũ khố, kho thuốc súng thì do bộ Binh một viên đường quan trong các bộ ấy đem ấn triện hiện hành ở bộ, hội đồng với quản quan kính cẩn niêm phong ; đến ngày khai ấn ((3) Khai ấn : mở ấn, bắt đầu lại làm việc quan.3) lại hội đồng xét dấu niêm phong rồi mở niêm phong. Còn lúc việc thường thì niêm phong hay mở phong đều cho quản viên theo việc mà làm.


    Sai Trấn thủ Hưng Hoá là Vũ Văn Tín và thự Tham hiệp Ngô Huy Tuấn đem lính và voi đến châu Chiêu Tấn kinh lý việc biên thuỳ.


    Trước đây, huyện Kiến Thuỷ nhà Thanh bắt giữ lũ Điêu Vĩnh Điển, báo tin tỉnh Vân Nam, sức ép hai động Phong Thu, Bình Lư phải nộp thuế bằng bạc và giao cho Điêu Doãn An đem nộp. Sau đó lũ Vĩnh Điển đã về, còn Doãn An vẫn ở lại trại Mãnh Thích, chưa dám về. Đến bấy giờ, phủ Lâm An (huyện Kiến Thuỷ thuộc phủ này) thuộc trấn Lâm Nguyên nhà Thanh lại phái mục luyện hơn 600 người đến đòi lấy đồn Phong Thu và nói : Phong Thu là đất Mãnh Thoa cũ của nhà Thanh, đồn binh của ta phải rút đi, không được đóng nữa. Bắc Thành đem việc tâu lên.


    Vua dụ bộ Binh rằng : “Trấn Hưng Hoá giáp liền nước Thanh bờ cõi đã rõ ràng rồi. Nay quan biên giới nhà Thanh, hiếu sự như thế, ta nên xử trí cho thích đáng mới giữ được quốc thể. Uy thắng thập cơ Nguyễn Đình Phổ đem 1.000 biền binh của thành hạt và 10 thớt voi đi gấp lên đóng giữ trấn Hưng Hoá. Khi đến trấn, lập tức trích lấy 300 cả biền binh lẫn trấn binh và thổ binh 5 thớt voi, uỷ cho quan trấn Vũ Văn Tín và Ngô Huy Trấn đem đến Chiêu Tấn tìm chỗ đóng lại phòng giữ. Rồi tư giấy đến quân thứ nhà Thanh đóng, để xem động tĩnh thế nào”. Tờ tư đại ý lược nói : Phong Thu là đất cũ của bản quốc. Từ xưa đến nay, đóng giữ theo địa phận giới hạn đã rõ ràng. Còn chỗ gọi là Mãnh Thoa hoặc giả cũng có nhưng chưa được nghe nói ở vào chỗ nào. Vậy không nên nghe lời Doãn An mà gây ra hấn khích. Được mấy ngày, quân Thanh tiến bức đồn Phong Thu. Thủ đồn là Chử Đình Thông sức không chống nổi, phải lui về động Bình Lư. Vua lại dụ lũ Đặng Văn Thiêm điều thêm 200 biền binh, 2 thớt voi cho theo lũ Văn Văn Tín tiến thẳng đến nơi. Nhưng rồi quan quân nhà Thanh không chịu thuỷ thổ bị ốm chết nhiều, ngày dần tan rã. Lúc Vũ Văn Tín đến đồn Phong Thu, thì chúng đã bỏ đi trước rồi. Lũ Tín thu được súng lớn, súng nhỏ, gươm trống bỏ sót lại, bèn phái uỷ Chánh đội trưởng suất đội Bùi Văn Hương quản lĩnh 100 vừa trấn binh vừa thổ binh đóng giữ. Rồi lập đồn ở chỗ cách sông, chia quân phòng giữ. Ngay lúc ấy, người nhà Thanh đệ văn thư đến, yêu cầu ta đợi mươi ngày, hai bên sẽ dàn xếp hoà hảo, không nên vì cớ một tên Điêu Doãn An mà động binh, nhọc dân. Bắc Thành cứ đem việc tâu lên.


    Vua dụ : “Người Thanh trước đây lầm nghe lời Điêu Doãn An thỉnh thác, lại thấy đồn binh ta yếu, nên chực cầu may làm bậy. Đến lúc nghe đại binh ta tiến lên bèn nao núng rút lui. Nay xem lời lẽ trong công văn, ý muốn giảng hoà, thì ta cũng nên nhân dịp này dập tắt việc ấy đi cho dân được yên há chẳng phải là kế hay làm yên bờ cõi. Vậy hạ lệnh cho Đặng Văn Thiêm tư ngay cho lũ Vũ Văn Tín : phàm những khí giới nghi tượng bắt được của quân Thanh, đều đưa trả hết. Không cần phải họp mặt với họ, lập tức rút hết biền binh về trấn, khỏi đến nỗi dầm dãi lam chướng lâu ngày. Hôm nào Đặng Văn Thiêm, Nguyễn Đình Phổ tiếp được lũ Tín về đến trấn thì lập tức rút cả về thành số lính và voi mà trước đã phái đi. Sau đó người nhà Thanh trả lời thế nào, sẽ tuỳ tiện mà đáp lại, cũng xong việc được.


    Bảo hộ Chân Lạp kiêm quản đồn Châu Đốc là Nguyễn Văn Tuyên tâu : Năm Minh Mệnh thứ 8 [1827] nguyên bảo hộ Nguyễn Văn Thuỵ tự xuất của nhà ra dựng kho công, bỏ sót không biên vào sổ sách. Vua bảo bộ Công “Nguyễn Văn Thuỵ năm trước tự tiện làm những nhà kho, Trẫm nghĩ cũng là việc công, nên tạm tha tội cho, ban cho 1.000 quan tiền, đó là ơn riêng. Sau đó [Thuỵ] lại thói quen cũ, tự tiện dựng kho thóc, thì ngày thường tự ý làm bậy, chẳng phải chỉ là một việc mà tựu trung không khỏi có cái tệ mượn việc công làm việc tư. Đáng lẽ phải chiếu luật trừng trị. Nhưng [Thuỵ] đã chết rồi nên miễn cho”.


    Rút lính phòng biên Gia Định về.


    Tổng trấn Lê Văn Duyệt quản lý biền binh trấn thành hạt. Nguyễn Văn Quế tâu : “Nước Chân Lạp bắt được bọn Bồn Nha Tiên, bộ thuộc của kẻ bề tôi làm phản là ốc Nha Chiết Ma, đưa sang cho ta xét hỏi. Tên ấy nói : trước kia, Chiết Ma phản nước Lạp, chạy sang nước Xiêm, kể lể vua Phiên ngu tối hoang dâm, lòng dân oán ghét, nó xin người Xiêm đem quân đưa Nặc Yêm, Nặc Giun về Bắc Tầm Bôn ((1) Tức Bát Tam Băng.) để bọn ấy xúi Lạp làm loạn, trước lấy phủ Bồng Suy, sau đánh thành Nam Vang để mưu việc phế lập. Người nước Xiêm đã nghe theo. Đến lúc được tin quan quân ta đã trấn áp thì rút lui chỉ để lại có 200 lính Xiêm giữ Bắc Tầm Bôn. Vả nay việc làm chay của vua Phiên chưa xong, quân Xiêm chưa rút về hết nên [bọn thần] đã lưu 600 biền binh đóng đồn ở Nam Vang, còn đều rút về”.


    Vua dụ : “Tờ tâu trước nói thám tử báo tin rằng Xiêm đem quân đến lấn, sự tình to tát biết nhường nào, nay lại nói quân Xiêm nửa đường đã rút về thì còn ra sự thể gì nữa ! Nghiệm ra trước sau tâu báo, đều là những tin thám tử nghe hóng nghe hơi ở nơi đường sá toàn chuyện hão huyền cả, thì can gì phải làm khó nhọc quân ta mãi ? Việc cầu Phước làm chay là tục mọi rợ, họ muốn làm gì thì cứ làm, ta cần gì phải đợi ? Nếu họ cứ cầu Phước hết năm này qua năm khác, tháng này qua tháng khác thì cũng đợi mãi sao ? Còn như Bắc Tầm Bôn là thuộc cõi nước Xiêm, quân Xiêm đóng đồn, cũng là để giữ nước. Nay ta nhân thấy thế, lưu quân lại đóng há chẳng tỏ rõ với người là mình yếu ư ? Hoặc giả họ thấy ta lưu quân lại, sinh ngờ vực mà thêm quân đóng lâu, thì quân ta cũng cứ đóng mãi đấy để án ngữ ư ? Nếu bảo rằng quân ta rút về, sợ có việc gì xảy ra không ngờ, vậy thì cả nước Chân Lạp lại không địch nổi 200 quân Xiêm hay sao ? Những lý do này không thể không phân tích rõ ra để bảo cho biết. Vậy, ngày tiếp được dụ này phải rút hết quân về”.


    Tham hiệp Quảng Nam Nguyễn Đức Hội bị tội, phải cách chức. Hội cư xử trong gia đình không có khuôn phép. Người vợ bị đuổi, vào kêu ở Kinh. Đình thần bàn rằng Hội là người giữ việc nuôi dạy dân mà không cảm hoá được một người đàn bà, làm nhục cả đám quan thân ((1) Quan thân : quan là mũ ; thân là dải áo. Quan thân chỉ vào bọn làm quan.). Xin giải chức giao trấn xét hỏi. Hội cuối cùng bị cách chức, phái theo bộ Lễ sai phái gắng sức làm việc chuộc tội.


    Dùng Hình bộ thự Lang trung Lê Dục Đức làm Tham hiệp Nam Định.


    Bộ Lễ tâu : “Từ trước đến nay các hoàng tử, các tước công cứ đến này sinh nhật của mình đem lễ vật đến điện Phụng Tiên cúng, ý cũng cho là lễ do ở điều nghĩa mà ra, tình lấy cốt nhục làm trọng. Đó là lễ thường của người trong nhà thì nên như thế. Còn như điển lễ của nhà nước thì phải thống thuộc vào bậc tôn, thì sự hơn kém tất nhiên có khác. Hơn nữa, con cháu như châu chấu ((2) Châu chấu : chữ Hán là chung tư, Kinh Thi có câu : “Chung tư vũ sằn sằn hề”, ý nói con cháu bà hậu phi nhiều lắm.) đầy đàn, như hạt tiêu ((3) Hạt tiêu : chữ Hán là tiêu thực, Kinh Thi có câu : “Tiêu tiêu chi thực phồn diễn doanh thăng” nghĩa là hạt tiêu kia nhiều đầy thưng.) đầy đấu, nếu một người cứ đến sinh nhật, lại đem lễ đến cúng, thì sợ Tôn miếu là chỗ tôn nghiêm, không nên làm cái việc gần như lảm nhảm ấy. Vậy xin từ nay các hoàng tử các tước công gặp sinh nhật không phải đem lễ đến cáo yết, để tỏ ý chí kính”. Vua theo lời bàn.


    Kinh sư mưa. Phủ doãn Đoàn Khiêm Quang viết bài dâng lên. Vua bảo Nội các rằng : “Ta so ngày mưa tính ngày tạnh, lúc nào nghĩ cũng đến việc làm ruộng. Gần đây, luôn được mưa thuận đúng lúc thế mà Kinh doãn không được một tờ giấy tâu, là cớ sao ? Nay, viết bài chỉ là việc tầm thường, chẳng qua dùng chữ thay lời nói mà thôi. Còn đến việc nông quan hệ lớn đến đời sống của dân, há nên làm qua loa cho xong việc như thế ? Sai trói Phủ doãn ở triều đường bên tả, quở trách và phạt trượng. Lại vì Khâm thiên giám là bọn Hoàng Công Dương, Đinh Xưởng đo tính mực nước mưa, phân tấc không được phân minh, phạt mỗi người 6 tháng lương.


    Vua sai bảo bộ Lễ : “Gần đây, chốn kinh kỳ được mưa, thấm khắp ruộng đất, và Sơn Nam ở Bắc Thành cũng có mưa luôn. Thế mà Thanh, Nghệ, Ninh Bình lại tâu báo vẫn còn mong mưa. Những hạt ấy ở vào quãng giữa nam bắc, lẽ nào mưa lại không tới ? Chỉ có chưa biết hiện nay đã được thấm nhuần chưa. Bộ ngươi nên tư hỏi xem”.


    Ninh Bình làm lễ cầu mưa 2, 3 lần, tiền chi mua lễ phẩm, chỉ hạn có 1 lần. Vua nghe biết, hạ lệnh thông dụ các địa phương : “Từ nay có làm lễ cầu mưa đến 2, 3 lần. Chuẩn cho mỗi lần đều được chiểu lệ chi tiền, không được giảm bớt lễ phẩm, cốt để lòng thành được cảm thấu đến trời”.


    Chuẩn định : “Từ nay, phàm biền binh các hạt Gia Định, Bắc Thành và Thanh Nghệ, có chỉ triệu đến Kinh thao diễn hoặc sai phái việc công, bất cứ lưu lại ở Kinh lâu hay chóng, cứ ngày được trả về đến thành trấn thì quản vệ quản cơ, suất đội, tri bạ, vẫn lưu lại ở hàng ngũ đồn thú. Còn suất thập đến binh lính thì cho chiểu theo thể lệ Kinh binh, được về quê nghỉ ngơi một tháng, hết hạn lại theo ban thứ trở về quân ngũ, (từ trước đến nay, Kinh binh đi thú các địa phương khi rút về đến Kinh, theo lệ được về quê nghỉ ngơi một tháng).


    Thống chế lĩnh ấn bảo hộ nước Chân Lạp kiêm quản đồn Châu Đốc là Nguyễn Văn Tuyên chết. Vua cho 100 lạng bạc, 3 cây gấm Tống.


    Thanh Hoa, Ninh Bình, Bắc Ninh gạo kém. Cho hoãn thuế vụ hạ năm nay và cho để số thóc gạo thu dở năm trước đến vụ đông thu một thể. Lại cho một nửa thuế được nộp thay bằng tiền. Các quan trấn vì kỳ hạn thu thuế sắp hết, mới tâu xin hoãn thuế, đều bị phạt 6 tháng lương.


    Các hoàng tử hoàng nữ thấy mùa hạ nóng nực nhiều người bị ốm, xin tự xuất thuốc men, sai thầy thuốc đặt nhà phát thuốc không lấy tiền ở những chỗ đông đúc trong kinh thành để phát thuốc cho người ốm. Vua cho làm.


    Phủ Trấn Ninh thuộc Nghệ An, có người lính đội Ninh Thuận là Hồ Công Thuộc, nhân lúc thao diễn bắn bỡn một phát súng, làm người trúng phải đến nỗi bị chết. Quan trấn cho là ngộ sát ((1) Ngộ sát : không định giết người mà lầm lỡ thành ra giết người.) tâu xin lượng giảm. Vua dụ : “Tên phạm này nguyên trước can án nặng đã tha tội chết cho làm binh, lại còn dám đương lúc thao diễn, bắn súng giết người, thì cái tính ác nó vẫn không chừa. Súng không phải là đồ chơi, đồn trại không phải là chỗ đùa bỡn, sao được lấy cớ lầm lỡ vô ý mà cầu mong khoan giảm. Vậy khép vào tội chém được giam để đợi chỉ”.


    Đặt đội lính coi kho thóc Hà Tiên, gọi là độ An thương. Đội hạn là 50 người, sai chọn lấy ở thôn Tân Thịnh gần tiện đấy hợp với số lính đội An khố cũ ở Long Xuyên đem sung bổ vào, còn thiếu thì mộ thêm.


    ác man ở Quảng Nam lén xuống nguồn Chiêu Đàn giết hại nhân dân, đốt nhà, cướp của rồi bỏ đi. Hiệp trấn Phan Thanh Giản được tin báo, lập tức đem 200 biền binh thuộc trấn, 5 thớt voi, và mang theo Phó vệ uý đóng giữ đài An Hải là Lê Văn Hiếu, tiến thẳng đến đồn nguồn Chiêu Đàn tuỳ cơ dò bắt. Việc tâu lên, vua sai Vệ uý ở Kinh tượng Nhất vệ là Lê Văn Thuỵ, và thự Phó vệ uý ở Long võ tiền vệ là Phạm Văn Tường chạy ngựa trạm đi điều thêm binh và voi cùng theo đi tiễu. Lại phái thị vệ Lê Kim Trợ, Tống Viết Bình theo đi đánh giặc, và cho viên bị cách là Phạm Văn Điển cũng theo đi làm việc chuộc tội. Thưởng cho Thanh Giản cùng chánh Phó vệ uý mỗi người 15 lạng bạc, lũ Kim Trợ mỗi người 3 lạng. Những biền binh dự đi trận ấy được thưởng một tháng tiền lương.


    Sai thự Lại bộ Hữu thị lang Hoàng Sĩ Quang quyền biện việc trấn Quảng Nam, Phó vệ uý ở Ban trực Trung vệ dinh Thần sách Phạm Hữu Tâm, đến hai đài Điện Hải, An Hải, hiệp đồng với Nguyễn Văn Lượng chia phái biền binh phòng giữ.


    Vua được tin chỗ tiếp giáp hai phủ ứng Hoà (thuộc Sơn Nam), Quốc Oai (thuộc Sơn Tây) thuộc Bắc Thành có nhiều giặc cướp, dụ cho Tổng trấn Phan Văn Thuý xét hỏi tình hình hiện tại tâu lên. Thuý tâu : “Chỗ ấy đều là rừng rậm. Tù phạm xổng trốn, phần nhiều ẩn núp ở đấy. Mỗi khi sai quân bộ biền đến canh phòng chặn bắt thì cứ bị dân vu cho là bắt người cướp của nên rồi lại rút về, thành thử quân trộm cướp vẫn thường thường thừa cơ sơ hở lén lút nổi lên”.


    Vua dụ : “Nhân tình ai chẳng muốn yên ; nếu bộ biền quả thực chịu dẹp giặc, yên dân thì đâu đến nỗi động một tí bị dân kêu ca. Chỉ vì những kẻ được phái đi, phần nhiều mượn tiếng đi tuần bắt giặc, làm bừa những việc phi pháp. Gần đây như việc Nguyễn Văn Trung dung túng cho quân đi cướp của cải cũng bảo là dân vu cho ư ? Một vài đưa điêu ngoan tố bậy thì tự đã có phép trừng trị. Nếu cứ vin vào cớ ấy mà xu tay áp đứng xem phỏng có nên không ? Nay nên nghiêm cấm những bộ biền được phái đi, phải thận trọng không được sinh sự, nhiễu dân, là hay hơn cả”.


    Sửa bờ hồ, tường bao ở đàn Xã Tắc.


    Định lệ tâu báo thời khắc xe vua ra đi cáo yết về các ngày lễ tiết (2 lễ hưởng mùa hạ, mùa thu, định vào canh năm, khắc thứ 8, hai lễ hưởng mùa đông, mùa xuân và lễ hợp hưởng vào canh năm, khắc thứ 9 ; các tiết Thánh thọ, Vạn thọ, mùng một tết, mồng 5 tháng 5, đều dùng vào mờ sáng. Một ngày trước hôm lễ Giao, ngự giá đến Trai cung theo giọt lậu ban ngày định vào lần chuyển thứ nhất. Ngày tế Giao, từ Trai cung đến đàn Nam giao làm lễ, định vào canh năm, khắc thứ 6, ngày cày ruộng Tịch điền, từ cung Khánh Ninh đến ruộng, cũng vào canh năm khắc thứ 9).


    Vua ngự ở Đông Các, dụ các hoàng tử rằng : “Đến giờ theo lệ định, khi các con vào chầu phải dâng trình sách vở giảng tập để ta hỏi thử. Chẳng qua chỉ lấy đó làm chương trình hạn định. Các con càng phải xét lại ở mình lấy sách làm thầy trọng tình hữu ái, bỏ ý riêng tư không một việc nào, không một ngày nào không phải là học. Ngày sau con lên nối ngôi thì được có dân, được có người, các con làm thân vương, cũng lấy trung hiếu giữ trọn tiếng tốt, cái gì chẳng phải bởi học mà ra?”. Vua lại quay bảo Nội các Hà (Tông) Quyền, và đình thần đương phiên trực là Trương Minh Giảng : “Phàm người biết lo nghĩ thì lòng thiện sinh ra. Lũ ngươi nên biết kính cẩn giữ mình, không nảy xa vọng thì sẽ giữ được tiếng tốt mãi mãi”. Các hoàng tử cùng lũ Quyền đều lạy, vâng lĩnh lời dạy.


    Mồng một, tháng 7, mùa thu, làm lễ Thu hưởng.


    Mở khoa thi Hương ở các trường Thừa Thiên, Nghệ An, Gia Định.


    Sai Thượng thư bộ Hình Lê Đăng Doanh làm chủ khảo trường Thừa Thiên, thự Hữu tham tri bộ Hình Phan Bá Đạt làm phó chủ khảo ; thự Hiệp trấn Thanh Hoa Nguyễn Đăng Giai làm chủ khảo trường Nghệ An, thự Hiệp trấn Hải Dương Hoàng Tế Mỹ làm phó chủ khảo ; thự Hữu tham tri Công bộ Nguyễn Tú làm chủ khảo trường Gia Định, thự Hiệp trấn Quảng Bình Thân Văn Quyền làm phó chủ khảo. Lấy đỗ 51 cử nhân.


    (Trường Thừa Thiên 14 người : Nguyễn Hàm Ninh, Lê Khánh Trinh, Mai Công Bình, Trần Văn Đạo, Phạm Huy, Nguyễn Văn Chấn, Đồng Thạc, Nguyễn Ba, Lê Đức Quang, Lê Bá Thận, Nguyễn Tự, Nguyễn Bá Nghi, Nguyễn Đức Chính, Nguyễn Văn Thịnh.


    Trường Nghệ An 18 người : Đinh Danh Trạc, Phan Đình Ban, Ngô Trí Thục, Nguyễn Phan Cung, Phan Kim Xuyến, Nguyễn Duy Cát, Hồ Mậu Đức, Lê Trí Trạch, Phan Doãn Nhạ, Nguyễn Xuân Thức, Đoàn Danh Dương, Cồ Danh Đán, Trần Hậu Tiết, Nguyễn Huy Thưởng, Phạm Đình Đĩnh, Nguyễn Duy Thuật, Nguyễn Kim Cảnh, Nguyễn Ngọc Chấn.


    Trường Gia Định 19 người : Đinh Văn Huy, Lương Quốc Quang, Hoàng Mẫn Đạt, Hồ Tiến Đức, Vũ Doãn Cung, Nguyễn Đồng Khoa, Nguyễn Khắc Điều, Bùi Minh Thành, Phan Đồng Văn, Nguyễn Văn Chiêm, Vũ Thế Lộc, Phan Vĩnh Định, Lê Trung Tín, Vũ Thành Phong, Nguyễn Khắc Tuy, Trần Văn Tín, Nguyễn Đức Dụ, Nguyễn Văn Trị, Nguyễn Quang Khuê).


    Đến khi những quyển văn thi đỗ, đưa lên bộ duyệt lại thì 2 trường Thừa Thiên, Gia Định có 11 người bị đánh hỏng hoặc bị giáng xuống : (2 người trường Thừa Thiên : Lê Đức Quang, Phạm Huy, ông cha đều làm quan bản triều, thế mà mặt quyển chỗ “cung khai tam đại”, biên lầm là quan chức đời Lê do đấy bị xoá bỏ tên ở sổ cử nhân. 9 người trường Gia Định là Hồ Tiến Đức, Nguyễn Khắc Điều, Phan Đồng Văn, Nguyễn Văn Chiêm, Vũ Thế Lộc, Nguyễn Khắc Tuy, Nguyễn Đức Vụ, Nguyễn Văn Trị, Nguyễn Quang Khuê, vì văn kém, giáng xuống hạng tú tài).


    Trường Nghệ An 2 người bị đổi thứ tự (người đỗ thứ 4 là Nguyễn Phan Cung, văn viết tầm thường bị giáng xuống thứ 12. Người đỗ thứ 12 là Cồ Danh Đán văn hay hơn, nhắc lên thứ 4).


    Quan trường và các quan Quốc tử giám đều bị giáng bị phạt có nặng nhẹ.


    Lê Đức Quang, Phạm Huy đã bị truất, lại đi kêu rằng việc khai lầm quan chức của ông cha là do quan Quốc tử giám chỉ bảo. Vua sai đánh mỗi người 80 trượng nhưng lại cho vào hàng cử nhân, và cho đến kỳ thi Hội nếu ở vào hạng liệt thì lại bị cách tuột cả. Đến lúc thi Hội, hai người này đều không trúng cách, lại bị truất cả cử nhân.


    Đốc học Nghệ An Hoàng Quốc Bảo, vì kỳ thi vừa rồi đệ nộp danh sách những quyển thi nhiều chỗ có vết hoen ố dây mực nên bị phạt.


    Vua nhân đó dụ bộ Lễ rằng : “Tự trước đến nay, điều lệ quy thức thi hương, đã chuẩn định cho thi hành. Duy học quan các nơi phần nhiều già yếu, chưa quen việc lại không có ty thuộc làm giúp, nên mỗi khi đến kỳ thi việc thu quyển thi làm danh sách, không khỏi thuê học trò, hay là giao cho con em trong nhà làm giúp cho nên những kẻ bậy bạ, làm lạo thảo giữ sao cho khỏi có sự tệ hại ? Phép thi nghiêm ngặt há nên noi theo cẩu thả. Từ nay đến kỳ thi Hương quan trấn phải nên phái trước những viên rỗi việc cùng các lại dịch hội đồng với học quan chiếu theo quy thức mà làm. Phàm quyển thi của học trò, những chỗ ghi trường, đề tên, không được để một tý vết tích gì. Số mục danh sách cùng với họ tên, tuổi và quê quán, phải xét cho tường tận đích xác rồi cùng ký tên vào danh sách. Quan trấn phải duyệt lại xét thực đóng ấn triện vào, rồi do học quan chuyển đệ. Nếu làm không chu đáo còn sinh mối tệ gì khác, thì bắt tội cả”.


    Định lại điều lệ phép thi Hương, thi Hội.


    Phàm các kỳ thi Hương, thi Hội ở cửa trường hay trong vi, hễ khám bắt được người nào mang theo giấy tờ có chữ đích thực là chép văn cũ hoặc ghi nghĩa sách, thì người phạm tội phải gông một tháng ; ngày mãn hạn, đánh 100 trượng rồi tha. Nếu là cử nhân, giám sinh, tú tài lại bị xoá bỏ chân đỗ bắt về làm dân chịu sai dịch vĩnh viễn không được đi thi nữa, và không được vào làm việc ở các nha môn, các quan trong Kinh ngoài trấn không ai được bảo cử cho. Biền binh nào khám bắt được việc gian ấy, sẽ được thưởng 3 lạng bạc. Nếu đương trường khám thấy ở lều chiếu, hòm, tráp hoặc khăn gói, hay khăn trầu, để lẫn giấy có chữ, xét ra không phải giấy chép nghĩa sách và văn bài đi thi thì lập tức đánh 40 roi, rồi cho vào trường làm văn.


    Bổ Tương Viết Suý làm Binh mã phó sứ ty Hộ thành binh mã, Nguyễn Văn Xướng làm Phó vệ uý vệ Giám thành.


    Sai bộ Công vẽ mẫu tượng đá quan văn, quan võ, lính thị vệ, voi đá, ngựa đá để tư đưa Quảng Nam, Thanh Hoa chế tạo (tượng quan văn, quan võ mỗi thứ 1 đôi, 6 tượng thị vệ, đều cao 3 thước 6 tấc ; voi đá 2 con, mỗi con cao 4 thước 1 tấc ; ngựa đá 2 con, mỗi con cao 2 thước 7 tấc). Khi chế tạo xong, đệ về Kinh, vua sai đem bày ở lăng Thiên Thụ ((1) Thiên thụ : lăng Gia Long.).


    Khai mỏ diêm tiêu ở Nà Ngõa, mỏ chì ở Làng Nho trấn Thái Nguyên (Hai mỏ đều thuộc huyện Đồng Hỷ. Thuế diêm tiêu mỗi năm 200 cân, thuế chì mỗi năm 600 cân).


    Tham hiệp Bắc Ninh Phan Thế Chấn chết, điều bổ Tham hiệp Cao Bằng Doãn Văn Xuân làm Tham hiệp Bắc Ninh.


    Dựng nhà dãy dài ở bờ bên sông Ngự Hà (182 gian), sai bộ Công chia cấp cho thợ các cục Vũ khố, Mộc thương, thuộc Nội vụ phủ đến ở. Còn những nhà lợp ngói ở 2 bên bờ nam bờ bắc sông thì giao cho quản vệ Vũ Văn Giải và Nguyễn Trọng Tính phái lính canh giữ.


    Định lại quy thức cột cờ và kỳ đài các địa phương (Mặt trước kỳ đài Gia Định và Bắc Thành xây theo hình thế thành. Các nơi khác cũng thế. Mặt sau rộng 5 trượng, bên tả bên hữu đều rộng 4 trượng 1 thước, cao 8 thước. Cột cờ : đoạn dưới dài 3 trượng 7 thước 5 tấc, đoạn trên dài 2 trượng 7 thước ; trừ chỗ giáp nhau mất 6 thước 5 tấc, tất cả còn cao 5 trượng 8 thước).


    Kỳ đài các trấn thành mặt sau rộng 3 trượng 2 thước, bên tả bên hữu đều rộng 2 trượng 7 thước, cao 6 thước. Cột cờ : đoạn dưới 3 trượng 2 thước 5 tấc, đoạn trên 2 trượng 3 thước ; trừ chỗ giáp nhau mất 5 thước 65 tấc, tất cả còn cao 5 trượng. Các kỳ đài ở Trấn Hải, An Hải, Điện Hải và Biện sơn cũng theo như thế.


    Kỳ đài phủ thành mặt sau rộng 3 trượng, bên tả bên hữu đều rộng 2 trượng 5 thước, cao 5 thước. Cán cờ đoạn dưới 3 trượng 1 thước 5 tấc, đoạn trên 2 trượng 2 thước 5 tấc, trừ chỗ giáp nhau mất 5 thước, tất cả còn cao 4 trượng 9 thước. Kỳ đài các huyện thành mặt sau rộng 3 trượng, bên tả bên hữu đều rộng 2 trượng 5 thước, cao 4 thước. Cột cờ : đoạn dưới 3 trượng 5 tấc, đoạn trên 1 trượng 9 thước ; trừ chỗ giáp nhau mất 4 thước 5 tấc, tất cả còn cao 4 trượng 5 thước. Kỳ đài ở thành Vĩnh Ninh và các đồn Định Hải, Tĩnh Hải, đều giống thế.


    Chế 2 con dấu để đóng làm tin vào chì và thiếc (làm bằng sắt tốt, mỗi cái ngang 5 phân, dài 1 tấc, 1 cái khắc 2 chữ “quan diên” ((1) Quan diên : chì của công.), 1 cái khắc 2 chữ “quan tích”((2) Quan tích : thiếc của công.). Sai Nội vụ hội đồng với bộ Hộ, thị vệ đem những chì thiếc hiện chứa ở Vũ khố, đóng dấu vào trên mặt tấm chì, tấm thiếc, và sau này có thu chì thiếc vào kho thì cũng đóng dấu như thế. Sau đó lại làm 10 con dấu khác chỉ khắc có 1 chữ “quan” ( ) (sau lại đổi là chữ công) ( ) để dễ đóng được sâu và rõ nết hơn.


    Sau lũ Hàn lâm Thừa chỉ Trương Văn Uyển và thị vệ Tôn Thất Bật đáp thuyền Bình hải đi công cán ở Hạ Châu ((3) Tức Xingapo.).


    Khai phục cho viên bị cách là Hồ Hữu Thẩm làm Hàn lâm viện Biên tu.


    Vua dụ bộ Lại : “Hỗ Hữu Thẩm tuy vì ngu muội, mắc nhiều tội lỗi, song tính cũng hiền lành mộc mạc, không đến nỗi đã là người bỏ đi, nên liệu bổ cho một chức quan, để tỏ ý ta thương nhớ đến tôi tớ cũ ngày xưa”. Nguyễn Khoa Minh tâu : “Thẩm nay tuổi già, không kham được chỗ nhiều việc, có điều y là người hơi có văn học giá cho làm việc ở nơi văn hàn thì tưởng cũng thích hợp”. Vua bèn bổ cho Thẩm chức này.


    Quan thành Gia Định tâu : “Từ trước đến nay, lệ khoá thanh tra ở thành hạt, những phái viên, khi đi, được đi ngựa trạm ; khi về thì liệu điều lính coi kho ở trấn thành theo đường bộ, đem sổ sách đến Kinh đệ nộp, đường xa, trèo đèo lội suối, rất là khó nhọc. Nay xin chiểu theo lệ nộp sổ sách đinh điền, lấy ngựa trạm đệ đi ; phái viên khi trở về cũng cho đi ngựa trạm”. Vua chuẩn y và cho ghi làm lệnh.
  • Chia sẻ trang này